|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
I.11 Chú giải chuyện ngạ quỉ CON VOI Người dẫn đầu cưỡi trên lưng bạch tượng’ Vị Đạo sư đă thuật lại chuyên kể này đang khi ngài c̣n lưu lại trong khu rừng Jeta nói về hai ngạ quỉ trước kia là các vị bà la môn. Người ta kể lại rằng có một vị trưởng lăo tên là Samkicca mới lên bảy tuổi đă đắc đạo quả A-la-hán khi c̣n đang lưu lại trong sảnh đường xuống tóc và c̣n là một Sa di sống chung với ba mươi tỳ khưu trong một khu rừng thanh vắng. [54] Sau khi đă bảo vệ những tỳ khưu này thoát khỏi cái chết gần kề vào tay năm trăm tên cứơp và ngài đă giáo hóa ho, rồi cho họ được phép xuất gia. Thế rồi ngài đến gặp Đức Thế Tôn.[258] Ngài diễn giải Phật Pháp cho các tỳ khưu và vào ngày cuối cùng họ đă đắc đạo quả A-la-hán. Thế rồi khi trưởng lăo Samkicca đă đủ tuổi và thọ cụ túc giới ngài đă đến thành Bernares với năm trăm tỳ khưu và lưu lại trong thành Isipatana[259]. Dân chúng tụ tập lại trước sự hiện diện của vị trưởng lăo, nghe ngài diễn giải Phật Pháp và với ḷng sùng kính, họ đă chia thành nhiều nhóm trên đường phố, tổ chức bố thí cho những người mới tới.[260] Có một thiện nam đă thôi thúc dân chúng bố thí vật thực thường xuyên và chúng sanh đă làm như vậy tùy theo khả năng của ḿnh. Bấy giờ vào thời đó trong thành Bernares có một vị bà la môn theo tà kiến, người này có hai con trai và một con gái. Con trai cả lại kết thân với thiện nam đó. Thiện nam này đă dẫn anh ta đến gặp vị trưởng lăo Samkicca và ngài đă diễn giải Phật Pháp cho anh ta, nhờ đó tâm của anh ta đă trở nên mềm mại. Thế rồi thiện nam nói với anh ta “Bạn nên bố thí vật thực thường xuyên cho một tỳ khưu.’ ‘Theo truyền thống người bà la môn không bố thí thường xuyên vật thực cho các sa môn là thành viên ḍng tộc Thích ca, thế nên tôi không làm việc này được.’ ‘Thế bạn lại không bố thí[261] vật thực cho cả ta nữa hay sao?’ thiện nam đó hỏi lại, “Làm sao tôi lại không làm thế,’ cậu trả lời, ‘trong trường hợp đó xin hăy bố thí cho một tỳ khưu những ǵ anh bố thí [262] cho tôi.’ ‘Tốt lắm,’ cậu ta đồng ư và ngày hôm sau khi vẫn c̣n sớm anh ta đă đi tới thiền viện, kiếm một tỳ khưu và rồi cho ông ta ăn. Thời gian trôi như vậy người em trai và em gái của anh ta nhận ra hạnh thiện nơi các vị tỳ khưu, lắng nghe Phật Pháp và t́m được niềm tin nơi giáo lư của Đức Phật, họ sung sướng thực hiện phước báu. Quả thật ba người đă bố thí tùy theo khả năng của ḿnh, để tỏ ḷng tôn kính, sùng mộ và tôn trọng các vị sa mônvà các vị bà la môn. Tuy nhiên cha mẹ của họ lại không có niềm tin và không tỏ ḷng tôn kính thiếu kính lễ đối với các sa mônvà các vị bà la môn và họ không quan tâm ǵ đến phước báu cả. Họ hàng nội ngoại lại yêu cầu gả chồng cho cô con gái trẻ tuổi của hai ông bà, và bắt cô phải lập gia đ́nh với người cháu họ ngoại. [55] Nhưng cậu ta đă lắng nghe Phật Pháp trước sự hiện diện của trưởng lăo Samkicca, ḷng tràn đầy xúc động, cậu lại thường xuyên với tư cách là người xuất gia đă đến nhà mẹ ḿnh để dùng cơm. Mẹ cậu ấy đă ra sức dụ dỗ cậu đồng ư lấy người em gái bà con bên ngoại[263]. Chính v́ vấn đề này cậu đă rất bất măn và đến gặp vị đạo sư của ḿnh nói rằng, “Bạch thầy, con muốn hoàn tục, xin thầy chấp thuận.’ Đạo sư nhận thấy cậu có đầy triển vọng trở thành một đồ đệ (savaka) bèn nói rằng, ‘Hỡi sa di, xin đợi cho một tháng được không’ ‘Thôi được’ cậu đồng ư và khi một tháng trôi qua cậu ta đến gặp đạo sư và thưa lại với ngài cùng một cách như trên. Đạo sư lại bảo, ‘Xin đợi thêm hai tuần nữa.’ Khi hai tuần đă trôi qua và cậu ta lại đề nghị với đạo sư giống như lần trước. ‘Xin đợi thêm một tuần nữa.’ ‘Tốt thôi’ Sa di lại đồng ư. Trong tuần lễ ấy nhà của bà cô Sa di đă bị băo đánh sập. Khi một trận mưa băo lớn đă thổi bay mái tranh và những bức tường cũ[264] và người bà la môn và vợ ông ta, hai con trai và con gái đă chết v́ nhà sập đè phải. Trong số họ, người ba la môn và vợ đầu thai vào cơi ngạ quỉ trong khi đó hai con trai và cô con gái được đầu thai vào cơi Chư Thiên. Trong số các vị chư Thiên này người con trai cả tái sanh trên lưng voi, người con thứ tái sanh trong chiếc xe lừa kéo và người con gái lại tái sanh nằm trên chiếc kiệu bằng vàng. Vợ chồng vị Bà la môn mỗi người cầm chiếc búa tạ bằng sắt khổng lồ và đánh nhau, họ lấy búa bổ nhau và tạo ra những vết thương sưng phồng lên, mỗi vết sưng phồng lên lớn bằng cái lu đựng nước khổng lồ xưng lên ở những vị trí họ bổ vào nhau, vết sưng nổi lên một đầu mụn nhọt rồi vỡ ra. Hai người đă làm vỡ những vết sưng của nhau và lâm vào khủng hoảng do nghi hoặc nhau, họ nguyền rủa nhau bằng những lời thô lỗ như, đồ uống máu uống mủ ấy vậy họ vẫn chưa thoả măn. Thế rồi lúc này Sadi vẫn chưa thoả măn, lại đến gặp đạo sư rằng, ‘Bạch thầy, con đă đợi thầy cho phép trong nhiều ngày, con muốn hoàn tục, xin thầy cho phép con.’ thế rồi vị đạo sư lên tiếng, ‘Hăy quay trở lại đây trước lúc mặt trời lặn vào trước ngày cuối tháng’ và hăy tới và dừng lại một chút thời gian ngay cạnh thiền viện Isipitana. Thế là vào lúc đó hai vị Chư Thiên đang đi, cùng với người em gái, trên cùng một con đường để nhập bọn cùng các yakkhas. Cha mẹ họ tay cầm gậy đuổi theo[265] và văng ra những lời thô lỗ. [56] họ có tướng mạo đen đủi, mái tóc rối bù gớm ghiếc tung bay[266] đă đè nặng lên họ, và giống như thân cây thốt nốt bị sấm chớp đánh cháy[267] dở dang. Máu chảy ra ở nhiều nơi và mủ cũng chảy thành giọt trên thân xác nhăn nheo – thật là một cảnh tượng kinh dị và ghê rợn. Thế rồi vị trưởng lăo Samkicca với oai lực thần thông đă khiến cho thầy Sa di nh́n thấy toàn bộ hai người đang đi theo sau, và sau đó nói rằng, ‘Này sadi ngươi có nh́n thấy họ đang theo nhà ngươi chăng?’ ‘Dạ có, thưa thầy con nh́n thấy ạ (sadi trả lời), ‘Thôi được hăy hỏi xem những nghiệp họ đă làm[268] , rồi thầy sadi bắt đầu hỏi từng người đi theo bắt đầu với người cưỡi trên lưng voi. Họ cho biết, ‘Lần lượt thầy sadi cũng hỏi cả những ngạ quỉ đi phía sau’ và nói với các ngạ quỉ bằng những đoạn kệ sau: 1. Người đi đầu cưỡi trên lưng bạch tượng, tuy nhiên người đi giữa ngồi trên xe lừa kéo, trong khi đó thiếu nữ đi đàng sau lại được khiêng trên chiếc kiệu bằng vàng. Họ toả sáng khắp mười phương thiên hạ. 2. Nhưng nhà ngươi, cầm búa trong tay với bộ mặt thiểu năo và nước mắt, thân ḿnh nứt nẻ và sây sát, các người đă thực hiện ác nghiệp nào khi c̣n sống nơi cơi chúng sanh đến nỗi phải uống máu mủ ghê tởm đến thế?’ 1. Ở đây đi đầu tiên (purato): đi trước tất cả mọi người. Bạch (setena): màu xám bệch. Người tiến lên phía trước (paleti): người đi tới. Tuy nhiên người đi ở giữa (majjhe pana): giữa người cưỡi trên lưng voi và người được khiêng trên kiệu. Người đi trên xe lừa kéo. (assatarīrathena): người tiến lên phía trước bằng xe lừa kéo. – đây chính là điều ta cần phân tích. Được dẫn đi (nīyati): được chở đi. Toả sáng hoàn toàn khắp mười phương thiên hạ. (obhāsayantī dasa sabbato disā): toả sáng khắp mười phương với tia sáng phát ra từ thân xác nàng và với tia sáng phát ra từ y phục và các đồ trang sức[269] v.v... 2. Tay cầm búa (muggarahatthapāṇino): những ai cầm búa (pāṇisu) trong tay (ở đây) được coi như là trong tay họ (hattha) cầm búa’; chính[270] ‘tay họ’ lại được thêm nghĩa với từ hattha do thực chất là thông thường lại biểu thị pāṇi là một dụng cụ làm bằng gỗ dùng để nện mịn đất v.v... [271] với thân h́nh nứt nẻ và sây sát (bhimapabhnnagattā): với thân h́nh sây sát và nứt nẻ do những vết búa nện vào. Giờ đây nhà ngươi phải uống máu mủ: pivātha=vivatha (metri causā). [57] Khi thầy Sadi hỏi như vậy xong, những ngạ quỉ đó đă trả lời bằng bốn đoạn kệ kể lại toàn bộ câu chuỵên như sau: 3. Người dẫn đầu cưỡi trên lưng voi, một con bạch tượng bốn chân, đó là con trai cả của chúng ta. Sau khi đă bố thí, nay con trai chúng ta cảm thấy sung sướng và hạnh phúc. 4. Người tiến bước ở giữa trên chiếc xe lừa kéo đang phi nước đại [272], là cậu con trai thứ hai của chúng ta, không bủn xỉn và là bậc thầy trong việc bố thí, giờ đây con trai ta đang toả sáng rạng rỡ. 5. Người con gái đi cuối cùng được cáng trên kiệu vàng, là cô gái với mắt nai hiền dịu. Nàng chính là con gái chúng ta và trẻ nhất trong ba đứa con chúng ta. Thoả măn với một nửa phần ăn nàng có được giờ đây con gái chúng ta vô cùng sung sướng và hạnh phúc. 6. Giờ đây trong quá khứ cả ba đă bố thí cho các vị sa mônvà các vị Bà la môn; với ḷng sốt mến; tuy nhiên chúng ta lại tỏ ra bủn xỉn và chế nhạo các vị sa mônvà các vị bà la môn. Các con ta đă bố thí và nay đă hoàn toàn toại nguyện trong khi đó bản thân chúng ta lại héo tàn giống như đám lau xậy bị cắt bỏ.’ 3. Ở đây người dẫn đầu (purato va yo gacchati): người đi trước những kẻ cùng đi. Một cách giải thích khác lại là yo so purato gacchati (người đàng trước) có nghĩa là người đi trước những người đi theo. Cưỡi trên lưng voi (kuñjarena): cưỡi trên lưng voi thế nên được gán cho tên gọi là kuñjana v́ cỗ tượng đó đă mang đến cho trái đất (kam) này sự huỷ diệt (jīrayati): hay nói cách khác v́ con voi đó đă xuất hiện nơi những thung lũng (kuñjesu) khiến cảm thấy sung sướng hạnh phúc, và con vật đă rảo quanh khắp nơi.[273] Trên lưng... một cỗ tượng (nāgena): con long tượng đó không có ǵ tiến lại gần được và lại có thể chinh phục[274] được hết mọi sự. Con vật có bốn chân (catukkamena): con vật có bốn chân cả thẩy. Con cả (jeṭṭhako): được sanh ra đầu tiên. 4. Được thắng bốn ách (catibbhī): tra bốn ách cho con lừa cái. Đang phi nước đại (suvaggitena):15 Di chuyển uyển chuyển và nhanh nhẹn. 5. Với mắt nai dịu dàng. (migamanddlocanā): với hai mắt diệu dàng mềm mại giống như mắt nai. [58] Với chỉ một nửa khẩu phần ăn của nàng: bhāgaḍḍhabhāgena = bhāgassa aḍḍhabhāgena (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) ư nghĩa ở đây chính là nàng đă loại bỏ một nửa đồ ăn nàng nhận được cho ḿnh. Sung sướng: sukhī = sukhinī; điều này được đưa ra ở đây có ư định làm méo mó giới tính. 6. Hay lăng mạ (paribhāsakā): sỉ nhục. Giờ đây họ tự thoả măn chính ḿnh (paricārayanti): họ thỏa măn các căn tuỳ ư thích bằng những khoái cảm chư thiên, hay tự vui chơi thỏa thuê (paricariyaṃ [275] kārenti) với đoàn tùy của ḿnh do những thù thắng đầy oai lực nơi những thiện nghiệp[276] họ đă đạt được. Trong khi đó chúng ta bị héo ṃn giống như đám lau sậy đă bị cắt bỏ. (mayañ ca sussāma naḷo va chinno) nhưng chúng ta lại phải héo ṃn giống như bụi lau sậy đă vị cắt phơi dưới ánh nắng mặt trời, chúng ta đă bị thiêu đốt và khô héo do đói khát và do cú đấm chí tử chúng ta (đă nhận được từ tay người khác). Khi họ đă làm rơ những ác nghiệp xấu xa, họ đă thông báo cho ngài biết chính họ là d́ dượng của Sa di đó. Khi biết được điều này vô cùng bối rối vị Sadi đă thốt lên đoạn kệ sau đây hỏi xem làm thế nào những kẻ bất nhơn[277] đó đă chiếm được vật thực đó. 7. Nhà ngươi dùng vật thực ǵ? Giường nằm của nhà ngươi ra sao?[278] Các ngươi tự nuôi sống bằng cách nào, các ngươi là ai mà lại mang bản chất xấu xa đến vậy, cho dù sống giữa vô vàn vô số tài sản dồi dào đến vậy các ngươi lại để duột mất[279] hạnh phúc và lúc này lại rơi vào cảnh khổ đến như vậy?’ 7. Ở đây nhà ngươi dùng vật thực ǵ? (kiṃ tumthākaṃ bhojataṃ): nhà ngươi ăn vật thực ǵ? Nhà ngươi dùng loại giường nào để nằm nghỉ? (kim sayānā): nhà ngươi nằm nghỉ trên loại giường nào? Một số người lại giải thích “việc ngủ nghỉ của các ngươi như thế nào?[280] các ngươi duy tŕ cuộc sống bằng cách nào?(kathaṃ su yāpetha): nhà ngươi duy tŕ cuộc sống bằng cách nào vậy? Một cách giải thích khác có thể là kathaṃ vo [281]yāpetha = kathaṃ tumhe yāpetha (một dạng ngữ pháp chuyển đổi), có nghĩa là nhà ngươi duy tŕ cuộc sống ra sao?Tự bản chất nhà ngươi quá xấu xa (su pāpadhamunino): tự bản chất nhà ngươi thuộc hạng người quá xấu xa. Cho dù có sống giữa một đống tài sản dồi dào (pahūtabhogesu): cho dù ở giữa một đống tài sản dồi dào và bao la. Dư thừa: anappakesu= na appakesu (một dạng ngữ pháp hoán chuyển); rất nhiều. Để lỡ mất cơ hội được hạnh phúc (sukhaṃ virādhāya): [59] để mất, bỏ mất cơ hội chiếm được hạnh phúc bằng cách bỏ qua không thực hiện những nghiệp thiện. Một số người giải thích là ‘bỏ mất cơ hội hạnh phúc (sukhassa virādhena)[282]. Ngày hôm nay nhà ngươi đă phải đau khổ khốn cùng (dukkh’ajja pattā): quả thật hôm nay, chính hôm nay, nhà ngươi đă phải đau khổ khốn cùng v́ phải tái sanh nơi cơi ngạ quỉ. Khi ngài Sadi hỏi như vậy, các ngạ quỉ đă thốt lên những đoạn kệ này để trả lời những điểm[283] ngài Sadi đă đặt ra: 8. Khi chúng ta đánh nhau, chúng ta sẽ phải uống máu mủ; chúng ta phải uống thật nhiều nhưng không đem lại bổ dưỡng ǵ, chúng ta không thể thoả măn. 9. Chính v́ thế quả thật những kẻ phàm phu không sẵn sàng bố thí cũng sẽ phải than văn sau khi chết[284] chúng sẽ trở thành cư dân nơi cơi diêm vương; những kẻ nào đă hiểu[285] và có được nhiều của cải lại không sử dụng, ngay cả không thực hiện bất kỳ phước báu nào. 10. Những người này đă phải trải qua đói khát ngay sau đó những ngạ quỉ đó cháy bỏng[286] đă bị thiêu đốt trong một thời gian lâu dài. Sau khi đă tạo ra những nghiệp gây đau khổ [287] cùng cực và khó chịu. 11. Quả thật những tài sản và lợi lộc tồn tại [288] quá ngắn ngủi [289]. Khi nhận ra những hay thay đổi chỉ là vô thường. Những người hiền đức nên tạo cho ḿnh nơi nương tựa vững chắc. 12. Những kẻ nào am hiểu điều này được coi la người sành sỏi Phật Pháp; lắng nghe lời dạy của các bậc Thánh A-la-hán họ không chây lười thực hiện bố thí. 8. Ở đây chúng ta không được nuôi dưỡng (na dhātā homa): chúng ta không được nuôi nấng. Không được thoả măn, toại nguyện. Chúng ta không thể thỏa măn: na ruccādimhase= na ruccāma (một dạng ngữ pháp hoán đổi): chúng ta không khoái cảm, ư nghĩa ở đây là chúng ta không được uống thoả thích. 9. Quả thật như vậy (icc’eva): chính bằng cách này. Những kẻ phải chết cũng đă ta thán (maccā paridevayanti): cả những kẻ khác, giống như chúng ta cũng đă làm những điều xằng bậy, họ cũng than văn và kêu gào năn nỉ. Không sẵn sàng thực hiện bố thí (adāyakā): bủn xỉn, keo kiệt, thiếu nhân đức quảng đại. Họ trở thành cư dân Diêm Vương. (Ymassa thāyino): tự bản chất họ phải cư trú nơi cơi ngạ quỉ, nơi trú xứ Diêm Vương được biết với tên gọi là cơi diêm vương. [60] Những kẻ nào được biết và có nhiều của cải. (ye te viditvā adhigamma bhoge): những kẻ nào được biết đến và chiếm hữu được nhiều của cải sẽ có được hạnh phúc tột đỉnh cả bây giờ và nơi kiếp sau nữa. Nhưng kẻ nào không biết tận dụng của cải cũng không thể thực hiện phước báu (na bhuñjane nā pi karonti puññaṃ): nhưng kẻ nào giống như chúng ta lại không tự tận dụng được điều đó, cũng như không thực hiện được nhiều phước báu bao gồm việc bố thí và bố thí cho người khác 10. Về sau những kẻ này phải trải qua đói khát (te khuppipāsūpagatā parattha): những chúng sanh này lại ước muốn được ăn uống chế ngự và đói khát ngay sau đó. Trên cơi ngạ quỉ và ở kiếp sau nữa. (những ngạ quỉ này đă nóng nẩy, v́ đă bị thiêu đốt trong một thời gian dài.(ciraṃ jhāyare ḍayhamānā) có nghĩa là những ngạ quỉ này đă bị nóng nẩy, do đă bị thiêu đốt trong một thời gian dài bằng ngọn lửa lương tâm và suy nghĩ. Quả thực chúng ta đă làm ác nghiệp, chúng ta không những chỉ làm ác nghiệp v.v... và do ngọn lửa khổ cực do đói khát tạo ra. Tạo ra khổ cực cùng quẫn. (dukkhudrayāni): kết thúc trong đau khổ. Thành quả cay đắng là họ phải chịu khổ cực cùng quẫn (anubhonti dukkhaṃ kaṭukapphalāni): sau khi đă làm ác nghiệp. Tạo ra chánh quả không được ước ao họ đă phải chịu cùng khổ đặc biệt nơi cơi hư mất [290] trong một thời gian dài. 11. Có đời sống ngắn ngủi (ittaraṃ): không tồn tại lâu dài, vô thường, phải chịu thay đổi. Ở đây mạng sống con người trôi đi quá nhanh (ittaraṃ idha jīvitam): cuộc sống chúng sanh ở trên cơi đời này trôi đi quá mau, nơi cơi chúng sanh này, trôi qua, biến mất, giới hạn và ngắn ngủi. V́ lư do này Đức Phật nói, “ những kẻ nào sống lâu cũng chỉ sống được khoảng một trăm năm là cùng hay lâu hơn một chút.’ Biết được các pháp mang tính chất thay đổi là vô thường (ittaraṃ ittarato ñatvā): biết chắc được bằng trí thông minh những tiện nghi đó như là giàu có và của cải v.v... và cả sanh mạng con người đều mau trôi qua, biến mất, tạm thời và không tồn tại lâu dài. Người hiền đức nên kiếm nơi nương tựa (dīpaṃ kayirātha paṇḍito): người hiền đức nên t́m kiếm nơi nương tựa, sự hỗ trợ, sẽ trở thành căn bản cho hạnh phúc và niềm sung sướng[291] nơi kiếp sau 12. Những kẻ nào am hiểu điều này (ye te evaṃ pajānanti): những kẻ nào thực sự [292] phát hiện được bản chất chóng qua của kiếp sống con người cũng như tài sản giàu sang. Họ không được sao nhăng bố thí luôn măi. Sau khi đă nghe lời giảng dạy của các vị thánh A-la-hán [293](sitvā arāhataṃ vaco) như thể các vị Đức phật v.v... Điều c̣n lại đă quá rơ ràng. Khi những ngạ quỉ đó đă giải thích những điểm vị sa di đă hỏi, chúng lên tiếng nói rằng, ‘khi ngài sadi nghe biết điều này, họ nói, ‘chúng ta quả là d́ dượng của ngài.’ Khi ngài nghe được điều này, vị Sa di vô cùng bối rối, xua tan mọi bất măn và rồi cúi đầu gập xuống dưới chân vị đạo sư, nói rằng, ‘Thưa ngài, [61] bất kỳ ḷng thương nào được bố thí cũng đă được ngài bày tỏ ra cho ta biết. Chắc chắn ta sẽ không phải rơi vào cơi bất hạnh và được bảo vệ không phải rơi vào cơi bất hạnh.[294] Giờ đây ta không quan tâm ǵ đến cuộc sống gia đ́nh nữa ta sẽ t́m kiếm hạnh phúc nơi cuộc sống phạm hạnh.’ Thế rồi vị trưởng lăo Samkicca đă để lại cho đệ tử một chủ đề thiền thích hợp với tâm của vị đó. Nhờ ngài chuyên tâm với đề mục thiền đó và chẳng bao lâu sau ngài đă đắc đạo quả A-la-hán. Trưởng lăo Samkicca đă nêu vấn đề này cho Đức Phật, vị đạo sư coi đó là vấn đề khởi sanh và diễn giải rất chi tiết về Phật Pháp cho đám đông qui tụ lại tại đó. Giáo lư đó đă đem lại lợi ích cho hết thảy mọi người.
-ooOoo-
[258] Để biết thêm chi tiết biến cố này xin đọc DPPN ii 975. đoạn kệ của Saṃkicca xuất hiện trong Thag 597-307 chứ không phải N 240’ như Gehman đă khẳng định. [259]. Phong cảnh Công viên con Nai tại Samath, cách Bernares độ sáu dậm , tại đó Đức Phật đă đọc bài Thuyết Pháp đầu tiên. Công viên có tên như vậy là v́ các vị Đại hiền trí trên đường tới thành Bernares bay trên trời (từ núi Himalayas) đă xếp hàng từ đây và bắt đầu chuyến bay trên không cũng từ đây. [260]. Xin đọc Chú giải iii 41 [261]. Chú giải Be giải thích là dassasi c̣n bản văn Se ghi là dassasi. [262]. Chú giải Se Be giải thích là desi taṃ c̣n bản văn ghi là desitaṃ. [263]. Chú giải Be giải thích là Bhātudhītāya dārikaya, với người con gái và em trai của cô ta, cuối cùng th́ cũng là một. [264]. Chú giải Se giải thích là dubbalakuḍḍaṃ (Be-kuttaṃ) c̣n bản văn ghi là dubbalaṃ kūtaṃ. [265]. Chú giải Se Be giải thích là anubandhanti c̣n bản văn ghi là anubajhanti; xin đọc chú giải PED sv anubajjhati. [266]. Chú giải Se Be giải thích là ākulākhapatitakesabhārā c̣n bản văn ghi là –sukha. [267]. Indaggi-. Nghĩa đen hiểu là lửa hoả ngục Indra. [268]. Chú giải Se Be giải thích là imehi c̣n bản văn ghi là ime. [269]. Chú giải Se Be giải thích là vatthābharaṇādippanbhāli c̣n bản văn ghi là vattha- [270]. Chú giải Se Be giải thích là pāṇi eva c̣n bản văn ghi là pāṇi. [271]. Chú giải Se Be giải thích là bhūmisaṇhakaraṇīyādisu c̣n bản văn ghi là bhūmisaṇha-: ư nghĩa từ pāṇi này không được liệt kê trong PED. [272]. Chú giải Se Be và Pv giải thích là suvaggitena c̣n bản văn ghi là suvagtena suviggatena trong tập chú giải dưới đây. [273]. Chú giải Se Be giải thích là kuñjesu vā ramati caratī ti c̣n bản văn ghi là kuñjo suvāaram aticarati. Xin đọc chú giải VvA 35 để có được nguyên từ giống nhau. [274]. Chú Giải Se giải thích là nāssa agamanīyaṃ anabhibhavanīyaṃ atthī ti c̣n bản văn ghi là n’ assa agati abhibhavanīyaṃ atthī ti. [275]. Bản văn ghi là pāricariyaṃ. [276]. Chú giải ThagA giả thích Thag 96 (trích trong EV I 145) [277]. Cách chấm câu của bản văn nên giải thích với Be: evarūpāṇaṃ kibbisakārīnaṃ katthaṃ… [278]. Chú giải Se Be giải thích là kiṃ saynaṃ c̣n bản văn ghi là kissayanaṃ. [279]. Chú giải Se Be giải thích là virābhāya c̣n bản văn ghi là virāgāya. [280]. Ở đây tất cả bản văn đều khác bịêt khá nhiều về một số điểm nhỏ, để có được tính nhất quán tôi chọn Be. kiṃ saynaṃ ti kỵdisam sayanaṃ. [281]. Chú giải Se Be cũng giải thích giống vậy, bản văn ghi là ha ư nghĩa vẫn không ảnh hưởng ǵ. [282]. Chú giải Se Be cũng giải thích giống vậy, bản văn ghi là sukhassa virāgena. [283]. Chú giải Se Be giải thích là pucchittamatthaṃ c̣n bản văn ghi là pucchittamattāṃ. [284]. Pecca. [285]. Chú giải Se Be giải thích là viditvā c̣n bản văn ghi là vivicca; Be giải thích là vidicca. [286]. Chú giải Se Be giải thích là jhāyare c̣n bản văn gho là ghasire; cũng tương tự như vậy jhāyanti trong chú giải dưới đây, c̣n bản văn ghi là ghāyanti. [287]. Chú giải ghi là dukkhudrayāni. C̣n bản văn ghi là dukkhandriyāni. Se dukhudrayāni. Be dukhudrāni; xin đọc chú giải PED sv dukkha. [288]. Ittarāṃ [289]. Chú giải Se Be giải thích là ṭhānasīlā c̣n bản văn ghi là ṭhāne sīlā. [290]. apāyikaṃ [291]. Chú giải Se Be giải thích là hitasukhādhiṭṭhānaṃ c̣n bản văn ghi là hitasukham iṭṭhānaṃ. [292]. Chú Giải Se giải thích là yāthāvato (Se yathāvato) c̣n bản văn ghi là yāthā vato; xin đọc chú giải PED sv yāthava. [293]. Có nghĩa là một thành viên của Tăng Đoàn Thánh đức (xin đọc chú giải PvA I) và như vậy ta có từ sāvaka, người đồ đệ, hay ở đây có nghĩa là một Đức phật. [294]. Chú Giải Se giải thích là mahatā vata mhi anatthapātato c̣n bản văn Se ghi là mahato vata ’mhi anatthato pātato
|
|
![]()