NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

  CHÚ GIẢI  

CHUYỆN NGẠ QỦI

(Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:              Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I. 9 Chú giải chuyện ngạ quỉ CHỦ THỢ DỆT
[Mahāpesakārapetavatthuvaṇṇā]

“Phân, nước tiểu, máu và mủ” Chuyện kể này được thuật lại khi vị Đạo sư c̣n đang lưu lại trong thành Sāvatthi liên quan đến một ngạ quỉ đă từng là người thợ dệt.

Người ta kể lại rằng có mười hai tỳ khưu đă chọn đề mục thiền[193] trước mặt Đức Phật và đang khi họ c̣n t́m kiếm trú xứ v́ mùa an cư kiết hạ đang tới gần. Họ đă nh́n thấy một địa điểm khả ái, có bóng mát và giếng nước trong một cánh rừng với một ngôi làng kế bên là nơi dâng cúng vật thực mà chẳng cần phải đi đâu xa. Họ đă qua đêm tại địa điểm đó và ngày hôm sau họ đă vào trong làng để khất thực. Có mười một cô thợ dệt đang cư trú trong đó. Khi nh́n thấy mười hai tỳ khưu, họ trở nên vui vẻ hoan hỷ vô cùng và họ đă mời các tỳ khưu vào từng nhà riêng[194] của họ. Khi họ đă cúng dường và thiết đăi các tỳ khưu với đồ ăn thức uong họ hỏi các ngài, “Thưa các vị, khi nào các vị định len đường?’ Chúng tôi sẽ đi tới bất kỳ nơi nào nếu thuận tiện đối với chúng tôi.’ Các tỳ khưu trả lời, “Thưa các vị, nếu vậy th́ xin các ngài cứ lưu lại nơi đây.’ Các cô gái nói và năn nỉ các tỳ khưu an cư kiết hạ trong suốt mùa mưa với họ, các tỳ khưu đă nhận lời. Những thiện nam đă dựng lên các cḥi dành cho các vị ngay tại khu rừng và dâng cúng cho các tỳ khưu để các ngài an cư kiết hạ trong suốt mùa mưa tại đó. Người thợ dệt cả đă hộ độ cẩn thận hai tỳ khưu với bốn nhu cầu cần thiết và các cô khác mỗi người cũng hộ độ một tỳ khưu. Người vợ của người thợ dệt cả chẳng có đức tin, cũng không có ḷng kính mến nhưng lại là người keo kiệt bủn xỉn và có tà kiến, bà ta đă không hộ độ các tỳ khưu cẩn thận. Khi chàng thợ dệt cả biết ra điều này, chàng đă đi kiếm người em gái của nàng và bảo người em gái làm chủ gia đ́nh. Nàng [43] có đức tin và ḷng kính trọng đối với các tỳ khưu và hộ độ các tỳ khưu cẩn thận trong suốt mùa an cư kiết hạ. Tất cả các người thợ dệt, mỗi người đều may một chiếc y đặc biệt cho mỗi vị tỳ khưu, nhân đó người vợ keo kiệt của thợ dệt cả có tâm bất thiện đă nguyền rủa chồng ḿnh nói rằng, ‘Bất kỳ loại đồ ăn thức uống nào ḿnh dâng tặng làm của bố thí cho các vị sa môn là con trai của Sakya[195] mong rằng trong cơi đời sau sẽ trở thành phẩn và nước tiểu, máu và mủ cho nhà ngươi và mong rằng những chiếc y đó sẽ trở thành những phiến thép nóng bỏng đỏ rực.’ Thế rồi đến đúng thời gian qui định người thợ dệt cả qua đời và tái sanh thành một vị thần rừng[196] cai quản khu rừng Vinjha[197] đó, với rất nhiều oai thần lực. Nhưng khi người vợ bất hạnh của ông cũng qua đời, nàng đă tái sanh thành một nữ ngạ quỉ cư trú không xa nơi ở của ông chồng là mấy. Nàng lỏa lồ và có diện mạo vô cùng kinh dị và bị đói khát dày ṿ, nàng đă tiến lại gần thần thổ và nói rằng, “Chồng thân yêu, em không được mặc quần áo và phải đi lang thang và bị đói khát dày ṿ; làm ơn cho em xin vài bộ quần áo để mặc và một chút đồ ăn thức uống để em đỡ đói. Chàng đă cho nàng thứ đồ ăn thức uống tuyệt hảo dành cho các chư thiên. Nhưng vừa khi nàng đụng tới th́ đồ ăn thức uống đó đều biến thành phẩn và nước tiểu, máu và mủ. Và khi nàng mặc chiếc áo khoác vào nó đă trở thành một chiếc đĩa thép nóng đỏ. Quá đau khổ nàng đă vứt mọi thứ ra ngoài và đi lang thang kêu khóc thảm thiết.

Vào thời ấy có một tỳ khưu đă trải qua mùa an cư kiết hạ và đang trên đương đến chào Đức Phật và đă thâm nhập vào khu rừng Vinjha đi theo là một đoàn du hành đông đảo. Đoàn du hành tiến hành cuộc hành tŕnh vào ban đêm và nh́n thấy vào ban ngày một bóng cây to và tại một điểm có đầy đủ nước uống. Họ đă tháo ách cho những con ḅ và ngồi nghỉ một lát. Tuy nhiên tỳ khưu lại ước ao được yên ổn và đi xa hơn một chút. Ngài trải áo khoác ngoài dưới gốc cây, là một cây có bóng mát không thể xuyên qua được và v́ kiệt sức do cuộc du hành vào ban ngày ngài liền đặt ḿnh xuống và ngủ thiếp đi. Sau khi đă nghỉ ngơi đôi chút đoàn du hành đă lên đường một lần nữa và không biết vị tỳ khưu vẫn c̣n ngủ. Ngài thức dậy vào buổi chiều và không nh́n thấy đoàn du hành đâu nữa. [44] Ngài đă lên đường nhưng không theo đúng hướng, thế nên đă lạc đến một trú xứ của chư thiên đó. Khi vị Devaputta nh́n thấy vị tỳ khưu và tiến lại hiện h́nh thành một người và ngỏ lời chào thân thiện với vị tỳ khưu. Sau khi đă mời vị tỳ khưu vào thăm nhà[198], người đó đă dâng cho ngài một ít dầu để xức chân v.v... và ngồi xuống để hầu hạ người. Ngay lúc đó nữ ngạ quỉ cũng xuất hiện, nói rằng, ‘Thưa Đức Thế Tôn, xin làm ơn cho tôi đồ ăn thức uống và chiếc áo khoác.’ Ngài đă đưa những thứ đó cho nữ ngạ quỉ. Nhưng khi nàng vừa đụng đến tất cả đều biến thành phẩn và nước tiểu, máu và mủ. Và một chiếc đĩa nóng đỏ[199], khi vị tỳ khưu nh́n thấy sự việc như vậy, ngài vô cùng xúc động và hỏi vị devaputta bằng hai đoạn kệ như sau:

1.      “Nàng đă ăn phẩn và uống nước tiểu, máu và mủ. – do đâu là kết quả đem lại điều này? Giờ đây người phụ nữ này đă thực hiện ác nghiệp ǵ vậy liệu nàng luôn phải ăn phẩn uống nước tiểu máu và mủ chăng?’

2.      Những quần áo, đẹp và mềm, sạch và giống như tơ khi đưa cho nàng [200] đă trở thành một miếng sắt đỏ rực[201]. Giờ đây người đàn bà này đă thực hiện ác nghiệp ǵ vậy?

1. Ở đây câu điều này do kết quả ác nghiệp nào vậy? (kissa ayaṃ vipāko): do loại ác nghiệp nào đă đem lại kết quả trên giờ đây nàng phải trải qua? Giờ đây người đàn bà này đă làm điều ǵ vậy? (ayaṃ nu kiṃ kammaṃ akāsi nārī): giờ đây trong quá khứ người đàn bà này đă thực hiện ác nghiệp ǵ vậy? Đến nỗi nàng đă tự nuôi sống bằng máu và mủ. (yā ca sabbadā lihitapubbabhakkhā): mà nàng phải nuôi sống[202] và phải ăn toàn là máu và mủ thế.

2.      Vừa mới (navāni): vừa rồi, vừa mới xuất hiện ít phút trước đó[203]. Đẹp đẽ (subhāni): đáng yêu thật dễ coi. Mềm (mudūni): sờ vào thật là êm. Sạch sẽ (suddhāni): dáng vẻ rất thanh tịnh. Giống như tơ (lomasāni): với một đống sờ vào rất mềm mại, có nghĩa là rất dễ thương. Khi đưa cho nàng cầm tất cả đều giống như những tấm kim loại có gai[204] trông tựa như những tấm đĩa bằng đồng. Một cách giải thích khác là ‘trở thành gịi bọ’ (kīṭakā [205]) ư nghĩa là chúng trở thành giống như những côn trùng[206] có thể chích đốt ta.

[45] Khi vị tỳ khưu đă đặt ra những câu hỏi như vậy, vị Devaputta đă lên tiếng bằng hai đoạn kệ giải thích những ác nghiệp nàng đă thực hiện nơi kiếp trước.

3.      “Thưa ngài, nàng là vợ tôi, một người không quảng đại, keo kiệt và bủn xỉn; khi tôi bố thí cho các vị sa mônvà các vị bà la môn, nàng đă súc phạm đến tôi và mắng nhiếc tôi nói rằng,

4.      “Phẩn và nước tiểu, máu và mủ – mong rằng nhà ngươi ăn những thứ ô uế đó luôn măi! Mong rằng điều này trở thành số phận của nhà ngươi nơi kiếp sau và mong rằng quần áo của ngươi giống như những chiếc đĩa kim loại nóng đỏ hỏn! Sau khi đă hành động với ác hạnh xấu đến vậy nàng đă phải đến đây và ăn những thứ ô uế trong một thời gian’

3. Ở đây không quảng đại (adāyikā): nàng chẳng cho ai điều ǵ cả, nàng thiếu ḷng từ. Keo kiệt và bủn xỉn: (maccharinī kadariyā): trước tiên nàng trở thành keo kiệt là do bản chất của nàng. (do bị lấm nhơ) bởi bụi bẩn nơi ḷng keo kiệt ích kỷ; do đi sâu vào[207] tính nết như vậy, nàng trở nên cực kỳ keo kiệt[208] và kết cục là nàng trở thành cực kỳ bủn xỉn. Đây chính là cách chúng ta nên phân tích. Thế rồi ngài lại c̣n nói thêm cho vị sa môn và ba la môn biết nàng đă lăng mạ xúc phạm ta, v.v... cho thấy mức độ bủn xỉn của nàng.

4. Ở đây từ như thế (etādisaṃ): sau khi đă thực hiện ác hạnh và ác khẩu thuộc loại đă đề cập đến ở trên, nàng đă đi tới đây (idhāgatā): nàng đă xuất hiện nơi cơi ngạ quỉ. Nàng đă hiện h́nh là một nữ ngạ quỉ. Sau khi phải ăn những thứ ô uế trong một thời gian dài (cirarattāya khādati): đă phải ăn uống chỉ có phân nước tiểu, máu và mủ. Đối với bất kỳ lời[209] xúc phạm[210] theo cách nào và cùng một cách thức[211] nào cũng đem lại kết quả. Một điều xúc phạm[212] sẽ rơi trở lại trên chính người đó chứ không rơi xuống trên người vô tội bị lăng mạ. Điều đó ta gọi là chạy ṿng theo ṿng[213] trái đất.

Sau khi đă kể lại những ác nghiệp nàng đă thực hiện trong quá khứ, Devaputta nói[214] một lần nữa cho tỳ khưu nghe (rằng), ‘Thưa ngài, có phương án nào để nàng có thể được giải thoát khỏi cơi ngạ quỉ này chăng?’ Khi vị tỳ khưu nói có đấy, ông ta nói, “Làm ơn nói cho tôi biết thưa ngài.’ [46] Nếu của bố thí được thực hiện cho một vị tỳ khưu hay cho một đồ đệ nào trong Tăng Đoàn và rồi hồi hướng cho nàng và nàng tỏ ra ngưỡng mộ thích thú điều đó sẽ trở thành giải thoát cho nàng khỏi cảnh cùng cực đó.’ Khi người chồng nghe như vậy th́ Devaputta liền dâng cho tỳ khưu loại vật thực và đồ uống tốt nhất và hồi hướng phước thí đó về cho nàng nữ ngạ quỉ, ngay lập tức nàng được nguôi đi và được thoa măn các căn của ḿnh rồi trở thành thích thú với đồ ăn thức uống thiên cung, thế rồi chư thiên lại đưa vào tận tay vị tỳ khưu một bộ quần áo. Dâng cúng đặc biệt cho Đức Phật và hồi hướng phước thí đó cho nữ ngạ quỉ. Và ngay lập tức ngạ quỉ mặc thứ quần áo đó[215] và được trang điểm bằng những đồ trang sức thiên cung và được phú cho rất nhiều của cải theo như nàng ước ao, trông giống như một nàng chư thiên thiên nữ[216] Thế rồi tỳ khưu tiến đến thành Sāvatthi cùng ngày hôm đó do sức mạnh thần thông của ngài Devapputta. Ngài đến khu rừng Jeta, đến đảnh lễ Đức Phật, chào Ngài rồi đưa cho Ngài một cặp áo khoác. Thế roi Ngài hỏi vấn đề đó với Đức Phật, Đức Thế Tôn coi vấn đề này là nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Pháp cho tăng đoàn đang tụ tập tại đó. Giáo lư của Đức Phật đă đem lại lợi ích cho nhiều chúng sanh.

 

-ooOoo-

 

[193] Kammaṭṭhānaṃ: các đề mục thiền được chia thành: 10 đề mục thiền kasinas, 10 đề mục thiền về bất tịnh, 10 đề mục thiền niệm sổ tức quan, 4 đề mục tứ vô luợng tâm, 4 quán tưởng vô sắc, nhận thức về điều ghê tởm vật thực và phân tích các đại. Xin đọc thanh tịnh đạo Ch. III – XI.

[194]. Chú giải Be Se giải thích là attano attano bản văn kinh tạng ghi là attano.

[195]. Sakyaputtiyānaṃ, xin đọc B of Disc ii tr. xliv-xlvi.

[196]. Rukkhadevatā; trong PvA 5 ở trên việc tái sanh như vậy được coi như thấp hơn điều đă đạt tới được.

[197]. Xin đọc PvA 244 dưới đây.

[198]. Vimānaṃ.

[199]. Chú giải Se Be giải thích là pajjalita- giống như ở trên c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là jalita-

[200]. Giải thích là dinnān ’imissā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là dinnāni missā.

[201]. Bản văn ghi là kiṭakā. chú giải Se Be kitakā từ này h́nh như không chắc chắn và không xuất hiện ở nơi nào khác.

[202]. Chú giải Se Be giải thích là bhakkhati c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là bhakkā ti.

[203]. Chú giải Se be giải thích là tāva-d-eva pātubhūtani c̣n bản văn ghi là tāva devapātubhūtani

[204]. Chú giải Se Be giải thích là kitakakaṇtākasadisāni c̣n bản văn ghi là kiṭakasadisāni.

[205]. Chú giải Se Be cũng giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là kiṭak.

[206]. pāṇaka; ư nghĩa này không thấy ghi trong PED nhưng Childers cho là ḍi bọ, côn trùng, rồi nhặng v.v…

[207].Chú giải Se Be giải thích là āsevanatāya c̣n bản băn ghi làāsevanāya.

[208]. Chú giải Se Be giải thích là thaddhamaccharinī c̣n bản văn ghi là thadda.

[209]. Chú giải Se Be giải thích là yen’ ākārena c̣n bản văn ghi là yenā pi kārena.

[210]. Chú giải Be giải thích là akkuṭṭhaṃ c̣n bản văn ghi là akaṭṭha; Se giải thích là akaṃ.

[211]. Chú giải Se Be giải thích là ten’ ev’ ākārena c̣n bản văn ghi là tena vā kārena.

[212]. Chú giải Be giải thích là akkuṭṭhaṃ c̣n bản văn ghi là akaṭṭha: Se giải thích là akantaṃ.

[213]. Toàn bộ bản văn đều khác nhau rất nhiều và toàn bộ h́nh như đă không c̣n nữa….

[214]. Chú giải Se Be giải thích là bhikkhum āha c̣n bản văn ghi là bhikkuṃ ārabbha…āha.

[215] Chú giải Se Be giải thích là dibbavatthanivatthā c̣n bản văn ghi là dibbavatthāni vatthā.

[216]. Devaccharā, các vị apsara phệ đà.