|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
I. 8 Chú giải chuyện ngạ quỉ CON B̉
[38] ‘Tại sao nhà ngươi giống như một kẻ điên.’ Đạo sư đă thuật lại chuyện kể này khi ngài c̣n đang lưu lại trong cánh rừng Jeta liên quan đến một người giàu, có cha vừa mới qua đời. Người ta kể lại rằng trong thành Sāvatthi, xảy ra là cha của một người giàu có nọ đă qua đời. Ḷng trí người đó sầu khổ thương tiếc người cha quá cố và chàng ta đă đi lang thang khắp nơi giống như một gă điên với tâm than thở hỏi han bất kỳ người nào ông ta gặp, than rằng, ‘Ông vừa gặp cha tôi có phải không?’ Nhưng chẳng ai có khả năng đẩy lùi sầu khổ cho ông được.Tuy nhiên, khả năng chứng đắc thánh Quả Nhập Lưu đă soi sáng tâm ông giống như một ngọn đèn trong chiếc b́nh. Đạo sư đang ḍ xét trần gian vào lúc rạng đông, đă nhận ra khả năng chứng đắc thánh Quả Nhập Lưu và nghĩ rằng, “Khi nào ta kể lại những hành vi tiền kiếp của người đó và làm lắng dịu sầu khổ cho người ấy, đó là lúc thích hợp để cho[177] hắn nhận thánh Quả Nhập Lưu.’ Vào ngày hôm sau đang khi quay trở về nhà sau cuộc khất thực và khi đă dùng bữa trưa, ngài đă dẫn vị phụ tá[178] của ḿnh và đi thẳng đến cửa nhà người đàn ông giàu có này. Khi nghe Đức Phật đến thăm, ông ta ra khỏi nhà đón ngài, gặp ngài ông mời Đức Phật vào nhà trong. Khi vị đạo sư đă an vị nơi dành riêng cho ngài, chính ông ta đă đảnh lễ Đức Phật và ngồi ngay bên cạnh ngài, hỏi rằng, ‘Thưa Đức Thế Tôn, ngài có biết cha tôi đi đâu chăng?’ Đức Phật trả lời, ‘Này thiện nam, có phải nhà ngươi hỏi cha của ḿnh trong cuộc sống hiện nay hay những người cha tiền kiếp? Khi nghe những lời này ông suy nghĩ, ‘Ta có nhiều người cha cơ mà.’ Ngay lúc đó nỗi sầu khổ của ông ta được lắng dịu và ông đă được một chút an tịnh. Đức Phật liền diễn giải Phật Pháp cho ông để xua tan nỗi sầu khổ và khi ông nhận ra nỗi sầu khổ đă qua đi và tâm ông đă sẵn sàng, thế rồi nhờ lời diễn giải Phật Pháp đó và chính các Đức phật[179] đă khám phá ra ( khổ, tập, diệt và đạo) ngài đă an trú ông trong thánh quả Nhập Lưu và trở về thiền viện. Sau đó các tỳ khưu đă bàn tán với nhau trong giảng đường chánh pháp rằng, ‘Thưa chư huynh, nh́n xem ḱa, năng lực to lớn của Đức Phật nơi thiện nam đă phải chịu đựng sầu khổ gay gắt[180] Đức Phật đă hướng dẫn ông gia nhập chánh quả Nhập Lưu chỉ trong chốc lát.’ [39] Đạo sư đă tới đó và tự[181] ngồi vào ghế danh dự đă sửa soạn cho ngài và hỏi, “Hỡi các tỳ khưu, mục đích cuộc bàn luận nào đă khiến cho các vị lưu lại đây.” Các tỳ khưu thuật lại cuộc đối thoại giữa họ với nhau cho Đức Phật nghe. Khi ngài nói, ‘Hỡi tỳ khưu, chẳng phải vào dịp này ta đă xua tan nỗi sầu khổ cho ông ta đâu; ta cũng đă xua tan như vậy vào một dịp trước đó nữa. Các tỳ khưu đă thỉnh Đức Phật kể lại biến cố đă xảy ra từ lâu đó. Cách đây rất lâu, trong thành Benares có một người cha của gia chủ nọ đă qua đời. Ông ta sầu khổ và ta thán[182] về cái chết của cha ḿnh và với bộ mặt đẫm lệ thiểu năo ông ta đă kêu than và đấm ngực đi ṿng quanh bên phải ngôi mộ[183] của cha ḿnh. Cậu con trai của ông ta tên là Sujāta, là cậu trai thông minh và một chàng trai giỏi giang đầy thông minh và triển vọng, trong khi c̣n đang suy nghĩ một vài phương cách để loại bỏ nỗi sầu khổ cho người cha của ḿnh, một ngày kia cậu đă nh́n thấy một con ḅ chết bên ngoài thành phố, Cậu ta đem đến một ít cỏ khô và một chút nước và đặt ngay trước con ḅ chết ấy và cậu đút cho con ḅ đó một chút vào miệng, cậu trai đứng đó ra lệnh cho con ḅ như nó vẫn c̣n sống nói rằng, ‘Ăn cỏ đi nào, uống nước đi nào.’ Khi có một số khách văng lai đi qua nh́n thấy cậu ta họ nói. “Ôi Sujāta yêu dấu, cậu có điên không vậy, sao cậu lại cho ḅ chết ăn cỏ và uống nước?’ Nhưng cậu ta chẳng nói ǵ để trả lời câu hỏi. Nhiều người đi t́m cha cậu và nói, ‘Con trai của ngài điên rồi, và đang cho con ḅ chết ăn cỏ và uống nước.’ Khi người cha nghe thấy điều này nỗi sầu khổ của người giàu có về cái chết của người cha ḿnh đă biến mất. Xúc động với ư nghĩ, ‘họ cho rằng con trai của ḿnh phát điên.’ Ông ta chạy nhanh tới đó và ra rầy con nói rằng, ‘Sujāta, chẳng phải con đă là một đứa trẻ giỏi giang và đầy thông minh hay sao? Tại sao con lại cho ḅ chết ăn cỏ và uống nước làm chi?’ và ông ta đă thốt lên hai đoạn kệ như sau: 1. Tại sao con giống như một người điên, lại cắt cỏ và lẩm bẩm. “ăn đi nào, ăn đi nào!’trước một con ḅ già đă chết cứng. 2. V́ chẳng phải do đồ ăn và thức uống làm cho con ḅ chết này có thể sống lại; con ta điên thật rồi, một thằng bé ngu ngốc, một đứa bé đần độn giống như bất kỳ đứa trẻ nào khác.’ 1. Ở đây tại sao (kim nu) là một từ dùng để hỏi. Giống như một kẻ điên (ummattārūpo va): Giống như một kẻ tự bản chất là điên, là kẻ mắc bệnh tâm thần, [40] Cắt: lāyitvā=lāvitvā (một dạng ngữ pháp khác). Cỏ xanh (haritaṃ tiṇaṃ): cỏ tươi. Lẩm bẩm (lapasi): nói lảm nhảm. Có mạng sống đă kết thúc (gatasattaṃ): không c̣n mạng sống. Con ḅ già (jaraggavaṃ): một con ḅ già yếu, ḅ dùng để kéo cày. 2. Bằng đồ ăn và thức uống (annena pānena): bằng cỏ xanh và nước con đă đem lại cho con ḅ. Con ḅ chết này có thể sống lại (mato goṇo samuṭṭhahe): ngay cả khi con ḅ chết này có thể sống trở lại cũng không thể đứng dậy được. Con quả là thằng điên, một thằng ngu ngốc (tvaṃ ’si bālo ca dummedho): con là thằng điên v́ con cứ cố níu lấy tính điên rồ đó. Là một thằng ngu ngốc v́ con là kẻ thiếu quán xét tức là tuệ giác được biết đến là tính thông minh. Và là thằng bé đần độn giống như bất kỳ đứa trẻ nào khác (yathā t’aññ eva dummati) có nghĩa là con than văn như vậy không có mục đích giống như bất kỳ đứa trẻ nít nào thiếu sức mạnh tuệ giác, có nghĩa là con than văn như vậy không có mục đích giống như bất kỳ đứa trẻ nít nào thiếu sức mạnh tuệ giác. Yathā taṃ (không được dịch) chỉ là một tiểu từ. Giống như bất kỳ kẻ nào khác (aññ ’eva) có nghĩa là cho dù con có lư trí con cũng đă trở thành ngu dốt đần độn và nói những điều vô nghĩa.[184] Khi cậu ta nghe thấy điều này Sujāta liền thốt lên hai câu kệ để làm rơ ư định của câu cho cha ḿnh được biết. 3. Cả bốn cẳng, đầu, thân ḿnh và chiếc đuôi kể cả hai con mắt vẫn c̣n nguyên đây: con ḅ này sẽ đứng dậy. 4. Nhưng ta chẳng nh́n thấy hai tay ông nội, hai chân, thân ḿnh và đầu nữa,- chẳng phải cha là tên khờ đó hay sao mà lại khóc lóc ngay chiếc g̣ đất[185] lạnh lẽo đó? 3. Đây là ư nghĩa: cả bốn cẳng ḅ, thân ḅ và đầu ḅ cộng với cái đuôi nữa vẫn c̣n tồn tại, cả thân h́nh với chiếc đuôi và hai con mắt vẫn c̣n y nguyên như trước khi chết và chẳng có bất kỳ dấu hiệu nào là đă tiêu tan hết.[186] Con ḅ chết này vẫn có thể đứng dậy (ayaṃ goṇo samuṭṭhahe): chính v́ lư do đó ư tưởng vẫn lởn vởn trong đầu óc ta đó là con ḅ này vẫn có thể đứng dậy. Mọt số người giải thích ta nghĩ con ḅ sẽ có thể đứng dậy được (maññe goṇo samuṭṭhahe) V́ lư do này con nghĩ con ḅ này có thể bất chợt đứng dậy được; một ư tưởng như vậy đă xuất hiện trong đầu con. – đây là ư nghĩa. 4. Thế rồi cậu ta giảng giải Phật Pháp cho cha ḿnh nói rằng, “Nhưng những ǵ của ông nội, những ǵ của ông cụ, tay, chân, thân xác và đầu chẳng c̣n nh́n thấy nữa. Thưa cha, chẳng phải chỉ có ḿnh cha là tên đần độn hay sao? là người thiếu tuệ giác cả trăm cả ngàn lần đă qua, cha đă khóc lóc ngay tại chiếc g̣ đất sau khi cha đă chôn xương cốt của ông nội dưới đó hay sao? Những vật hữu vi tự bản chất là hư mất sẽ tiêu tan: cha có biết điều này hay không?[187] Ta vẫn nh́n thấy – chẳng phải cha đă là một tên đại khờ, thế tại sao cha lại khóc lóc than văn làm chi? Khi người cha nghe thấy điều này của Vị Bồ Tát nghĩ rằng, “Con trai ta quả là khôn ngoan – cậu đă thực hiện hành vi này để dạy cho bố nó (và nói), ‘Sujāta con yêu, mọi người đều biết là toàn bộ sanh vật đều phải chết. Chính v́ thế ta sẽ chẳng than văn khóc lóc làm chi nữa. Như vậy lời khuyên ấy nên được áp dụng cho những ai có thể xua tan được sầu khổ’ thế rồi ông ta thốt lên bốn câu kệ để khen ngợi cậu con trai của ḿnh như sau: 5. Quả thực ta đă rực cháy, giống như ngọn lửa được đổ thêm dầu; nhưng giờ đây toàn bộ nỗi buồn của ta đă được dập tắt như thể đống lửa bị tước nước vậy. 6. Quả thực mũi tên sầu khổ đă xuyên thủng tâm ta đă được nhổ ra, nhà ngươi đă đảy lùi được sầu khổ đó, sầu khổ của cha ta cũng đă tràn ngập cả tâm can ta nữa. 7. Nhờ mũi tên được nhổ ra, ta trở nên an tịnh và tươi mát; v́ nghe nhà ngươi, hỡi chàng trai trẻ ta chẳng c̣n sầu khổ hay khóc lóc làm chi nữa.[188] 8. Cũng giống như cậu Sujāta đă làm cho cha ḿnh vơi đi[189] sầu khổ – cũng như vậy bậc trí tuệ có[190] ḷng từ bi nhân hậu, cũng hành động như vậy. 5. Ở đây Ta đă bị thiêu đốt (ādittaṃ): ta đă bị đốt cháy và đang bị thiêu đốt với ngọn lửa sầu khổ. Cũng như: santaṃ=samānaṃ (một dạng ngữ pháp khác). Ngọn lửa (pāvakaṃ): lửa cháy. Tựa như ta đă tưới nước (vārinā viya osiñcaṃ): như thể người ta lấy nước tưới[191] lên ḿnh ta. Nhưng giờ đây mọi nỗi sầu khổ đă biến mất.(sabbaṃ nibbāpaye daraṃ): nhưng giờ đây mọi sầu khổ trong ḷng ta đă được dập tắt. 6. Quả thực đă được rút ra (abbūlha vata): thực sự đă được rút ra. Mũi tên (sallaṃ): mũi tên sầu khổ. Đă xuyên thủng tim ta (hadayanissitaṃ): mũi tên đă nằm gọn trong tim ta. Nỗi sầu khổ đó đă đè nặng lên ta (sokaparetassa): sầu khổ đó đă chế ngự tim ta. nỗi sầu khổ của cha ta (pitusokaṃ): nỗi sầu khổ đă nổi lên với cha ta. Con đă đẩy lùi (apānudi): con đă gỡ bỏ đi. 7. Từ khi nghe nhà ngươi, hỡi chàng trai trẻ (tava sutvāna mānava): Tuy nhiên v́ nghe lời nhà ngươi, con trai của ta, giờ đây ta chẳng c̣n than văn khóc lóc nữa. 8. Chính v́ Sujāta đă khiến cha ḿnh quên đi (khuây khỏa) (Sujāta pitaraṃ yathā): chính v́ Sujāta này đă khiến cho người cha của ḿnh được khuây khỏa khỏi sầu khổ, cũng v́ thế những kẻ khôn ngoan khác cũng có ḷng từ tâm như vậy. [42]Những kẻ nào có hiểu biết, cung hành động giống như vậy, có nghĩa là họ hành động nhằm đem lại lợi ích cho người cha của họ và cả những người khác nữa. Khi người cha nghe những lời của chàng trai trẻ. Ông đă mất hết sầu khổ, ông đă gội đầu, tắm rửa và ăn uống và quay trở lại công việc kinh doanh, khi qua đời ông đă được tái sanh nơi thiên giới. Khi Đức Phật đă kể lại câu chuyện diễn giải Phật Pháp này ngài đă giải thích tứ diệu đế cho các tỳ khưu nghe, cuối cùng nhiều người đă an trú nơi chánh quả Nhập Lưu. Chính vị cứu thế[192] của chúng ta lúc đó đă hiện h́nh thành Sujāta vậy.
-ooOoo-
[177] Thí phước (dātuṃ); ư nghĩa cả ở đây cũng như nơi khác trong tác phẩm này là sức mạnh siêu thế này để chứng đắc thánh Quả Nhập Lưu không thể nào được thể hiện nếu không được Đức Phật can thiệp vào. [178]. Pacchasamaṇaṃ, một tỳ khưu cao niên đi theo đàng sau vị trưởng lăo khi khất thực. Ānanda luôn đi kèm Đức Phật như vậy; xin đọc Vin I 46, iii 10; PvA 93, Chú giải Be giải thích là anādāya, không được coi là người theo hầu. [179]. Ta nên hiểu đây là một bản dịch hết sức chi tiết về những đoạn mô tả những cách Đức Phật sử dụng để giải đạo cho một cá nhân, xin đọc trong Trung Bộ Kinh (M) I 379 tt. xin đọc chú giải PvA 195tt. [180]. Chú giải Se giải thích là sokapareto paramasoko c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là sokaṃ paramosoko; chú giải Be giải thích là sokaparidevasamāpanno. [181]. Chú giải Se Be giải thích là nisinno c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là nīimo. [182]. Chú giải Se Be giải thích là kandanto. Bản văn ghi là karonto. Tuy nhiên chú giải Be giải thích là rattakkho, là với mắt đỏ, thay v́ ‘đấm ngực’. [183]. chú giải Se giải thích là tassa, c̣n bản văn ghi là tato. Chú giải Be bỏ qua hoàn toàn. [184]. Chú giải Be bỏ qua nguyên một đoạn. [185]. Matīkathūpasmiṃ; thūpa, bảo tháp, hiểu theo nghĩa chuyên Phật Giáo. [186]. Chú giải Be Se giải thích là abhinnasaṇṭhānāni c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là abhinava. [187]. Bản văn đă chấm câu sai. [188]. vv 5-7. trở lại trong Vv 838-10 [189]. Giải thích là vinivattayi giống như trong II 619 dưới đây. bản văn ghi là vinivanti; xin đọc chú giải PED sv vinivaṭṭeti. [190]. Chú giải Be Se giải thích là honti c̣n bản văn ghi là konti. [191]. Chú giải Be giải thích là avasiñcanto c̣n bản văn Se ghi là āsiñcanto. [192]. Lokanatho, là một tính ngữ để chỉ Đức Phật. Gehman đă xác định sai Sujāta trong chuyện kể này với Đức phật Sujatā. Cũng là một trường hợp chính Đức Phật Cồ Đàm của chúng ta cũng là Sujāta nơi một kiếp trước và lúc đó ngài chỉ là Bồ Tát, đă sua tan sầu khổ cho chính người này đă chứng đắc thánh quả nhập lưu. Chuyện kể này cũng tương tự như kinh bổn sanh Sujāta. Dhammapāla đă tóm tắt một số chi tiết. Chính v́ thế đây là sự kiện mà cha của ngài đă ngừng không ăn nữa.
|
|
![]()