|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
I. 12 Chú giải chuyện ngạ quỉ CON RẮN
‘Giống như con rắn lột bỏ lớp da già cỗi của ḿnh’. Vị Đạo sư đă thuật lại chuyện kể này khi ngài c̣n đang lưu tại trong khu rừng Jeta liên quan đến một thiên nam nọ. Người ta kể lại rằng trong thành Sāvatthī có cậu con trai của một thiện nam nọ đă qua đời, đầy ḷng xấu hổ và than văn về cái chết của con trai ḿnh, thiện nam đó chỉ lưu lại trong nhà, không thể ra ngoài cũng như không làm được bất kỳ công việc nào. Thế rồi vào lúc b́nh minh ló rạng, vị Đạo sư xuất khởi hành thiền về ḷng đại bi[295] và đang quan sát cơi thế gian bằng Phật nhăn của ḿnh[296], ngài đă phát hiện thiện nam đó. Ngay sáng sớm hôm đó ngài mặc y phục vào, lấy bát khất thực, ra đi và đến đứng ngay trước cửa nhà thiện nam đó. Khi Thiện nam nghe tin Đức Phật đến thăm, ông ta nhanh chóng trỗi dậy ra ngoài đón ngài. ông ta đỡ lấy bát khất thực của ngài và mời ngài vào nhà và dâng cho ngài chỗ ngồi trịnh trọng nhất. Thế rồi thiện nam đảnh lễ ngài và ngồi sang một bên kế cận ngài. Đức Thế Tôn tôn cất tiếng hỏi, “Tại sao, hỡi thiện nam, tại sao nhà ngươi trông ra vẻ như một ngươi sầu khổ như vậy?’ ‘Thưa Đức Thế Tôn, vâng thưa ngài, con trai tôi đă qua đời. – v́ lư do đó tôi bị sầu khổ dầy ṿ.’ (ông trả lời). Thế rồi Đức Thế Tôn tụng Kinh Xà bản sanh để xua tan nỗi buồn khổ cho ông ta. Cách đây đă lâu, có một gia đ́nh Bà la môn tên là Dhammapāla trong thành Bernares thuộc vương quốc Kasi, toàn bộ thành viên trong gia đ́nh gồm – vị Bà la môn, và vợ ông ta, con trai và con gái, con dâu và đầy tớ gái – tất cả đều có thói quen nhập niệm về sự chết[297]. [62] Bất cứ khi nào có người rời khỏi gia đ́nh, người đó đều dặn ḍ những thành viên c̣n lại và rồi an tâm ra đi. Thế rồi một ngày kia vị Bà la môn cũng lên đường rời khỏi gia đ́nh người con trai cả ra đồng cầy ruộng đang khi người con trai nổi lửa đốt cỏ khô và cây củi. Ngay lúc đó th́ một con rắn độc màu đen, v́ sợ chết cháy đă vội chuồn khỏi hốc cây và mổ người con trai của vị bà la môn, do ảnh hưởng của nọc độc cậu đă bất tỉnh, té ngay tại chỗ và rồi qua đời. Sau đó và tái sanh thành một Sakka, vua các chư thiên. Khi vị bà la môn phát hiện con trai ḿnh đă chết, liền nói với một người đi ngang qua nơi ông ta đang làm việc nói rằng, ‘Thưa ngài kính mến, xin ngài đi tới nhà tôi và báo cho vợ tôi biết là nàng hăy tắm sách và mặc y phục sạch sẽ, và rồi ra đây mang theo vật thực dành cho một người ăn cùng với ṿng hoa và hương nhang v.v... ; người đó đi tới đó và thông báo cho vợ vị bà la môn biết sự việc đúng như vậy và các thành viên trong gia đ́nh cùng thực hiện y như lời ông dặn, Vị bà la môn tắm rửa sạch sẽ, ăn cơm xức dầu và, cùng với những người hầu, họ đă đặt xác con trai trên dàn thiêu hoả táng, và nổi lửa đốt. Rồi đứng đó nh́n tựa như ông chỉ đốt một đống củi mà thôi, không chút buồn khổ cũng như khổ sở ǵ nhưng với tâm chuyên chú với ư nghĩ vô thường. Giờ đây chính vị Bồ Tát của chúng ta vào lúc đó là con trai vị bà la môn đă tái sanh thành Dạ Xoa[298]. Khi ngài quán niệm về những phước báu ngài đă làm trong quá khứ, Bồ Tát cảm thấy thương xót đối với người cha và những người họ hàng thân thuộc đă xuất hiện tại đó giả dạng thành một vị Bà la môn. Khi ngài nhận thấy họ hàng thân thuộc không có ai than khóc ḿnh cả, liền nói, “Này các ngươi, - các ngươi đang nướng món thịt nơi ǵ đó. làm ơn cho chúng ta một ít để ăn; tôi đói bụng lắm rồi!’ ‘Đâu có phải thịt nai, thưa ngài bà ma môn, đó là người chết, hắn đáp lại. ‘Thế có phải là kẻ thù của ngươi chăng?’ ‘người đó không phải là kẻ thù đâu nhưng đó chính là cốt nhục của ta, chính là con trai ta đó, một cậu bé có giới đức.’ Khi nghe thấy điều này, vị bà la môn thốt lên hai đoạn kệ nói lư do tại sao ông không khóc thương con trai ḿnh. 1. ‘Giống như con rắn lột bỏ lớp da già cỗi của ḿnh, đó chính là bản ngă, và rồi đi theo lối riêng của ḿnh, chính v́ thế vào lúc chết ngạ quỉ [299] chính là thân xác vô dụng của con trai tôi. 2. Điều ǵ đang cháy trên kia chẳng ư thức được lời than văn của họ hàng ruột thịt chính v́ thế mà thôi không than khóc con trai tôi; nó đă ra đi đến bất kỳ chỗ nào là định nghiệp của nó. 1. [63] Về điểm này con rắn (urago): urago là một từ để mô tả con rắn; chính là con vật di chuyển (gacchati) trên bụng (urena) của nó. Lớp da già cỗi của ḿnh (tacaṃ jiṇṇaṃ): lớp da, xác rắn lột, đă già cỗi, hư hỏng do t́nh trạng lăo hóa. Loại bỏ cái vỏ của ḿnh và rồi đi tiếp tới. (hitvā gacchati santanuṃ): giống như loài rắn ḅ qua cây cối, cành cây, rễ cây hay đất đá, đă loại bỏ được chính lớp da già cỗi lăo hóa đang gây sầu khổ, giống như cởi bỏ một chiếc áo chật sát ḿnh, và sau khi đă loại bỏ được, vứt sang một bên, rồi có thể dễ dàng di chuyển tuỳ ư ḿnh thích, cũng như vậy chúng sanh đang trôi dạt[300] trong ṿng luân hồi cũng loại bỏ được tấm thân què quặt do phước báu trong quá khứ đă cạn kiệt và rồi có thể di chuyển theo nghiệp của ḿnh, có nghĩa là người đó tái sanh nơi kiếp sống mới. Cũng vậy (evaṃ): ông ta nói điều đó chỉ vào thân xác đang cháy của con trai ḿnh. Thân xác vô dụng của con trai tôi. (sarīre nibbhoge): tấm thân vô dụng không c̣n dùng được vào việc ǵ nữa; như vậy đối với con trai tôi th́ cũng giống thế với người khác vậy. Cái ngạ quỉ (pete): khi sức sống, hơi nóng và ư thức đă biến mất, chỉ c̣n lại cái xác chết vô dụng[301]. Vào lúc chết (kākakate sati): khi ta đă qua đời. 2. Chính v́ thế (tasmā): V́ do ư thức đă ra đi, th́ thân xác đang bị thiêu đốt kia chẳng biết ǵ đến đau khổ v́ đang bị đốt cháy và cũng chẳng ư thức được là bà con thân thuộc đang khóc thương và than văn thê lương, chính v́ thế ta đă không khóc để tạo cớ không đúng về con trai ta. Con trai ta đă đi đến bất kỳ chỗ nào đă định sẵn cho nó rồi (gato so tassa yā gati): Tuy nhiên những kẻ đă chết không phải đă bị triệt đoạn; nói đúng ra, ngay sau khi chết[302], người đó đi đến bất kỳ nơi đâu mà nghiệp của kẻ chết t́m thấy cơ hội[303] cho ḿnh số mệnh đă định sẵn. Kẻ đó không mong chờ những người họ hàng thân thuộc khóc lóc than văn, nh́n chung điều đó cũng chẳng đi đến đâu cả, đây là ư nghĩa. Khi vị bà la môn đă cho thấy tính thuần thục của ḿnh trong việc chú tâm hoàn toàn về ư niệm vô thường như vậy, th́ Sakka giả dạng thành một vị bà la môn, liền nói với vợ vị bà la môn rằng, ‘Thưa bà, người chết là ǵ với bà?’ ‘ Thưa ngài, nó là con trai trưởng của tôi, là đứa con tôi đă cưu mang trong mười tháng, tôi đă cho bú mớn, dậy dỗ cho biết ḅ và đi đứng.’[304] Cho dù người cha của cô ấy không khóc, đó lại là bản tánh của người đàn ông, chắc chắc tấm ḷng của người mẹ th́ mềm mỏng hơn – thế tại sao bà cũng không khóc? Khi bà nghe qua điều này, bà liền thốt lên hai đoạn kệ nói lên lư do tại sao bà cũng không khóc con trai: 3. [64] Con tôi đến đây không ai mời mọc, và ra khỏi đây cũng không xin phép ai cho. Nó đến như thế nào th́ ra đi cũng như vậy. Trong những trường hợp như vậy khóc lóc nào có lợi ích ǵ? 4. Cái thân đang thiêu trên dàn kia không biết được lời than văn của họ hàng thân thuộc. Chính v́ thế tôi chẳng than khóc làm ǵ; nó sẽ đi đến bất kỳ nơi nào đă định phần cho nó rồi. 3. Về điểm này không được mời [305] (anabbhito): không được điệu tới; không được sai tới, nói rằng, ‘nào đến đây làm con trai ta đi!’Từ nơi đó (tato) từ nơi đă cư trú trước đó, từ thế giới[306] khác. Nó đă đến (như thế nào): āgā = āgacchi ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Không được phép (nānuññato): không một lời cáo từ, chúng ta cũng không sai nó đi, nói rằng, ‘hỡi con trai, hăy sang thế giới bên kia!’ Từ đây (ra đi) (ito): Cơi đời này[307]. Ra đi (gato): rời khỏi. V́ nó đến như thế nào (yathā gato): nó tới bằng cách nào, có nghĩa là nó tới không[308] có lời mời của chúng tôi. Chính v́ thế nó ra đi (cũng vậy) (tathagato): nó cũng ra đi như vậy. V́ nó xuất hiện trên cơi đời này là do nghiệp của chính nó, th́ nó ra đi cũng vậy, có nghĩa là cũng do chính nghiệp của nó mà thôi; theo cách đó ta chứng tỏ[309] được cách vận hành của nghiệp là như thế nào. Trong những hoàn cảnh như vậy th́ khóc lóc có lợi ích ǵ? (tattha kāa paridevanā): v́ ta chẳng kiểm soát được ṿng luân hồi luân chuyển như thế nào. Như vậy th́ khóc lóc kẻ chết liệu có lợi ích ǵ cho cam. Điều đó cho thấy thật không thích hợp cũng như không nên làm như vậy đối với người có trí. Khi vị Bồ Tát nghe vợ vị bà la môn nói như vậy, ngài liền hỏi em gái của người chết, ‘Này cô gái, người chết thế nào với cô vậy?’ ‘thưa ngài, là anh trai của con đó.’ ‘con yêu, thế chắc hẳn các chị em gái đều hết mực yêu thương anh của ḿnh th́ phải; thế tại sao cô không khóc lóc ǵ cả.’ Nàng thốt lên hai đoạn kệ nói rơ lư do nàng không khóc như sau: 5. ‘nếu tôi khóc lóc chắc chắn tôi sẽ trở nên tiều tụy. Điều đó mang lại kết quả ǵ cho tôi? Nó c̣n gây cho bà con họ hàng và những người đến phúng điếu[310] thêm buồn khổ hơn mà thôi. 6. Cái xác không hồn kia chẳng biết được lời than văn của anh em họ hàng đâu. chính v́ thế tôi không than khóc anh tôi; anh ấy đă ra đi đến chỗ định phần cho ḿnh rồi. 5. Về điểm này Nếu tôi khóc lóc tôi sẽ trở nên tiều tụy (sace rode kisā assaṃ): nếu như tôi khóc lóc thảm thiết tôi sẽ trở nên tiều tụy và thân xác tôi sẽ bị kiệt quệ Đối với tôi điều đó mang lại kết quả ǵ? (tattha me kiṃ phalaṃ siyā): Tuy vậy điều đó sẽ mang lại kết quả ǵ cho tôi, làm lợi ích ǵ cho tôi, khi phải khóc cái chết của người anh ḿnh? [65] Anh tôi cũng chẳng sống lại đuợc hay anh tôi cũng chẳng tiến tới cơi hạnh phúc được đâu. – đây là ư nghĩa. Điều đó c̣n biến họ hàng, anh em và bạn hữu chỉ đau buồn thêm mà thôi (ñātimittasuhajjanaṃ bhīyo no arati siyā). Khi tôi khóc lóc than văn cái chết của anh tôi, chắc hẳn chỉ thêm buồn khổ đau đớn thêm cho những người họ hàng anh em và bạn bè mà thôi. Khi nghe người em gái nói như vậy, Bồ Tát liền hỏi vợ của người chết, ‘người chết là ǵ với cô?’ (nàng đáp lại) ‘Thưa ngài, là chồng của tôi.’ ‘này cô, chắc chắn những người phụ nữ đều rất yêu chồng của ḿnh phải không, và khi họ qua đời chắc hẳn những bà quả phụ ắt hẳn phải chịu cảnh hiu quạnh cô đơn. Thế tại sao cô lại không khóc?’ nàng trả lời và thốt lên hai đoạn kệ nói lên lư do nàng không khóc chồng: 7. ‘Giống như đứa trẻ khóc đ̣i lấy cho được mặt trăng, th́ kẻ khóc cho người quá văng cũng giống như vậy. 8. Cái xác đang bị thiêu đốt kia chẳng biết được những lời than khóc của họ hàng quyến thuộc ḿnh đâu. chính v́ thế con không khóc chồng con; chàng đă đi đến bất kỳ nơi nào đă định phần cho chàng rồi. 7. Về điểm này, một đứa trẻ (dārako): một đứa bé khờ dại. Đ̣i cho được mặt trăng (candaṃ): đ̣i lấy mặt trăng cho nó. Đang mọc lên (gacchantaṃ): đang đi lên[311] (xuất hiện) trên bầu trời. Khóc lóc (anurodati): kêu gào lên, nói rằng, ‘Hăy bắt lấy bánh xe kia và đưa cho con chơi!’ Cũng với kết quả giống như vậy (evaṃ sampadam ev’ etaṃ): việc than khóc người ấy, tức là người chết, th́ cũng chỉ đem lại kết quả tương tự như ước muốn bắt lấy mặt trăng đang mọc lên trên bầu trời mà thôi., v́ đó là ước ao lấy một đối tương không thể nào đạt được, đó là ư nghĩa. Khi ngài nghe được điều người vợ của kẻ quá cố[312] nói như vậy, ngài liền hỏi một đầy tớ gái. ‘này cô, người chết là ǵ với cô vậy?[313] ‘Thưa ngài, ông ấy là ông chủ của em.’ ‘nếu vậy, theo tôi nghĩ, ắt hẳn cô đă thực hiện công việc của ḿnh khi bị ông chủ đánh có phải không? Chính v́ thế mà cô không khóc lóc v́ cô nghĩ nhờ ông chủ chết đi cô sẽ thoát khỏi tay ông ta.’ ‘Thưa ngài, xin đừng nói với em như vậy, điều ngài nghĩ không đúng đâu. [66] Con trai ông chủ của em hành động rất đúng đắn và rất kiên tŕ trong công việc, lại thân thiện và dễ thương. - cậu ta giống như một đứa con trai đă lớn lên do chính em cho bú mớm vậy.’ ‘thế tại sao cô không khóc thương ông ấy.?’ Nàng cũng thốt len hai đoạn kệ nói lên lư do nàng đă không khóc than ông chủ: 9. ‘ Thưa ngài Bà la môn, chính v́ một chiếc b́nh gốm bị bể không c̣n cách nào gắn lại được nữa, cũng giống như vậy, khóc cho người quá văng cũng đem lại kết quả giống như vậy mà thôi. 10. Cái xác chết bị thiêu kia đâu có biết được những lời than khóc của những người họ hàng thân thuộc của ḿnh. Chính v́ thế mà em không khóc cậu chủ làm chi; cậu đă đi đến bất kỳ nơi nào đă định phần cho cậi rồi. 9. Về điểm này, thưa vị bà la môn cũng giống như chiếc b́nh gốm đă bị bể không thể nào gắn lại được (yattha [314] pi brahme udakumbho bhinno appaṭisandhiyo): quả thật thưa ngài bà la môn, cũng như chiếc b́nh gốm đă bị một búa đập bể tan tành, th́ không thể nào gắn lại được như cũ, không thể phục hồi lại được t́nh trạng nguyên thuỷ. Điều c̣n lại th́ cũng đă rơ ràng như đă được khẳng định ở trên. Khi Sakka nghe điều này, ngài đă diễn giải Phật Pháp cho họ, với tâm đầy tịnh tín ngài nói, ‘Các ngươi đă hoàn toàn tu tập pháp niệm về sự chết’. Từ ngày hôm nay trở đi, các ngươi không cần phải lao động trên cánh đồng cầy cấy làm chi nữa.’ ngài đă đổ đầy nhà họ với bảy loại châu báu[315] và cỗ vũ động viên họ nói rằng, ‘ Đừng có bê trễ thực hiện bố thí; hăy thọ tŕ ngũ giới và Bát Quan trai Giới.’ và sau khi đă hiện nguyên h́nh của ngài cho họ thấy ngài đă quay trở về nơi trú xứ của ḿng và vị bà la môn đó cùng với những người khác th́ thực hiện rất nhiều phước báu bằng bố thí v.v... và sau khi đă trải qua hết thọ mệnh của ḿnh họ tái sanh nơi cơi Chư Thiên. Khi vị Đạo sư thuật lại chuyện bổn sanh này, ngài đă nhổ[316] mũi tên sầu khổ khi thiện nam đó. Sau đó ngài đă diễn giải Tứ Diệu Đế và cuối cùng th́ thiện nam đó đă an trú nơi thánh quả Nhập lưu. Việc chú giải Măng Xà Chuyện Ngạ quỉ kết thúc tại đây - như vậy việc chú giải Xà Phẩm được tô điểm bằng mười hai chuyện kể trong tập Chuyện Ngạ quỉ thuộc Tiểu Bộ Kinh cũng kết thúc[317] tại đây.
-ooOoo-
[295] Mahākaruṇāsamāpattito. [296]. Xin đọc chú giải D ii 38tt. [297]. Maraṇtibhāvanā; tưởng nhớ đến người chết. [298]. Trong chuyện kể Kinh bản sanh vị Bồ Tát được cho là người cha và trong khi đó Sakka xuất hiện trong chuyện kể lại không gợi ư bất tù tương quan nào với người con trai đă qua đời. [299]. Có lẽ ư nghĩa ở đây chỉ đơn giản là “qua đời” hay chết và ra đi’ [300]. Paribhamanto, hiểu theo nghĩa đen là đi lang thang đó đây, hay du hành về đây kia. [301]. Chú Giải Se giải thích là āyu-usuma-viññāne ite kāyato appagate c̣n bản văn ghi là āyasmāviññānato apagate. [302]. Chú giải Se Be giải thích là taṃ cuti-anantaraṃ eva c̣n bản văn ghi là ti vuccati tadanantaraṃ eva. [303]. Chín mùi. [304]. Hatthapāde saṇṭhāpetvā, theo nghĩa đen là an trú trong tay chân. [305]. Xin đọc chú giải Thig 129. [306]. Paralokato, thường thường có nghĩa là ‘kiếp sau’ hay ‘cơi đời sau” cả hai đều nói về tương lai hoàn toàn khác biệt với “cơi chúng sanh” [307]. Chú giải ghi là idhalokato c̣n bản văn ghi là dhalokato. [308]. Chú giải Se Be giải thích là eva c̣n bản văn ghi là evaṃ. [309]. Xin đọc Trung Bộ Kinh (M) I 265tt trong đó có đề cập đến ba điều cần thiết để thọ thai; xin cũng đọc thêm Trung Bộ Kinh (M) ii 157. [310]. Suhajjānaṃ, không thấy liệt kê trong tự điển PED bản văn nên giải thích kèm với Se Be là ñātimitta- chứ không phải là ñātimittā- [311]. Chú giải Se Be giải thích là abbhūukkamānaṃ c̣n bản văn ghi là abbhuggamānaṃ, là từ thường được dùng để chỉ sự di chuyển của các thiên thể trong không gian. [312]. Chú giải Se Be giải thích là tassa c̣n bản văn ghi là tassā. [313]. Chú giải Se Be giải thích là tuyhaṃ so c̣n bản văn ghi là tvaṃ tassa. [314]. Bản văn đă trích nhầm là yatthā. [315]. Sattaratanabharitaṃ ta đọc thấy trong S iii 83 có nghĩa là thất giác chi, nhưng ở đây h́nh như không đúng. [316]. Chú Giải Se giải thích là samuddharītvā c̣n bản văn Se ghi là samuṭṭharitvā. [317]. Chú giải Be cũng giải thích như vậy.
|
|
![]()