|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
III.3 Chú giải chuyện ngạ quỉ BÊN BỜ
HỒ ‘Có cột bằng ngọc bích, rực rỡ, toả sáng.’ Đạo sư đă thuật lại chuyện kể này khi ngài đang lưu lại trong thành Sāvatthī liên quan đến nữ ngạ quỉ kia. Người ta kể lại rằng, đă lâu lắm rồi vào thời Phật Tổ Kassapa, có một nữ ngạ quỉ có hạnh thiện lại t́m được niềm tin nơi Phật Pháp thông qua liên hệ với người bạn rất dễ thương.[112] Nàng đă cho xây một nơi cư trú vô cùng khả ái rất cân đối với những bức tường trang trí, các cây cột chống đỡ, các cầu thang lên xuống và sàn trệt[113]. Nàng mời các tỳ khưu đến hành thiền, chăm sóc cho họ với những vật thực chọn lọc kỹ và dâng cho tăng đoàn các tỳ khưu ngôi nhà đó. Đến thời điểm qui định nàng qua đời và do nghiệp khác biệt xấu xa đă làm, nàng phải tái sanh thành thiên cung ngạ quỉ gần bờ hồ Rathakara[114] trên núi Himālaya, vua các ngọn núi. Nhờ vào sức mạnh phước báu nàng đă bố thí nơi cư trú đó cho Tăng đoàn đă nổi lên, giữa đầm sen và được trang điểm giống như Cánh Rừng Nandana, một thiên cung rộng lớn toàn bộ bằng châu báu khắp bốn bề rất hấp dẫn mê ly và khả ái. [187] Trong khi đó chính nàng có làn da vàng óng, kiều diễm, trông rất đáng yêu và hấp dẫn. Chính nàng đă cư ngụ trong đó hưởng thụ tất cả những thù thắng chư thiên, nhưng rất cô đơn do chẳng có người đàn ông nào trong thiên cung đó trong một thời gian dài. Nàng trở nên bất măn nghĩ rằng, ‘Ta sẽ bầy ra một mẹo!’, nàng thả theo ḍng nước sông một số quả xoài chín chư thiên. Mọi t́nh tiết cũng nên hiểu như đă tŕnh bày trong chuyện kể Vô Nhĩ Khuyển Cẩu Chuyện Ngạ quỉ[115]. Tuy nhiên ở đây chỉ khác một chi tiết đó là có một chàng trai là cư dân thành Bernares đă nh́n thấy số quả xoài đang trôi trên sông Hằng. Đến đúng thời điểm chàng đă ra đi t́m hiểu xem những quả xoài này từ đâu trôi tới đây, chàng bắt gặp ḍng sông[116] và lần theo ḍng sông đó chàng đă đến chỗ ở của nàng. Vừa khi nh́n thấy chàng nàng liền dẫn chàng đến nơi ở của ḿnh và chào đón chàng và để chàng ngồi xuống. Khi chàng nh́n thấy vẻ tuyệt hảo nơi nàng cư ngụ, chàng đă thốt lên những đoạn kệ này mô tả về thiên cung của nàng: 1. Có cột bằng ngọc bích[117], lấp lánh, rực rỡ cùng với vô số tranh vẽ tường đó là thiên cung nàng đang cư ngụ và nghỉ ngơi, ôi chư thiên đầy uy lực, giống như mặt trăng rằm[118] sáng tỏ. 2. Và nước da của nàng giống như vàng tan chảy. Tướng vẻ diện mạo sáng chói của nàng vô cùng[119] khả ái, nhưng nàng một ḿnh ngồi trên chiếc giường tuyệt trần không ǵ sánh nổi. Xem ra nàng không có chồng th́ phải. 3. Khắp tứ phía thiên cung có đầm sen vây quanh, hoa nở dồi dào với bao nhiêu bông hoa và toả ra một bụi vàng. Không thấy bất kỳ bùn đất và bèo tấm[120] xuất hiện tại đó. 4. Những đàn thiên nga vô cùng kiều diễm và dễ thương, [188] lội quanh trên mặt nước mọi lúc và kéo thành đàn đông đảo. Chúng líu lo sướng lên những tiếng hót[121] vô cùng hấp dẫn giống như tiếng trống[122] định âm chư thiên. 5. Trong vinh quang chói sáng và lộng lẫy, nàng ngồi tựa trên chiếc thuyền nghỉ ngơi thoải mái với đôi mi rộng, hoan hỉ với giọng nói vô cùng hấp dẫn[123] tứ chi nàng nơn nà ú nụ và toả sáng vô cùng rực rỡ. 6. Cung điện này vô tỳ vết và hiên ngang đứng thẳng, với những công viên làm tăng vẻ đẹp vui thú và khoái lạc cho nàng. Hỡi công nương với vẻ đẹp kiều diễm, ước chi ta được tận hưởng với nàng ở đây ngay chốn khoái lạc này.[124] 1. Về điểm này tại đó (tattha): trong thiên cung đó. Nàng nghỉ ngơi (acchasi): nàng ngồi nghỉ, nàng cư ngụ, cho đến bất cứ khi nào nàng muốn. Ôi nữ chư thiên (devi): chàng đang nói với nàng. Có đầy uy lực dũng mănh (mahānubhāve): được phú bẩm với sức mạnh oai lực chư thiên. Đang trong khi chạy nhanh (pathaddhani): đang trên đường tiến tới, có nghĩa là đang trên đường xuyên qua các khoảng không tiến về thiên giới. Giống như mặt trăng rằm (pannarase va cando) có nghĩa là toả sáng giống như vầng sáng bao quanh mặt trăng rằm sáng tỏ. 2. Và nước da của nàng trong tựa chất vàng chảy lỏng (vaṇṇo ca te kanakassa sannibho): nước da của nàng vô cùng hấp dẫn, trông giống như vàng chảy lỏng. V́ lư do đó có lời nói rằng, ‘h́nh tướng[125] chói sáng của nàng trông thật là kiều diễm.’ Vô song (atule) có giá trị lớn, hay nói cách khác chúng ta nên giải thích là ‘Ôi hỡi hạng người vô song (atule), đây chính là cách để nói với các chư thiên, có nghĩa là “Hỡi nàng có sắc đẹp vô song.”Nàng không có chồng: n’atthi tuyhaṃ sāmiko = sāmiko ca tuyhaṃ n’atthi[126] (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). 3. Có nhiều loại hoa (pahūtamālyā): có rất nhiều loại hoa khác nhau như hoa sen, hoa súng xanh v.v... [189] với đủ thứ bụi vàng (suvaṇṇacuṇṇehi): với cát[127] vàng. Trải ra khắp (samant’otatā): trải rộng khắp. Ngay tại đó (tattha): trong những đầm sen đó. Bùn và bèo tấm (panko paṇṇako ca): không có bùn cũng không thấy có chút rong rêu[128] nào bám vào. 4. Những chú thiên nga duyên dáng và khả ái (haṃsā pi me dassanīyā manoramā): những chú thiên nga trong thật duyên dáng và dễ thương. Lướt quanh (anupariyanti): di chuyển lên xuống. Trong mọi thời điểm (sabbadā): khắp bốn mùa. Tụ tập lại với nhau (samayya): xuất hiện chung với nhau. Thật duyên dáng (vaggu): ngọt ngào dễ thương. Nổi lên tiếng hót (upanadanti): kêu cúc cu. Tiếng hót không ngớt (bindussarā): tiếng hót không gián đoạn, tiếng hót không ngừng. Giống như tiếng trống định âm (dundubhīnaṃ va ghoso) có nghĩa là tự bản chất tiếng hót liên tục không dứt của những chú thiên nga trên đầm sen giống như những tiếng trống định âm. 5. Chói sáng (daddaḷhamānā): chiếu sáng rực rỡ. Trong vẻ vinh quang của nàng (yasasā) với sức mạnh thần thông của một chư thiên. Trong chiếc thuyền của nàng (nāvāya): trong chiếc thuyền[129] của nàng, ngài nói về việc nàng ngạ quỉ[130] đang thụ hưởng hoan hỷ trên mặt nước hồ sen ngồi trên chiếc chơng bằng vàng rất giá trị, giống như chiếc thuyền làm bằng hoa sen[131] trên mặt hồ sen. Nàng đang tựa lưng: avalamba=olambitvā (một dạng ngữ pháp hoán chuyển); tựa lưng vào một giá đỡ[132]. Nàng đang nghỉ ngơi (tiṭṭhasi): đây là cách diễn đạt đối nghịch lại với chuyển động[133] do nàng dừng mọi di chuyển có nghĩa là ‘nàng đang ngồi yên. Với đôi mi rậm (āḷārapamhe): có cặp lông mi dài, đen tuyền và cong. Vui tươi (hasite) : đầy vui vẻ, với gương mặt vui vẻ, tươi rói. Ăn nói duyên dáng (piyaṃvade): ăn nói rất có duyên. Tứ chi kiều diễm (subbaṅgakalyāni) mọi tứ chi đều rất đẹp, tứ chi của nàng rất hấp dẫn, kê cả to lẫn nhỏ. Nàng chói sáng (virocasi) nàng chiếu sáng. 6. Vô tỳ vết (virajaṃ): không khuyết điểm, không lỗi lầm. Đứng ngang bằng (same ṭhitaṃ) nàng đang đứng trên một mảnh đất cao (sama bhūmighāge); hay nói cách khác, do vẻ đẹp kiều diễm của nàng tỏa lan khắp tứ phương[134] thiên hạ, đứng trong tư thế ngang bằng (samabhāge), có nghĩa là hoàn hảo trong đủ mọi phương diện. Có được nơi các công viên (uyyānavantaṃ): giống như trong khu rừng Nandana. Làm gia tăng niềm mê thích và khoái lạc. (ratinandivaḍḍhanaṃ) : làm tăng thêm sự mê thích và khoái lạc cho nàng [190] đây chính là việc kích thích gia tăng ḷng mê thích và khoái cảm, có nghĩa là tạo cho hạnh phúc và hoan hỷ của nàng tăng thêm. Hỡi Công Nương (nāri): đây là cách nói với nàng, với sắc đẹp tuyệt trần (anomadassane): Trông nàng rất ngây thơ vô tội do nàng có được mọi thứ hoàn hảo trên thân ḿnh, cả to lẫn nhỏ[135]. Giữa khoái lạc này (nandane): giữa những ǵ tạo khoái cảm. Ở đây (idha) : Ngay trong “khu rừng Nandana” này hay nơi thiên cung của nàng. Để tôi cũng được tận hưởng (modituṃ): ta cũng ước ao được hưởng cảm khoái t́nh yêu đây là cách chúng ta nên phân tích. Khi chàng thanh niên nói lên những lời này Thiên Cung Ngạ quỉ[136] liền thốt lên đoạn kệ sau đây để trả lời cho chàng: 7. Hăy thực hiện công việc ǵ để chàng có thể lưu lại đây với em và mong rằng tâm chàng thiên [137] về điều đó’ khi chàng thực hiện nghiệp đó để được tận hưởng những ǵ có ở đây th́ chàng sẽ có được em và em sẽ thoả măn mọi ước mơ cho anh.’ 7. Về vấn đề này, hăy thực hiện một việc ǵ đó ngay tại nơi đây (karoti kammaṃ idha vedaniyaṃ) : hăy thực hiện, anh nên theo đuổi một phước báu để khi chín mùi sẽ đem lại kết quả nơi chốn thần tiên này. hăy hướng tâm về điểm này (idha nataṃ): hăy thiên về nơi đây; một cách giải thích khác là hăy lướt đến đây (idha ninnaṃ) có nghĩa là hăy để cho tâm hăy cho phép tâm chàng lướt đến đây, hướng về đây thiên về[138] chỗ này. Em: mamaṃ = maṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Chàng sẽ đạt được: lacchasi = labhissasi ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Khi chàng thanh niên trẻ nghe thấy Thiên Cung Ngạ quỉ đă phải nói ra, chàng đă rời khỏi chỗ đó theo những cách chúng sanh thường làm; chàng nhớ kỹ vị trí đó và về nhà thực hiện phước báu thích hợp và chàng đă qua đời không lâu sau đó, và đă được tái sanh tại đó cùng với nữ ngạ quỉ[139]. Các vị kiết tập Kinh tạng đă thốt lên đoạn kệ kết luận giải thích vấn đề như sau đây: 8. ‘Chàng đồng ư nói rằng, “được rồi” và đă thực hiện một phước báu để được sống tại đó[140] (với nàng). Khi chàng đă thực hiện được phước báu để đến sống với nàng tại đó chàng trai đă qua đời và được tái sanh đến cùng nàng. 8. [191] Về điểm này Tốt lắm (sādhu). Đây là một tiểu từ diễn ta sự đồng ư. Của nàng (tassā): đó là thiên cung ngạ quỉ đó. Chàng tỏ ra đồng ư (paṭisuṇitvā) chàng đồng ư với những ǵ nàng đề nghị. Để được sống ở đó (với nàng) (tahiṃ vedanīyaṃ): một phước báu tạo hạnh phúc để được sống với nàng nơi thiên cung. Cùng với nàng (sahavyataṃ): sống chung với. Chàng thanh niên được tái sanh để sống chung với nàng, đây là điều ta cần phân tích. Sau khi họ đă được hưởng hạnh phúc thiên giới tại đó trong một thời gian dài người đàn ông qua đời do phuớc nghiệp đó đă cạn kiệt nhưng người phụ nữ th́ lưu lại đó thêm một Phật kỷ nữa do phước báu của nàng đă gieo vào mảnh đất đó (phước điền)[141] Thế rồi khi Đức Phật chúng ta xuất hiện trên thế gian này và ngài đă khởi động Chuyển Pháp Luân và đến thời kỳ ấn định ngài lưu lại trong khu rừng Jeta. Một hôm khi Trưởng lăo Mục Kiền Liên (Mahāmoggallana) đang di chuyển trên những ngọn núi cao đă nh́n thấy thiên cung đó và cả thiên cung ngạ quỉ nữa và ngài đă hỏi nàng với đoạn kệ bắt đầu như sau: ‘Có cột trụ bằng ngọc bích lấp lánh, rực rỡ.’ Nàng đă tường thuật toàn bộ biến cố cho ngài nghe ngay từ đầu và khi ngài đă nghe được chuyện kể này ngài liền đến Sāvatthī và nêu vấn đề với Đức Phật, ngài liền lấy vấn đề đó như một nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Pháp cho đám đông tụ tập tại đó. Khi nghe được biến cố này, họ đă thực hiện nhiều phước báu như bố thí v.v... và trở nên say mê Phật Pháp.
-ooOoo-
[112] kalyāṇamitta, là từ chuyên môn chỉ người hướng dẫn tinh thần hay người cố vấn [113]. Be ghi là suvibhattavicitrabhittithambhasopānabhūmitalaṃ (Se bỏ qua bhitti) bản văn ghi suvibhattavicittathambasopāṇabhūmitalaṃ. [114]. Một trong bảy chiếc hồ lớn – xin đọc chú giải PvA 152 ở trên. [115]. II 12. [116]. Chú giải Se Be giải thích là nadiṃ c̣n bản văn ghi là na. [117]. Chú giải Se Be giải thích là thambhaṃ c̣n bản văn ghi là thambaṃ. [118]. Chú giải Se Be và chú giải dưới đây giải thích là panarase c̣n bản văn ghi là pannasare. [119]. Chú giải Se Be giải thích là bhusa c̣n bản văn ghi là bhūsa; mục từ sv bhusa trong PED nên được giải thích, chú giải J v 203. [120]. Paṇṇaka; tôi chấp nhận Ñāṇamoli, Thanh tịnh đạo. Tr. 280. Chú giải Se v 122; Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 187 232, 235; J iv 71; Miln 35; Vin iii 177. [121]. Chú giải Se Be giải thích là bindussarā c̣n bản văn ghi là vindussara; chú giải Sn 350. Thag 1270 và D ii 211 trong đó có một trong số tám phẩm chất giọng nói của vị Brahmā Sanaṃkumāra. [122]. PED sv ghosa đă gán sai âm thanh này cho các ngạ quỉ lại gợi ư là nên giải thích là tiếng ‘Than văn” [123]. Chú giải Se Be giải thích là piyaṃvade c̣n bản văn ghi là piyavade. [124]. Nandane, cách ám chỉ khu rừng Nandana trong thiên giới các vị dạ xoa; chú giải III i19. chúng ta có thể giải thích là “nằm giữa khu rừng Nandana” này [125]. Chú giải Se Be và đoạn kệ v 2 giải thích là uttattarūpo c̣n bản văn ghi là uggatarūpo. [126]. Chú giải Se Be giải thích là n ’atthi ca tuyha-sāamiko ca ṅ’atthi: ư nghĩa vẫn y nguyên. [127]. Chú giải Se Be giải thích là suvaṇṇa- c̣n bản văn ghi là suvanna- [128]. Chú giải Se giải thích là udakapicchilo (Be-picchillo) c̣n bản văn ghi là udakacchikkhalo, đó là nước và đầm lầy ( chú giải PvA 102, 225) v́ ở đây h́nh như có điều ǵ đó gây ô nhiễm cho đầm trồng sen này. [129]. Doṇiyaṃ; PED sv doṇī khẳng định đây chiếc ca nô có đáy bằng làm bằng gố undi và kanarase doni. ở đây chiếc tàu trông giống như một búp sen, và c̣n nhiều ư nghĩa tương tự. [130]. Chú giải Se Be lại c̣n thêm petim vào đây. [131]. Chú giải Se Be giải thích là paduminiyaṃ suvaṇṇanāvāa c̣n bản văn ghi là paduminisuvaṇṇanavaya. [132]. Chú giải Se Be giải thích là apassenaṃ c̣n bản văn ghi là apāssena. [133]. Chú giải Be giải thích là gatiyā c̣n bản văn ghi là patiyā ca. [134]. Chú giải Se Be giải thích là caturassa sobhitatāya aninditadassane c̣n bản văn ghi là paripuṇṇaṅgatāya nandanadassane; xin đọc chú giải Sn 548 và SnA 452. hoàn hảo về thân xác luôn được coi là quả của phước báu và nghiệp thiện giống như thể ba mươi hai tướng trên diện mạo của Đức Phật – xin đọc chú giải D iii 142tt. [135]. Chú giải Se Be giải thích là caturassa sobhitataya c̣n bản văn ghi là caturamsaso hitāya [136]. Bản văn của chúng ta cũng như chú giải Se; Be giải thích là vimānapeti devata [137]. nataṃ; Se be giải thích là nihitaṃ trong khi đó Pv lại có nītaṃ. [138]. Chú giải Trung Bộ Kinh (M) i 493 để dùng từ này cách song hành. [139]. Chấm câu của bản văn nên sửa lại để giải thích sao cho khớp với chú giải Be Se như sau: …tattha nibbatti tassā petiyā sahaviyataṃ, taṃ … [140]. Chú giải Se Be và tập chú giải dưới đây giải thích là tahiṃ vedanīyaṃ c̣n bản văn ghi là sahanvedaniyaṃ; PED không có mục từ nào dành cho tahiṃ. [141]. Có nghĩa là Phước Đồng vô song trên thế gian này.
|
|
![]()