NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

  CHÚ GIẢI  

CHUYỆN NGẠ QỦI

(Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:              Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I.4 Chú giải chuyện ngạ quỉ BÁNH ĐỒ CHƠI
[Piṭṭhadhītalikapetavatthuvaṇṇā]

“Liên quan đến bất kỳ ai.” Đang khi c̣n lưu lại trong Khu Rừng Jeta trong thành phố Sāvatthi, vị Đạo sư đă thuật lại chuyện kể liên quan đến việc bố thí do chủ gia Anāthapinḍika thực hiện.

Người ta kể lại rằng cháu gái của chủ gia Anāthapinḍika, vẫn c̣n là một cô gái thanh xuân, đă được vú nuôi tặng cho một chiếc bánh đồ chơi, nói rằng, “Hăy cầm lấy chiếc bánh này mà chơi’. Vú nuôi đó đă coi nàng thiếu nữ như con gái riêng của ḿnh. Thế rồi một ngày kia đang khi chơi với chiếc bánh đồ chơi đó nàng đă vô ư làm rơi và làm bể mất. Ngay sau đó cô gái đă bật khóc, nói rằng, “Con gái ta đă chết!” Nhưng chẳng có người hầu nào có thể dỗ dành cho nàng cầm được nước mắt.

Bấy giờ ngay lúc đó Đạo sư đang ngồi thiền tại vị trí đă được chỉ định trong nhà của thiện nam Anāthapinḍika và một thương nhân rất giàu có [17] cũng đang ngồi kế bên Đức Phật. Người vú nuôi đến dỗ dành cô bé trước sự hiện diện của thương nhân giàu có kia. Khi thương nhân kia nh́n thấy nàng liền hỏi, “Tại sao cô bé lại khóc vậy?” Người vú thuật lại sự kiện cho vị thương gia giàu có nghe và rồi ông ta đặt cô bé ngồi lên đùi và dỗ dành cô bé, nói rằng, ‘Ta sẽ tổ chức bố thí nhân danh cô gái của nhà ngươi’ và rồi với vị đạo sư, nói rằng, ‘Ta muốn tổ chức bố thí nhân danh cháu gái ta.’ Chiếc bánh đồ chơi này,[70] hăy nhận lời mời của ta, thưa Đức Phật.’ Và với năm trăm tỳ khưu vào bữa ăn tiếp theo. Đức Phật đă đồng ư bằng cách im lặng. Và ngay hôm sau Đức Phật đă lên đường cùng với năm trăm tỳ khưu đến nhà người thương gia giàu có kia. Khi Ngài đă kết thúc bữa ăn, ngài đă thốt lên đoạn kệ này nhằm diễn tả ḷng ngưỡng mộ người thương gia giàu có .

1.      “Liên quan đến bất kỳ ai không ích kỷ cũng nên tổ chức bố thí, cho dù dành cho các ngạ quỉ kiếp trước hay dành cho các chư thiên chủ gia nhân.

2.      Và Tứ Đại Vương, là vị canh giữ trần gian nổi tiếng này, cụ thể là Kuvera, Dhataraṭṭha, Virūpakkha và Virūḷhaka. - khi những kẻ này được tôn kính th́ thí chủ chẳng được công lệnh ǵ.

3.      Cho dầu có khóc lóc, sầu khổ hay than văn cũng không đem lợi lộc ǵ cho ngạ quỉ dầu những họ hàng thân thiết luôn theo sát họ.

4.      Nhưng phần bố thí này đă được thực hiện và đă gieo trồng vững chắc nơi tăng đoàn sẽ giúp đem lại lợi ích tức thời và lâu dài cho họ.

1. Về điểm này liên quan đến bất kỳ ai (yaṃ kiñcārammaṇaṃ katvā): liên quan đến, nhân danh ai, bất kỳ ai đó (tham gia) vào các nghi thức thiện v.v... Cũng cần thực hiện bố thí: dajjā-dadeyya (một dạng ngữ pháp khác). Kẻ không ích kỷ (amacharī): những kẻ không bủn xỉn do thiếu ḷng ích kỷ chính là đặc tính do không chia sẻ của cải của ḿnh với người khác[71]; do bản chất từ bi quảng đại, họ thường bố thí sau khi đă tẩy sạch hết các vết nhơ trong ḷng như là ích kỷ và tham lam v.v... - đây là ư nghĩa muốn nói đến ở đây, Cho dù họ có ḷng kính lễ đối với các ngạ quỉ tiền kiếp (pubbe pete ca ārabbha): cho dù có nhân danh các tổ tiên tiền kiếp[72]. Các tiên thế tục (vatthudevatā): với ḷng kính lễ các chư thiên đă cư ngụ trong nhà và ruộng đất v.v... đây chính là cách phải giải thích. Hay hơn thế nữa, (athavā) giải thích rằng họ phải bố thí theo cách này cũng để tỏ ḷng kính lễ với bất kỳ chư thiên hay bất kỳ chúng sanh nào.

2. Về điểm này, sau khi đă khẳng định “Tứ Đại Thiên Vương”, để làm rơ ở mức độ nào một số chư thiên rất nổi tiếng trong số các Chư thiên, về điểm này ngài nói tiếp [18]: ‘Kuvera’ ám chỉ đến họ bằng tên. Về điểm này Kuvera (Kuveraṃ): Vessavaṇa. Dhataraṭṭha (Dhataraṭṭhaṃ) v.v... là tên gọi của ba vị bảo vệ cơi trần gian này. Khi các vị này được tôn kính (te c’eva pūjita honti): khi các vị Đại Vương này, là các ngạ quỉ tiền kiếp và là các devatas trần tục đang được kính trọng bằng những hành vi nhân danh họ. Thí chủ sẽ không đem lại chánh quả. (dāyakā ca anipphalā): các thí chủ, là những người đă thực hiện bố thí nhân danh người khác lại không hoàn toàn đem lại lợi ích ǵ chi chính ḿnh; cũng giống vậy họ đă tham dự vào chánh quả nơi chính việc bố thí của họ. Thế rồi để chứng tỏ cho thấy những kẻ nào khóc lóc than văn, và kêu than cái chết của bà con ruột thịt sẽ không làm lợi ǵ cho họ và chỉ tự hành hạ ḿnh, ngài đă thốt lên đoạn kệ bắt đầu như sau:) “Chẳng có kẻ nào khóc than thảm thiết’.

3. Về điểm này: khóc lóc thảm thiết: ruṇṇaṃ = ruditaṃ (một dạng ngữ pháp khác), việc nhỏ nước mắt. Các từ c̣n lại khẳng định điều này không được thực hiện. Sầu khổ (soko): than văn, hành hạ tâm hồn, ư nghĩa ở đây là bừng cháy trong tâm hồn. Bất kỳ lời than văn nào, khác hơn khóc lóc sầu khổ, như lầm bẩm “Con trai duy nhất của ta ở đâu rồi? v.v... cũng chẳng nên thực hiện làm chi. Từ ‘hay là’ (vā) dưới mọi góc độ ám chỉ một cách than khóc khác. Không có lượng than khóc nào có thể làm lợi cho các ngạ quỉ (na taṃ petassa atthāya): v́ chẳng có điều ǵ, cho dù là khóc lóc, sầu khổ hay than văn có thể giúp hay làm lợi cho ngạ quỉ[73] đă chết. Chính v́ thế không nên thực hiện điều này làm chi cho dù những họ hàng khờ khạo vẫn kiên tŕ làm như vậy. – đây là ư nghĩa muốn diễn giải ở đây. Sau khi đă chứng tỏ đặc tính vô bổ trong việc khóc lóc v.v... thế rồi ngài thốt lên đoạn kệ bắt (đầu với): ‘Nhưng việc bố thí này’ chứng tỏ cho thấy điều vô bổ đối với cuộc bố thí dành cho Tăng đoàn do một thí chủ thực hiện để tỏ ḷng kính lễ các ngạ quỉ tiền kiếp v.v...

4. Về điểm này đây chính là (ayaṃ): ngài lên tiếng nói về vật thí trước mặt ngài các thí chủ đă thực hiện. Nhưng (ca) là một từ (chỉ rơ) điều ǵ đó được thêm vào. Ngài làm rơ tính cách phân rơ bằng cách tiếp tục nói thêm: chính v́ việc khóc lóc v.v... không đem lại lợi ích ǵ hoặc cho ngạ quỉ hay cho bất kỳ người nào khác, tuy nhiên điều này không phải vậy v́ liên quan đến việc bố thí này sẽ đem lại lợi ích lâu dài. Kho (không được dịch) được sử dụng để nhấn mạnh. Việc bố thí (dakkhinā): cuộc bố thí. Được trồng vững chắc nơi Chư Tăng (saṅghambhi suppariṭṭhitā)[74] [19] đă được trồng vững chắc trong Tăng Đoàn lại là phước Điền vô song. Những lợi ích lâu dài đem lại (dīgharataṃ hitāy’ assa): điều tốt lành, đều lợi ích cho các ngạ quỉ trong một thời gian dài. Sẽ đem lại lợi ích tức thời (thānaso [75] upakapputi): bố thí đó sẽ đem lại lợi ích tức thời, có nghĩa là không có thời gian ngắt quăng. Chắc chắn đây là một qui luật[76]: Nếu như ngạ quỉ diễn đạt ḷng ngưỡng mộ một khi bố thí được thực hiện nhân danh họ, ngay tức khắc[77] họ được vơi đi sầu khổ[78] do kết quả việc ngưỡng mộ này đem lại.

Khi Đức Phật đă diễn giải Phật Pháp như vậy và đă khiến cho những chúng sanh đó khoái cảm trong việc bố thí nhân danh các ngạ quỉ, ngài đứng lên khỏi chỗ ngồi và ra đi. Vào ngày hôm sau vợ của thương gia giàu có và các bà con họ hàng đă theo gương ông và khởi công một cuộc bố thí rất lớn kéo dài khoảng một tháng.[79] Thế rồi nhà vua Pasenadi, vua nước Kosala tiến lại gặp Đức Phật và hỏi ngài, “Thưa Đức Thế Tôn tại sao các tỳ khưu lại không lui tới hoàng cung của ta cả tháng nay rồi?’ Khi vị đạo sư nói ra lư do, th́ cả nhà vua nữa cũng theo gương thương nhân giàu có, ngày hôm sau đă tổ chức một cuộc bố thí hoành tráng kéo dài một tháng dành cho tăng đoàn các tỳ khưu có Đức Phật đứng đầu. Và khi nhà vua thấy các công dân của ngài cũng theo gương ḿnh và tổ chức một cuộc tố thí rất lớn kéo dài suốt hai tháng. Như vậy họ đă tổ chức một cuộc bố thí kéo dài hai tháng, tất cả chỉ do chiếc bánh đồ chơi đó mà ra.

 

-ooOoo-

 

[70] Chú giải Se Be giải thích là piṭṭhadhītalikaṃ, c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là piṇdā-, tuy nhiên ư nghĩa không thay đổi.

[71]. Sampattiyā.

[72]. Pitato.

[73]. Chú giải Se Be giải thích là aviddasuno c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là avindasuno.

[74]. bản văn Kinh Tạng đă chèn lầm từ taṃ sau thānaso.

[75]. Bản văn Kinh Tạng đă ghi sai suppatiṭṭhā.

[76]. Chú giải Se Be giải thích là ayaṃ hi tattha dhammatā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là ayaṃ hitāatthadhammata.

[77]. Chú giải Se be giải thích là tāva-eva tassa c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là tāva devassa.

[78]. Bản văn Kinh Tạng giải thích Bhunjanti với từ vl parighuñjanti gợi ư cho thấy họ thưởng thức hay sử dụng vật thực vừa xuất hiện gần bên họ. Tuy nhiên, chú giải Se Be, cả hai ở đây lại giải thích là parimuccanti. Có nghĩa là họ được thoát khỏi hay được giải thoát khỏi những đau khổ trước đó), tôi chọn cách giải thích này. nhưng v́ các chuyện kể này đă làm rơ, những đau khổ nơi các petas thoát khỏi thường là phải nhịn đói nhịn khát. Sự khác biệt giữa hai từ này nơi các vll chính là ư nghĩa hẹp hơn với từ đầu tiên xuất hiện.

[79]. Chính v́ thế cả bản văn Kinh Tạng và chú giải Se đều giải thích là te māsamattāṃ: Chú giải Be giải thích là temāsamattāṃ có nghĩa là cuộc bố thí kéo dài ba tháng.