|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG III
TIỂU PHẨM
III.1 Chú giải chuyện ngạ quỉ BẤT
ĐÁNG “Không rẽ nước ra làm hai.” Chuyện kể này được thuật lại khi Đạo sư đang lưu lại trong Khu Rừng Trúc liên quan đến một ngạ quỉ đă từng là một thợ săn. Người ta kể lại rằng vượt qua sông Hằng về hướng tây[1] thành Bernares khi bạn đi về hướng[2] ngôi làng Vasabba tại đó có một người thợ săn trong ngôi làng tên là Cundaṭṭhila. Hắn ta có thể bắn hạ nai trong rừng, ăn phần ngon nhất bằng cách nướng trên than hồng rồi bỏ phần c̣n lại trong chiếc giỏ lá và quảy số thịt c̣n lại trên chiếc sào đem về làng. Khi những đứa trẻ trong làng nh́n thấy tên thợ săn ngay tại cổng làng chúng chạy ùa tới gặp hắn và chia tay xin nói rằng, ‘Xin cho chúng cháu một ít thịt nai! Xin cho chúng cháu một ít thịt nai!’ Cứ mỗi lần như vậy hắn lại cho bọn trẻ một ít. Thế rồi một ngày kia hắn chẳng bắt được sự ǵ hết. [169] Hắn ta liền tự trang điểm bằng những bông hoa uddāla[3] và cũng c̣n cầm trong tay một số hoa nữa và đi về làng. Khi lũ trẻ nh́n thấy hắn về ngay cổng làng chúng cũng chạy ra và giơ những bàn tay nói rằng, ‘xin cho chúng cháu một ít thịt! Xin cho chúng cháu một ít thịt!’Anh ta liền cho mỗi đứa trong bọn một nhánh hoa. Đến thời điểm ấn định anh thợ săn đă qua đời và phải tái sanh nơi cơi ngạ quỉ. Lỏa lồ và xấu xa kinh dị trông rất khủng khiếp. Không biết đến đồ ăn thức uống là ǵ nữa, ngay cả trong giấc mơ. Và với những bó hoa uddāla buộc vào đầu, hắn có thể tiếp tục lội ngược ḍng sông Hằng, mà không làm rẽ nước ra làm hai, nghĩ rằng, ‘Ta sẽ kiếm được chút ǵ để ăn từ nơi những người họ hàng ruột thịt của ḿnh tại làng Cundaṭṭhia.’ Bấy giờ vào lúc đó có vị quan đại thần của nhà vua Bimbisara, tên là Koliya, đang trở về sau khi đă dẹp yên được cuộc nổi loạn tại vùng biên cương; sau khi đă truyền lệnh cho đoàn tượng binh và kỵ binh v.v... đi trên bộ và chính vị ấy lại đi thuyền xuôi ḍng sông Hằng khi tướng quân nh́n thấy ngạ quỉ đó tiến lại theo cách đó và thốt lên đoạn kệ này để ḍ hỏi: 1. ‘Nhà ngươi di chuyển trên sông mà không làm rẽ nước sông Hằng ra làm hai; nhà ngươi loả lồ ấy vậy mà trán nhà ngươi trông không giống một ngạ quỉ, được trang điểm, lại c̣n đeo ṿng hoa. Nhà ngươi đi về đâu đó, hỡi ngạ quỉ, và chỗ cư ngụ của nhà ngươi ở đâu? 1. Về điểm này không làm nước rẽ làm hai (abhijjamāne): giữ liền lại với nhau mà không rẽ[4] nước ra làm hai để lội bộ qua sông. Nước sông Hằng (vārimhi Gaṇgāya): nước sông Hằng. Ở đây (idha): ngay tại địa điểm này. Tuy nhiên phần đằng trước của nhà ngươi trông không giống ngạ quỉ chút nào (pubbaddhapeto[5] va): phần đằng trước của nhà ngươi trông không giống ngạ quỉ chút nào. – mà lại giống Devaputta không thuộc cơi ngạ quỉ. Tại sao vậy? Được trang điểm, đeo ṿng hoa (mālādhāri alaṅkato) có nghĩa là trên đỉnh đầu[6] được trang điểm, được đeo những ṿng hoa. Chỗ cư ngụ của nhà ngươi ở đâu vậy? (kattha vā so bhavissati): trong ngôi làng hay một địa điểm nào làm nơi cư trú của nhà ngươi, có nghĩa là hăy cho ta biết điều này. Bấy giờ để chỉ cho biết điều ǵ được nói trong thời điểm đó do ngạ quỉ và do Koliya các vị kiết tập Kinh Tạng [170] đă nói những đoạn kệ sau: 2. “Ta đang đi đến ngôi làng Cundaṭṭhila,” ngạ quỉ nói, “giữa ngôi làng Vāsabha, bên phần phụ cận với thành Bernares.” 3. Và khi ngạ quỉ nh́n thấy vị quan đại thần, và Koliya nổi tiếng, đă cho ngạ quỉ một bữa ăn lúa mạch, cùng với đồ ăn và một bộ y phục màu vàng. 4. Khi chiếc thuyền của vị đại thần dừng lại ngạ quỉ đă nhận những thứ đó từ tay người thợ cạo; khi những thứ đó đă được biếu cho người thợ cạo, th́ ngay lập tức chúng được nh́n thấy trong bụng ngạ quỉ. 5. Từ đó ngạ quỉ được ăn mặc chỉnh tề, được trang điểm, mang ṿng hoa; đứng ngay vị trí đó vật thí đă đem lại lợi ích cho ngạ quỉ. – chính v́ thế chúng ta thỉnh thoảng phải bố thí v́ ḷng thương xót ngạ quỉ. 2. Về điểm này đến Cundaṭṭhila (Cundaṭṭhilaṃ): đến ngôi làng có tên như vậy. Giữa ngôi làng Vāsabha, trong vùng phụ cận thành Bernares (antare Vāsabhagāmaṃ Bārāṇasiyā santike): nằm giữa quăng đường từ ngôi làng Vāsabha đến thành Bernares. V́ giới tự antarā [7] ngôi làng Vasabha (Vāsabhagāmaṃ) lại ở đối cách nhưng hiểu theo nghĩa thuộc cách[8], v́ ngôi làng nằm trong vùng phụ cận thành Bernares. Đây chính là ư nghĩa.[9] ‘Ở giữa’ (antare) ngôi làng Vasabha và Bernares, không xa thành Bernares là bao, là ngôi làng có tên là Cundaṭṭhila – tôi đang đi đến ngôi làng này. 3. Vị trưởng lăo nổi tiếng tên là Koliya (Koliya iti vissuto): với tên[10] rất quen thuộc là Koliya. Bữa ăn bằng lúa mạch và đồ ăn: sattubhattañ ca = sattuñ c’eva bhattañ [11] ca ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Ban cho... và một cặp (áo cà sa) màu vàng (pītakañ ca yugaṃ adā): bố thí... và một cặp y phục màu vàng, vàng óng. Trong trường hợp này (nên hỏi): khi nào ngài ban cho y phục này? ngài[12] cho biết: 4. Khi chiếc thuyền đậu lại ngài đă đưa (cặp y phục) cho người thợ cạo (nāvāya tiṭṭhamānāya kappakassa adāpayi): ngài đă dừng chiếc thuyền đang đến và ngài đă đưa cho một người giúp việc tắm[13] ông ta cũng là một thiện nam; khi cặp y phục được trao tặng.- đây là cách cần được phân tích. Ngay tức khắc: ṭhāne = ṭhānaso (một dạng ngữ pháp hoán chuyển); ngay lúc đó. Họ nh́n thấy ngạ quỉ (petassa dissatha): họ quan sát thấy trên thân ḿnh ngạ quỉ; xuất hiện áo lót và áo choàng. V́ lư do đó có ngài12 nói rằng: 5. [171] Nhân đó, được mặc vào những bộ y phục tuyệt đẹp, được trang điểm, đeo vào những ṿng hoa (tato savatthevasmo mālādhārī alaṅkato): ngài mặc đồ[14] đẹp và được trang điểm diễm lệ với ṿng hoa v.v... Ở vào vị thế cho thấy vật thí đem lợi lại cho ngạ quỉ đó (thāne ṭhitassa petassa dakkhiṇā upakappatha): tuy nhiên của bố thí đó lại ở vào vị thế dành cho kẻ xứng đáng nhận những phước thí đó v́ vật thí đó có lợi cho ngạ quỉ đó, v́ vật thí đó ngạ quỉ có thể sử dụng. Chính v́ thế chúng ta luôn luôn bố thí do ḷng từ bi quảng đại dành cho ngạ quỉ (tasmā dajjetha petānaṃ anukampāya punappunaṃ) có nghĩa là chúng ta nên thường xuyên bố thí do ḷng từ bi quảng đại đối với các ngạ quỉ, dành cho các ngạ quỉ. Bấy giờ vị đại thần Koliya, cảm thấy thương hại ngạ quỉ đó, đă đem lại h́nh thức bố thí đó cho các ngạ quỉ và rồi ngài xuôi ḍng sông Hằng và đến thành Bernares vào lúc mặt trời mọc. Đức Phật đă xuất hiện trên không trung v́ muốn giúp[15] đỡ họ, đang đứng trên bờ sông Hằng. Vị Đại thần Koliya đă xuống khỏi thuyền và quá phấn trấn trong ḷng, liền mời Đức Phật nói rằng, ‘Thưa Đức Thế Tôn, xin dủ ḷng thương mà nhận lời mời của ta, dùng bữa với chúng ta trong ngày hôm nay.’ Đức Phật đă im lặng nhận lời. Khi ngài đại thần biết Đức Phật đă nhận lời, ngay lập tức ngài đă cho dựng lên trên một mảnh đất khả ái một nhà nghỉ mát bằng cành lá cây rất rộng được trang hoàng lộng lẫy và trang trí với nhiều màu sắc đa dạng và giăng lên tứ phía nhiều tấm vải đủ màu và rồi dâng tặng Đức Phật một chỗ ngồi vị đại thần đă cho sửa soạn trong đó. Đức Phật đến ngồi vào vị trí được chỉ định, thế rồi vị đại thần tiến lại gặp Đức Phật, kính lễ ngài với hương nhang và hoa v.v... đảnh lễ ngài và ngồi xuống một bên. Tường tŕnh cho ngài những ǵ vị đại thần đă nói và câu trả lời của ngạ quỉ như đă đề cập đến ở trên. Đức Phật quả quyết, ‘mong rằng tăng đoàn có mặt tại đây!’ ngay sau khi Đức Phật đă ra lệnh như vậy th́ tăng đoàn các tỳ khưu, do oai lực của ngài thôi thúc, đă vây quanh pháp vương giống như đoàn thiên nga óng ả toàn màu vàng vây quanh Dhatarattha, vua[16] thiên nga.[17] Dân chúng tụ tập lại ngay lúc đó nghĩ rằng, ‘ Sắp sửa diễn ra một việc diễn giải Phật Pháp long trọng tại đây.’ Khi chứng kiến quang cảnh này vị đại thần với ḷng đầy tịnh tín, thoả măn với tăng đoàn các vị tỳ khưu cùng với Đức Phật dẫn đầu bắt đầu sử dụng vật thực và thức uống cả mềm và cứng. Khi họ đă dùng xong bửa xuất phát từ ḷng từ tâm của ngài đối với chúng sanh lại tập trung ư nghĩ rằng, ‘Mong rằng những kẻ đang tụ tập xung quanh thành Bernares tụ tập lại tại đây!’Và toàn bộ chúng sanh đó thông qua oai lực thần thông của ngài đă tụ tập lại tại đó. Thế rồi ngài đă khiến cho rất nhiều ngạ quỉ hiện h́nh và dân chúng đă chứng kiến bằng chính mắt ḿnh các ngạ quỉ đó hiện nguyên h́nh. Một số trong họ đă mặc những y phục rách rưới bèo nhèo bị xé thành những miếng nhỏ chắp lại; [172] một số lại e ngại[18] che thân ḿnh bằng mái tóc dài của ḿnh, trong khi đó lại có những kẻ loả lồ như lúc mới sanh ra[19], bị đói khát hành hạ, với những làn da và tấm thân teo tóp lại chỉ c̣n có da bọc xương, và đang di chuyển đây đó cách này cách khác. Đức Phật lại lấy sức mạnh thần thông của ngài qui tụ họ lại vào cùng một vị trí và công bố cho chúng sanh biết những ác nghiệp họ đă làm. Các vị kiết tập Tạng Kinh thốt lên những đoạn kệ sau đây để làm rơ vấn đề: 6. Những ngạ quỉ đă hiện nguyên h́nh, một số mặc những y phục giống như giẻ rách, một số khác che thân bằng mái tóc dài của ḿnh, đang đi khắp nơi t́n kiếm của ăn thức uống, và tỏa ra khắp tứ phương. 7. Một số chạy ra xa nhưng lại quay trở lại do không kiếm được thứ ǵ bỏ vào bụng, đói khát, mệt lả, lảo đảo rồi ch́m xuống ḷng đất. 8. Và một số ngă quỵ xuống, ch́m xuống ḷng đất, vật vă như thể đang bị lửa đốt do không thực hiện được bất kỳ phước báu nào trong quá khứ. 9. “Trong quá khứ chúng ta đă là những người vợ và người mẹ trong những gia đ́nh tốt; cho dù có được những vật thí trong tầm tay chúng ta đă không tạo được những nơi nương tựa cho chính ḿnh. 10. Cho dù thức ăn đồ uống thật dồi dào – quá nhiều đến nỗi[20]phải dục bỏ đi – ấy vậy mà chúng ta đă không bố thí sự ǵ cho những kẻ đă đạt đến thù thắng[21]tột đỉnh, cho những kẻ đă xuất gia. 11. Chỉ muốn làm những ǵ không được làm, lười biếng, chỉ muốn những điều ngọt ngào[22]và tham ăn, tham uống, chúng ta chỉ bố thí[23] chút đỉnh, từng miếng nhỏ và c̣n chế nhạo những kẻ nhận vật thí đó nữa. 12. Những nhà cửa, đầy tớ và những đồ trang sức đắt tiền của chúng ta - giờ đây những kẻ khác đang thừa hưởng[24] trong khi đó chúng ta lại phải chịu cảnh khốn cùng. 13. Họ sẽ trở thành những kẻ đan thúng mủng[25] bị khinh miệt, những người đóng xe quỉ quyệt; họ sẽ trở thành các Chiên đà la[26] gặp đủ mọi khó khăn to lớn và thỉnh thoảng c̣n phải đóng vai những kẻ hầu hạ cho thiên hạ tắm. 14. [173] Bất kỳ gia đ́nh nào thấp kém và phải trải qua những khó khăn lớn. – chính họ lại phải tái sanh vào những nơi đó. Đây chính là định mệnh dành cho những kẻ bủn xỉn ích kỷ vậy. 15. Trong khi đó những kẻ bố thí hào phóng đă thực hiện những phước báu trong quá khứ sẽ tràn ngập thiên giới và khiến bừng sáng cơi Nandana. 16. Khi họ đang tiêu khiển trong cung điện Vejayanta[27]và thoả măn được mọi ước nguyện của ḿnh họ c̣n được tái sanh với địa vị cao nơi những gia đ́nh giàu có khi họ được tái sanh tại đó. 17. Trong những lâu đài có tháp nhọn, trên những chiếc giường được trải bằng vải lông cừu dài[28], các chi họ được quạt[29]do những người đứng hầu quạt, nơi những gia đ́nh họ được tái sanh trong đó, được thưởng thức đủ mọi tiện nghi trong cuộc sống. 18. Được trang điểm kỹ càng, được đeo ṿng hoa và được sống[30] trong ṿng tay yêu đương của mọi người từ sáng đến tối, mọi người đều tạo thoải mái tối đa cho họ. 19. Chốn Nandana[31] thanh b́nh, hấp dẫn này nằm trong khu rừng Tam Thập Tam, chỉ dành riêng cho những kẻ nào đă thực hiện những phước báu, chứ không dành cho những kẻ nào chỉ biết đến ác nghiệp mà thôi. 20. V́ những kẻ không thực hiện phước báu chẳng t́m đâu ra hạnh phúc trên cơi đời này cũng như nơi cơi đời sau. Ngược lại những kẻ đă thực hiện phước báu th́ được hưởng hạnh phúc tức thời ngay trên cơi đời này và cả ở cơi đời sau nữa. 21. Tất nhiều[32] việc thiện đă được làm cho những ai ước nhờ vào ḷng từ tâm đối với những kẻ đă làm phước báu đem lại rất nhiều của cải cho họ nơi cơi đời này và được hưởng hạnh phúc trên cơi chư thiên. 6. Mặc vào những y phục rách rưới (sāhundavāsino): mặc vào[33] những miếng giẻ rách sờn củ. Một số: eke=ekacce (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Lấy bộ tóc dài che kín thân ḿnh (kesanivāsino): che dấu nỗi mắc cở của ḿnh bằng mái tóc dài. Đi t́m kiếm vật thực (bhattāya gacchanti): bất kỳ nơi nào họ tới đều là vị trí họ tuốn đến để t́m khiếm đồ ăn thức uống nghĩ rằng, ‘Rất có thể khi chúng ta ra đi từ nơi này chúng ta có thể kiếm được chút đồ ăn đây kia đă bị vứt đi hay ói mửa ra hay những ô uế kèm theo là những trẻ sơ sanh v.v... Tuôn ra từ tứ phía (pakkamanti diso disaṃ): ra đi tứ phía, từ những vị trí cách xa nhau nhiều do tuần. 7. Rất xa (dure): đến những vùng xa xôi. Một số (eke): một số ngạ quỉ. Chạy tán loạn (padhāvitvā): chạy đi kiếm vật thực. [174] Nhưng lại quay trở về mà chẳng kiếm được thứ ǵ (aladdhā ca nivattare): nhưng lại quay về mà chẳng kiếm được đồ ăn thức uống ǵ. Mệt lả (pamucchitā): đang trong t́nh trạng mệt lả do khổ sở v́ đói khát v.v... Lảo đảo (bhantā): quay cuồng. Ch́m xuống đất (bhūmitiyaṃ paṭisumbhitā): họ thức dậy trong t́nh trạng lảo đảo và té xuống đất giống như cục đất xét[34] được liệng xuống đất. 8. Tại đó (tattha): vị trí họ đă đến. Ch́m xuống mặt đất (bhūmiyaṃ paṭisumbhitā): họ té xuống mặt đất như thể té xuống một vực thẳm, không thể đứng vững được do những khốn khổ đói khát v.v... ; hay nói cách khác, ư nghĩa ở đây chính là họ đă mất hy vọng do đă thất bại không kiếm được bất kỳ của ǵ bỏ vào bụng v.v... tại đó, ngay tại vị trí họ đă tới, và họ đă té nhào xuống mặt đất (paṭisumbhitā): như thể có kẻ nào thù địch (paṭimukhaṃ) đă đánh gục họ (sumbhitā).[35] Do trong quá khứ đă không thực hiện được bất kỳ phước báu nào (pubbe akatakalyānā): do đă không làm được bất kỳ việc tốt lành nào nơi kiếp trước. Bị tra tấn như thể ngọn lửa thiêu đốt (aggidaḍḍha va ātape): như thể có lửa thiêu đốt tại một số địa điểm do mặt trời mùa hè oi bức.[36] Có nghĩa là phải trải qua khốn khổ lớn lao do bị thiêu đốt bằng lửa đói khát. 9. Trong quá khứ (pubbe): nơi kiếp trước. Tự bản chất độc ác (pāpadhammā): thuộc tính chất ti tiện lại hay ghen tị và bủn xỉn keo kiệt. Những người vợ (gharaṇi): nữ gia chủ trong ngôi nhà. Những bà mẹ của gia đ́nh tốt (kulamātaro): những bà mẹ có con trai thuoc các gia đ́nh tốt hay các bà mẹ những người thuộc gia đ́nh tốt. Nơi nương tựa (dipaṃ): hỗ trợ, có nghĩa là những phước báu. Được gọi là sự nâng đỡ là do đă trở thành niềm hỗ trợ cho chúng sanh nơi cơi hạnh phúc.[37] Chúng ta đă không thực hiện: nākamha = na karimha (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) 10. Dồi dào (pahutaṃ): có nhiều. Đồ ăn thức uống: annapānam pi = annañ ca pānañ ca (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Có quá nhiều đến nỗi phải quẳng đi (api ssu avakīriyati): ssu (không được dịch) chỉ là một tiểu từ. Quá nhiều đến nỗi phải ném đi (api avakirīyati): ngay cả tới mức độ phải quẳng đi. Đó chính là phải loại bỏ[38]. Đối với những ai đă đạt đến tột đỉnh (sammaggate): đối với những người đă bước lên[39] một cách chân chính, đối với những người đă ra đi một cách đúng đắn (sammāpatipanne = sammāapaṭipannāya); đối với những ai đă xuất gia (pabbajite = pabbajitāya) đây là vị trí cách trong cấu trúc tặng cách; hay nói cách khác (nếu thực sự là vị trí cách), th́ ư nghĩa sẽ là ‘cho dù những người đó đă đạt đến tột đỉnh[40], những người đă xuất gia đó, có trong tay, những ǵ có thể tận dụng được. [41] Tuy nhiên chúng ta chẳng được ǵ (na ki kiñci adamhase): do ân hận khống chế họ cho rằng họ đă bố thí ngay cả chỉ một vật thí. 11. Ước ao thực hiện điều phải làm (akammakāmā): do không muốn thực hiện những điều không được thực hiện tức là ước ao làm những ác nghiệp những người có giới đức không nên làm. Ước muốn không làm điều nên làm chính là không muốn làm điều phải làm, [175] có nghĩa là thiếu cố gắng liên quan đến các pháp thiện. Lười biếng (alasa): biếng nhác[42], thiếu cố gắng thực hiện những việc thiện. Ước ao những điều ngọt ngào (sādhukāmā): thích những điều dễ dàng và êm ái. Tham ăn (mahagghasā): ăn rất nhiều. Cả hai cách diễn đạt đều muốn làm rơ rằng mặc dù họ có cả vật thực tuyệt vời lẫn ngọt ngào họ chẳng cho những người cần đến bất kỳ miếng ǵ và chính họ đă thưởng thức một ḿnh. Chúng ta là những kẻ bố thí chỉ một miếng hay một chút vật thực (ālopapiṇdadātāro): chúng ta là những người chỉ bố thí một chút vật thực không lớn hơn một miếng. Những kẻ nhận vật thí (paṭiggahe): những kẻ nhận[43] vật thí. Chế diễu (paribhāsimhase): chúng ta nói ra những lời khinh miệt[44] có nghĩa là chúng ta dèm pha và nhạo báng. 12. Những căn nhà đó (te gharā): ở đó trước kia chúng ta đă sở hữu nghĩ rằng, ‘ngôi nhà đó là của chúng ta’: những ngôi nhà đó vẫn tiếp tục tồn tại như cũ[45] nhưng giờ đây không c̣n lợi lộc ǵ cho chúng ta nữa. – đây là ư nghĩa. Và những người giàu đó, những đồ trang sức đó của chúng ta (tā ca dāsiyo tañ evabharaṇāni no): cũng giống như vậy cũng được áp dụng trong trường hợp này. Về điểm này là sở hữu của chúng ta: no = amhākaṃ ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển); những thứ này (te): những căn nhà này v.v... ; giờ đây những người khác đang thừa hưởng (aññe paricārenti)[46] có nghĩa là được dùng làm nơi cho người khác thưởng thức v.v... Trong khi đó ta chỉ được hưởng những khốn khổ mà thôi (mayaṃ dukkhassa bhāgino): họ nói lên bằng cách tự khiển trách ḿnh nói rằng, ‘Trước kia chúng ta hoàn toàn dùng vào việc theo đuổi việc tiêu khiển, không ư thức đó là tài sản phải được bỏ lại khi chúng ta qua đời (tiến sang kiếp khác cơi chúng ta đă sống) lại không chú tâm làm những ǵ có thể theo chúng ta vào cơi đời sau; và giờ đây chúng ta được hưởng chỉ là sầu khổ do đói khát v.v... ’[47] Giờ đây v́ chúng sanh, cho dù có tái sanh nơi cơi con người sau khi đă rời khỏi cơi ngạ quỉ, theo qui luật, thuộc tái sanh thấp hơn và dẫn cuộc sống đến khổ cực hơn do nghiệp báo cũ đó nơi chính qua[48] nghiệp chúng ta đă làm, hai đoạn kệ bắt đầu như sau: (họ sẽ trở thành) người đan thúng được nói lên để làm rơ điểm này. 13. Về điểm này những người đan giỏ (veṇī vā): ngài đan giỏ bẩm sanh, có nghĩa là họ sẽ là thợ mây tre đan lát, dệt chiếu. Từ “người mà (who) (va) có nghĩa là đại từ liên kết. Bị khinh miệt (avañña): bị khinh miệt, có nghĩa là, đáng khinh ti tiện; một cách giải thích khác đó là ti tiện (vambhanā) [49]: có nghĩa là những kẻ bị người khác áp bức. Thợ đóng xe (rathakārī): những người làm yên ngựa và áo giáp.[50] Quỉ quyệt (dubbhika): quỉ quyệt đối với bạn bè, là những người ép bức bạn bè. Chiên đà la (candali): Chiên đà la theo bẩm sanh. Phải chịu vất vả quá lớn (kapaṇā) nghèo khổ, [176] người đă phải chịu cảnh cùng khổ tột độ. Những người hầu tắm (nahāmini): người thợ cắt tóc chuyên nghiệp; họ sẽ trở thành như vậy hết thời này đến thời khác. Đây là điều ta nên phân tích; có nghĩa là, họ sẽ tái sanh trong gia đ́nh nghèo hèn nơi những lần tái sanh tiếp theo sau. 14. Chỉ riêng những hạng người này họ phải tái sanh (tesu tesveva jāyanti): bất kỳ gia đ́nh nào khác, như thợ săn, và những người hốt rác v.v... phải chịu cực khổ rất nhiều và bị khinh miệt tột độ, định mệnh khổ cực nhất, cũng chính nơi những gia đ́nh nghèo khổ này mà những kẻ đă đựơc tái sanh thành ngạ quỉ do những vết nhơ ích kỷ nổi lên khi họ rơi vào cơi đó. v́ lư do này người nói rằng, “Đây chính là số phận của người ích kỷ.’ Số phận của những kẻ đă không thực hiện những phước báu sau khi đă chứng tỏ ra như vậy, bảy đoạn kệ bắt đầu như sau:) ‘(Trong khi những kẻ bố thí không bủn xỉn) trong quá khứ đă thực hiện những phước báu được đề cập đến nhằm chứng tỏ cho thấy sanh mệnh của những kẻ nào đă thực hiện được những phước báu vậy. 15. Về điểm này sẽ làm xung măn thiên giới (saggan te paripūrenti): những kẻ bố thí đó là những kẻ không ghen tị. Không c̣n bất kỳ tỳ vết ích kỷ nào, trong quá khứ, nơi kiếp trước, họ đă thực hiện những nghiệp thiện, họ đă thoả thích những phước báu như thể bố thí v.v... sẽ làm xung măn thiên giới, là cơi phạm thiên với chính thù thắng thuộc vẻ kiều diễm của họ, vào với thù thắng của đoàn tuỳ tùng của họ. Và chiếu sáng cơi Nandana (obhāsenti ca Nandanaṃ) tuy nhiên họ đă không thể làm đầy hết thảy v́ c̣n có cây ban ước v.v..cũng chiếu sáng với chính tia sáng tự nhiên mà thôi; nhưng họ lại chiếu sáng và chế ngự được cơi này bằng vẻ huy hoàng nơi y phục và đồ trang điểm cũng như do ánh sáng của chính thân xác họ và chiếu rọi nơi khu rừng Nandana. 16. Làm thoả măn mọi ước nguyện của họ (kāmakāmino): tự thọ hưởng thoả thích những dục lạc theo lựa chọn riêng của họ. Nơi những gia đ́nh có địa vị cao (uccākulesu): nơi những gia đ́nh có địa vị cao như thể các gia đ́nh Sát đế lỵ v.v... Giàu có (sabhogesu) có nhiều tài sản. Khi họ rời khỏi cơi đó (tato cuta): khi họ rời khỏi cơi đó, khỏi cơi Phạm thiên đó. 17. Trong những ngôi nhà có tháp nhọn và những cung điện (kūtāgāre ca pāsāde): cả trong những toà nhà có tháp nhọn [51] và trong những cung điện, Với các chi dược quạt mát (vījītangā): với những phần cơ thể được quạt mát.[52] Do những kẻ cầm quạt đuôi công (morahatthehi): do những kẻ cầm quạt được trang hoàng bằng lông đuôi chim công. Được thưởng lăm đủ mọi điều tiện nghi (yasassino): có được đoàn tuỳ tùng đông đảo, họ tự tiêu khiển. Đó chính là ư nghĩa ở đây. 18. Họ được chuyển từ ṿng tay này sang ṿng tay khác (aṅkato aṅkaṃ gacchanti): ngay từ thời thơ ấu chúng được chuyển từ ṿng tay này sang ṿng tay khác của những người họ hàng và vú mẫu. Chứ không bỏ trên mặt đất. đây là ư nghĩa muốn nói đến ở đây. Hầu hạ họ (upatiṭṭhanti): chăm sóc cho họ. Cố gắng chiều theo những sở thích của họ (sukhesino): ước mong cho họ được thoải mái; [177] Họ hầu hạ ngài, cho họ nơi ở, thoát khỏi mọi điều bất tiện cho dù nhỏ nhất, nghĩ rằng ‘có lẽ quá lạnh, hay có lẽ quá nóng? Đó là ư nghĩa. 19. Không dành cho những người chưa làm việc phước (nay idaṃ akatapuññanaṃ): thiếu những điều gây sầu khổ, khu rừng Nandan này thật thảnh thơi, hấp dẫn và khả ái là một công viên lớn nơi cơi Tam Thập Tam[53] thuộc các vị chư thiên nơi cơi Tam Thập, thường xuyên chỉ dành cho những người đă thực hiện được việc phước, chứ không dành cho những kẻ không thực hiện phước báu có nghĩa là không thể đạt đến được cơi đó. 20. Ở đây (idha): điều này được đề cập liên quan đến một thực chất là đây quả thật là nơi cơi chúng sanh th́ có thể thực hiện việc công đức hay nói cách khác, ngay tại nơi đây (idha): chính trong cuộc sống này. Sau này (parattha): coi cơi đời sau. 21. Thuộc về họ (tesam): với các chư thiên đă nói đến ở trên. Thuộc những người thích kết bạn (sahavyakāmanaṃ): do những người ước muốn chung sống (với họ). Được cung cấp của cải (bhogasamañgino): được phú cho của cải dồi dào. Có nghĩa là họ an hưởng của cải với năm dục lạc chư thiên, Kết quả đem lại thật hiển nhiên. Khi những ngạ quỉ đó thường tỏ rơ cho ta biết định mệnh những nghiệp họ đă thực hiện và sanh mệnh của những phước báu do Đức Phật đă diễn giải chi tiết Phật Pháp, thích hợp với từng căn tánh của mỗi người tụ họp lại đó dẫn đầu là vị cố vấn đặc biệt Koliya có tâm đầy cảm xúc. Vào lúc kết thúc thời pháp này th́ tuệ quán đă khởi sanh nơi tám mươi bốn ngàn chúng sanh.
-ooOoo-
[1] Aparadisābhāge; ư nghĩa từ apara không thấy ghi trong tự điển PED. [2]. Atikkamitvāa; ati- ở đây có nghĩa là abhi- nếu không có đối nghĩa giữa đoạn này vào v 2 và chú giải về đoạn này dưới đây. [3]. uddālakapupphaṃ, Cassia fisrula; xin đọc chú giải VvA 43, 197. [4]. Chú giải Se Be giải thích là abhijjamāne saṅghāre c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là abhijjassamānasaṅghāre. [5]. Chú giải Se Be giải thích là pubbaddhapeto c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là pubbadhepeto; thật khó ḷng hiểu được làm thế nào Gehman có thể giải thích đây là ‘như thể được giải thoát khỏi định mệnh quá khứ’như tập chú giải đă đưa ra. [6]. Chú giải Se Be giải thích là alaṅkatasīsaggo c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là –sīsattā. [7]. H́nh như ngài Dhammapāla giải thích antarā Vāsabhagamaṃ trong đoạn kệ này thay v́ antare Vāsabhagāmaṃ hiện giờ các bản văn Kinh Tạng đều giải thích như vậy. H́nh như bản dịch hiện tại đă được phục chế từ tập chú giải kế tiếp sau đó. [8]. Chú giải Se Be giải thích là sāmyatthe c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là sāmyatthe. [9]. Bản văn Kinh Tạng đă chấm câu không đúng lắm và nên sửa lại để giải thích theo chú giải Se Be như sau: …so gāmo ti; ayamh’ ettho; amtare Vāsabhagāmassa… [10]. Chú giải Se Be giải thích là pakāsitanāmo c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là pakāsananāmo. [11]. Bản văn Kinh Tạng ở đây đă ghi sai thành bhattuñ. [12]. Toàn bộ bản văn Kinh Tạng đều giải thích như vậy nhưng trước đó người ta cho rằng các vị Kiết Tập Tam Tạng đă thốt lên những đoạn kệ này. [13]. Xin đọc chú giải PvA 127 [14]. Tiếp theo sau cách chấm câu được lựa chọn trong Be; bản văn Kinh Tạng nên được sửa đổi đôi chút bằng cách kết thúc PvA với từ Tenāha; và bắt đầu một đoạn văn mới về PvA 171 với ḍng đầu tiên đoạn kệ 5. bỏ qua ti ngay trước từ mālābharaṇehi. [15]. Xin đọc Chú giải PvA 196 để biết điều ǵ có liên quan. [16]. Chú giải Se Be giải thích là rājaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là –rājānaṃ. [17]. Xin đọc chú giải J iv 425tt, 333tt, 354tt [18]. paṭicchāditakopīnā; xin đọc chú thích trong PvA 88 ở trên để biết thêm về kopīnaṃ [19]. Yathā jātarūpā, hiểu theo nghĩa đen là h́nh thức (diện mạo) giống như ta có được lúc sanh ra. trong Thanh Tịnh Đạo xvii 153tt. Buddhaghosa khẳng định rằng các petas có thể được sanh ra thông qua bất kỳ cách nào trong bốn cách sanh, sanh trứng, sanh từ ḷng mẹ, thấp sanh và hoá sanh (apapātika) ( chú giải Trung Bộ Kinh (M) I 73) nhưng không đưa ra bất kỳ ví dụ nào, như petas sanh ra từ trứng. Tuy nhiên thường th́ ta cho là petas hoá sanh và v́ các chuyện kể này không cho biết cách petas xuất hiện như thế nào, mà h́nh như chỉ cho cho là chúng xuất hiện do hành vi quá khứ mà thôi. không nói ǵ đến việc chúng phải chờ cho đến giai đoạn trưởng thành v.v… một tham khảo hơi kỳ petas sanh con rồi lại ăn chúng không thể thừa nhận là chính những đứa trẻ ngạ quỉ đó được sanh ra từ ḷng mẹ. [20]. Chú giải Se Be giải thích là annapānaṃ pi api ssu c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là annapānaṃ hi api su. [21]. Chú giải Se Be giải thích là sammaggate c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là samaggate; đây là một tính ngữ của một vị A-la-hán - xin đọc Dial I 73 n 2; chú giải S I 76; It 87. việc chối bỏ có những cá nhân như vậy thuộc tà kiến. eg. D I 55 = Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 226 = v 265 trong khi đó chỉ khẳng định đó là tà kiến trần tục mà thôi. – eg Trung Bộ Kinh (M) iii 72; chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) I 269. [22]. Chú giải Se Be giải thích là sammaggate c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là sādhukāmā. [23]. Dtro, đều ở chủ cách và đối cách số nhiều, đoạn kệ trước đó cho thấy đối cách đuợc sử dụng v́ họ lăng nhục cả thí chủ lẫn người nhận nhưng chú giải dưới đây lại cho đó là chủ cách chỉ có người nhận vật thí là đối tượng lăng nhục. [24] Chú giải Be giải thích là paricārenti c̣n bản văn Kinh Tạng Se lại ghi là paruhārenti; cp II 321 và IV 141 [25]. Chú giải Se Be giải thích là venỵ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là veṇim; [26]. Caṇdālī, vấn đề về dạng hôn nhân không thể đề cập đến được giữa một phụ nữ bà la môn với một đàn ông sdra hay một pađcama. [27]. Việc chấp nhận của ngài Gehman về vl không cần thiết. Cả chú giải Se và Be đều giải thích là Vejayante. Là tên lâu đài thật nổi tiếng của sakka trong cánh rừng Nandana nơi cơi Tam Thập Tam để biết thêm chi tiết về lâu đài này xin đọc Culatanha Sankhayasutta (Trung Bộ Kinh (M-37) trong đó Sakka đă dẫn ngài Moggallana đi thăm một ṿng. (DhpA I 273; Chú giải DA 698 và DPPN ii 915) [28]. Chú giải Se Be giải thích là goṇakatthate c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là goṇassaṇṭhite; Gehman tṛ 209 n 2 đă ghi sai thành goṇākātthate. [29]. Chú giải Se giải thích là vījitaṅgā (Be bījitaṅga; xin đọc chú giải PED sv vijjita. [30]. Chú giải Se Be giải thích là dhtiyo c̣n bản văn ghi là jtiyo. [31]. Là cánh rừng nơi cơi Tam Thập Tam trong đó có các devas cùng vui chơi. Trong J I 49 người ta nói rằng có một cánh rừng như thế nơi toàn bộ các cơi chư thiên. Cũng chính trong cánh rừng Nandana các Sakka đă sai đến các vị chư thiên vừa mới từ cơi chúng sanh tái sanh xuống cơi chư thiên trong đó họ có thể giũ bỏ tuyết hay có thể ra ngoài giống như một ngọn lửa và tái sanh ở nơi nào đó. – xin đọc chú giải KS I 9 n 1 Trung Bộ Kinh (M) I 503; S v 342; Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 40. [32]. Đoạn kệ này không được ghi số trong bản văn Kinh Tạng. [33]. Chú giải Se Be giải thích là -nivāsanā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là –mivāsanā. [34]. Chú giải Be giải thích là vissussitvā (Se visussitvā) c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là vissaṭṭhā. [35]. Nguyên từ tương đương. [36]. Xin đọc chú giải PvA 37. [37]. Chú giải Se Be giải thích là sugatīsu patiṭṭhā bhāyato c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là sugatisupatiṭṭhābhāvato. [38]. Tất cả các bản văn đều không thống nhất ở đây. Se giải thích là api avakirīyati chāadiyati và Be giải thích là api avakirīyati chaṭṭīyati. Tôi chấp nhận bản văn của chúng ta ghi là api avakirīyati yadi pi avakirīyati chaḍḍhīyati. [39]. Chú giải Se Be giải thích là sammā gate c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là samāggate. [40]. Chú giải Se Be giải thích là sammaggte và đoạn kệ dành cho bản văn Kinh Tạng ghi là samaggate. [41]. Tập chú giải hơi tối nghĩa một chút ở đây. Sammaggate và pabbhjite cả hai đều ở vị trí cách sau khi đă đưa ra hai từ đồng nghĩa ở vị trí cách – sammā-gate, sammāpaṭipane – đối với từ sammaggate, Dhammapāla nhắc lại từ thứ hai dưới dạng tặng cách – sammāpatipannāya – và tiếp tục bằng cách giải thích pabbajite với dạng tặng cách của từ pabbajitāya. Chỉ sau đó ngài giải thích lư do bằng cách thêm một từ khác để chỉ muốn dùng tặng cách mà thôi. [42]. Chú giải Se Be giải thích là kusītā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là kusitā. [43]. Chú giải Se Be giải thích là paṭiggaṇhanake c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là paṭiggaṇhake paṭiggaṇhanake. [44]. Chú giải Se Be giải thích là paribhavaṃ karontā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là paribhāsaṃ karontā. [45]. Chú giải Se Be giải thích là yattha mayaṃ pubbe amhākaṃ gharan ti mamattāṃ akarimha tāni gharāni yathāṭhitāni c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là tāni gehāni yattha mayaṃ pubbe amhākan ti mamakattan akirimha tāni gharāni yatthā ṭhitāni. [46]. Chú giải Be giải thích là aññe paricārentī ti c̣n bản văn Kinh Tạng Se ghi là Aññe ti apare. Parithārentī ti paricaranti và phù hợp với vl được chấp nhận trong đoạn kệ. [47]. Xin đọc Chú giải PvA 87. [48]. Chú giải Se Be giải thích là vipākāvasesena c̣n bản văn kinh tạng ghi là vipākā ’va sesena; xin xem S I 91-93 [49]. Chú giải Se Be cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là ’vambhanā. [50]. Theo nghĩa đen là các thợ làm nghề giầy da ở đây. [51]. Điều này ám chỉ đỉnh cao, treo ở trên, mái h́nh chóp thùng là đặc điểm kiến trúc của người Ấn Độ cổ. [52]. Chú giải Se giải thích là vījiyamānadehā (Be bījiya) c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là vijjamānadehā; xin đọc chú giải PED sv vijati. [53]. Chú giải Se Be giải thích là tidasānaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là dasanaṃ
|
|