|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
I.6 Chú giải chuyện ngạ quỉ ĂN THỊT 5
NGUỜI ‘Nhà ngươi lỏa lồ và có diện mạo gớm ghiết,’ Vị Đạo sư đă thuật lại chuyện kể này khi ngài c̣n đang lưu lại trong thành Sāvatthi liên quan đến một nữ ngạ quỉ đă ăn thịt năm đứa con trai của nàng. Người ta kể lại rằng trong một ngôi làng cách thành Sāvatthi không xa là bao, có một phú hộ kia, ông có vợ nhưng vợ ông lại bị hiếm muộn. Những người họ hàng thân thuộc đă nói với phú hộ, ‘Vợ cả của anh[160] đă bị hiếm muộn; chúng ta phải cưới cho anh một nàng dâu khác’ nhưng chàng không muốn thế do chàng rất yêu mến vợ ḿnh. Nhưng khi người vợ nghe thấy tin đó, nàng đă nói với chồng, ‘Ḿnh ơi, em bị hiếm muộn, ḿnh nên cưới một nàng dâu khác – đừng để cho gia đ́nh ta phải tuyệt ḍng’, và do nàng thúc đẩy, ngừơi chồng đă đồng ư cưới một nàng dâu khác; đến đúng thời gian qui định nàng vợ hai đă mang thai. Người đàn bà hiếm muộn suy nghĩ, ‘Nàng đă có con trai chắc chắn sẽ trở thành bà chủ trong căn nhà này’, và do ḷng ghen tương nổi lên, nàng đă kiếm cách làm cho nàng dâu mới phải sẩy thai, nàng đă thiết đăi nàng dâu mới với đủ thứ đồ ăn thức uống v.v... và có một mụ đàn bà[161] đă đến và giúp nàng làm cho người vợ hai sẩy thai. Khi bị sẩy thai (người vợ hai thông báo cho mẹ ruột của ḿnh và mẹ nàng cho điệu toàn bộ họ hàng lại và thông báo sự việc cho họ biết[162] điều ǵ đă xẩy ra. Họ đă tố cáo người vợ hiếm muộn đă tạo ra sự việc này và phải chịu trách nhiệm về việc nàng đă bị sẩy thai, nhưng bà chối nói rằng, “Tôi không chịu trách nhiệm về việc này’. Họ đáp lại, “Nếu bà không chịu trách nhiệm về việc sẩy thai này th́ hăy thề xem sao!’ [32] Nàng đă dơng dạc thề rằng, ‘Nếu tôi gây cho nàng phải sẩy thai tôi phải đầy vào định mệnh khổ cực, để chiến thắng với đói khát, cứ mỗi buổi sáng đến buổi chiều tôi sẽ sanh ra năm đức con trai và rồi ăn thịt chúng; xem chừng vẫn chưa thoả măn; nàng c̣n thề độc thêm rằng, ‘Mong rằng ta phải chịu những mùi hôi thối toát ra và ruồi bọ[163] bu quanh’.[164] Chẳng bao lâu sau nàng đă qua đời và tái sanh thành một nữ ngạ quỉ (Peta) với diện mạo thật kinh dị và cư ngụ cách ngôi làng không xa là bao. Vào thời đó có tám vị Trưởng lăo đang trải qua mùa an cư kiết hạ tại thị trấn đó và các ngài đang trên đường đến thành Sāvatthi, các ngài đến gặp Đức Phật đang nghỉ dưới một bóng cây và một điểm có nhiều nước trong khu rừng gần ngôi làng đó. Thế rồi nữ ngạ quỉ đó đă hiện nguyên h́nh với các vị trưởng lăo thấy và vị trưởng lăo cao niên nhất trong tám người đă hỏi nữ ngạ quỉ với đoạn kệ sau: 1. Ngươi loả lồ và có tướng mạo kinh dị thế kia; ngươi toả ra mùi xú uế. Bao quanh nhà ngươi là ruồi nhặng, nhà ngươi là ai mà lại đứng ở đây thế? 1. Ở đây loả lồ (naggā): không mặc quần áo. Với diện mạo kinh dị (dubbaṇṇarūpāsī): nhà ngươi vô cùng xấu xí, diện mạo nhà ngươi là một cảnh tượng rùng rợn. Một mùi hôi thối (duggandhā) mùi khó chịu. Nhà ngươi tỏa ra một mùi hôi thối khó chịu (pūti vāyasi): nhà ngươi tỏa ra một mùi xác chết thối rữa. Ruồi bọ bu quanh nhà ngươi (makkhikāparikiṇṇā ’va): vây quanh nhà ngươi là đoàn ruồi nhặng ghê tởm. Giờ đây nhà ngươi là ai lại đứng ở đây thế? (kā nu tvaṃ idha tiṭṭhasi) có nghĩa là quả thật nhà ngươi là ai mà lại đứng tại điểm này trông giống như một kẻ lang thang không nhà không cửa thế? Khi vị trưởng lăo đă hỏi nàng như vậy, thế rồi nàng đă thốt lên ba đoạn kệ giải thích nàng là ai, đă khiến cho chúng sanh phải dao động. 2. ‘Thưa ngài ta là nữ ngạ quỉ, đă phải tái sanh nơi cơi Diêm Vương; sau khi đă thực hiện ác nghiệp, ta đă phải đi lang thang nơi cơi Ngạ quỉ. 3. Vào buổi sáng, ta đă hạ sanh năm đứa con trai và buổi chiều trở lại ta lại sanh được năm đứa khác nữa. – Thế rồi ta ăn thịt tất cả bọn chúng, ngay cả như vậy ta vẫn không đủ no. 4. [33] trái tim ta sôi sục và đau nhói như bị cơn đói thiêu đốt và ta chẳng kiếm đâu ra nước để uống – hăy nh́n xem cảnh ngộ đă giáng xuống trên ta. 2. Ở đây, thưa ngài (bhaddante): nàng nói với trưởng lăo rất lễ độ. Đă phải tái sanh nơi cơi khốn cùng (duggatā): đă rơi vào hiện trạng khốn cùng. Nơi cơi Diêm Vương. (Yamalokikā): nơi cơi ngạ quỉ được biết đến với tên là “cơi diêm vương” v́ lư do cơi này được gộp lại trong đó. Ta đă phải trải qua từ cơi đời này. (ito gatā): ta đă phải trải qua từ cơi này, từ cơi chúng sanh bằng cách tái sanh nơi cơi ngạ quỉ, có nghĩa là ta đă tái sanh tại đó sau khi đă qua đời. 3. Vào buổi sáng (kālena): vào lúc b́nh minh ló rạng; công cụ cách này lại mang sức mạnh vị trí cách. Năm đứa con trai:pañca puttāni=pañca putte; điều này được nói bằng cách dùng không đúng giới tính.[165] Rồi lại đến buổi chiều tối ta c̣n sanh ra năm đứa con trai khác (sāyaṃ pañca punāpare): và vào buổi chiều tối ta lại ăn thịt năm đứa con trai nữa. – đây à cách chúng ta phải giải thích. Ta đă hạ sanh (vijāyitāāna): vào ban ngày, lúc chiều xuống ta đă sanh hạ ra mười người con trai. Ngay cả như vậy vẫn chưa đủ cho ta (te pi nā honti me alaṃ) ngay cả khi ta đă ăn thịt cả mười đứa con vẫn chưa đủ, vẫn c̣n thiếu, để có thể làm dịu đi cơn đói của ta trong một ngày; na ở đây chính là đọc kéo dài từ na, (metri causa.) 4. Trái tim ta sôi sục và bị cơn đói thiêu đốt. (pariḍayahati dhūmāyati khuḍaya hadyaṃ mama) do phải đói đến như vậy khiến tim ta sôi sục và cháy bỏng và phải khổ sở đau đớn v́ đói khát.[166] Và ta cũng không thể t́m đâu ra đủ nước để uống. (pānīyaṃ na labhe pātuṃ) và ta chẳng kiếm đâu ra đủ nước để uống thế nên ta đi lang thang đây đó để kiếm thứ ǵ để uống cho đỡ khát. Hăy nh́n xem cảnh ngộ đă giáng xuống trên ta. (passa maṃ vyasanaṃ gataṃ): nàng đă cho trưởng lăo biết nỗi thống khổ nàng đă phải chịu, nói rằng, ‘Thưa ngài Trưởng lăo kính mến, hăy nh́n xem cảnh ngộ nào đă giáng xuống trên ta, cách chung và cách riêng, do phải sanh ra trong cơi ngạ quỉ.’ Khi ngài Trưởng lăo nghe điều này ngài đă thốt lên đoạn kệ hỏi ngạ quỉ về ác nghiệp nàng đă thực hiện: 5. Hăy cho ta biết ác nghiệp xấu xa nào nàng đă thực hiện bằng thân, khẩu hay ư? Có phải do kết quả ác nghiệp đó nhà ngươi đă ăn thịt các con trai của ngươi chăng?’ 5. Ở đây hành vi xấu xa (dukkataṃ): tức ác hạnh. Do kết qủa ác nghiệp đó sao? (kissa kammavipākena):do kết quả của loại ác nghiệp đó, ư nghĩa là phải chăng nhà ngươi đă sát sanh hay phạm phải ác nghiệp nào khác như thể ăn trộm v.v... ? một số người lại giải thích là ‘do kết quả của ác nghiệp nào vậy? [34] Thế rồi nữ ngạ quỉ, kể lại cho Trưởng lăo nghe ác nghiệp nàng đă thực hiện, nói rằng: 6. “Người vợ chung chồng với ta đă mang thai và ta đă âm mưu thực hiện một ác nghiệp chống lại nàng; do tâm bị ô nhiễm, đă khiến ta tạo cho nàng bị sẩy thai. 7. Bào thai hai tháng tuổi của nàng đă phải tuôn ra như cục máu; thế rồi mẹ ruột nàng đă nổi sùng lên với ta và đă tụ tập họ hàng thân thuộc lại; bà buộc ta phải thề và họ đă nguyền rủa ta. 8. Ta đă nói một lời dối trá khủng khiếp khi ta thề rằng nếu ta đă thực hiện ác nghiệp đó th́ ta sẽ phải ăn thịt các con ta sanh ra. 9. Chính do kết quả của ác nghiệp đó và thực tế ta đă nói dối, thế nên ta đă ăn thịt các con trai ta và bị nhơ nhuốc [167] do máu và vật nhơ bẩn.’ 6. Ở đây, người vợ chung chồng (sapatī) là nói về một phụ nữ có cùng một người chồng với ḿnh. Và ta đă âm mưu gây ra một ác nghiệp chống lại nàng (tassā pāpaṃ acetayiṃ): và ta đă hoạch định một ác nghiệp xấu xa và khủng khiếp chống lại nàng, chống lại người phụ nữ có chung chồng với ta. Do tâm bị hư hỏng đến vậy (paduṭṭhamanasā): với những ư định đồi bại hay với tâm địa bị ô nhiễm hư hoại. 7. Hai tháng tuổi (dvemāsiko): đă được thụ thai trong bụng mẹ được hai tháng,[168] bào thai được hai tháng tuổi. Tuôn ra ngoài như cục máu (lohitañ ñeva paggharī): v́ bào thai đă bị hư thế nên đă trở nên giống như cục máu và tuốn ra ngoài. Thế rồi mẹ nàng rất tức giận với ta và cho tụ tập toàn bộ họ hàng lại (tad assā mātā kupitā mayhaṃ ñātī samānayi): thế rồi mẹ người vợ chung chồng với ta trở nên tức giận và tụ họp toàn bộ họ hàng thân thuộc lại, một cách giải thích khác có thể là tat’assā được chia thành hai từ tato assā (ngay sau đó nàng). Lời thề (sapathaṃ): lời thề thốt.[169] Và họ đă nguyền rủa ta. (paribhāsāpayi ca): và họ đă đe doạ và nạt nộ ta. 8. Ta đă nói dối khi thực hiện lời thề (sapathaṃ musāvādaṃ abhāsissaṃ): ta đă nói dối khi ta thực hiện lời thề, có nghĩa là, không nói sự thật trong việc ta chỉ ra cho thấy là ta đă không thực hiện điều ǵ thực tế ta đă làm, nói rằng “Nếu ta làm điều đó th́ ta sẽ phải như vậy’. Nếu ta làm điều đó th́ ta sẽ phải ăn thịt các con trai ta sanh ra, (puttamamsāni khādāmi sac ’etaṃ pakataṃ mayā): [35] Thế rồi điều này cho thấy bản chất của lời thề đă được thực hiện, đó là ta đă làm cho nàng sẩy thai, ta chẳng được ăn ǵ hết ngoại trừ ăn thịt con trai của ta trong lần tái sanh trong tương lai và tái sanh. 9. Chính v́ điều đó (tassa): về hành vi triệt hạ một mạng người đă phạm phải bằng cách tạo ra việc sẩy thai đó. Và do một thực chất nữa là ta đă nói dối (musāvādassa ca): và do một hành vi nói dối. Chính do cả hai (tubhayaṃ): chính do kết quả của cả hai hành vi đó. Ta đă bị nhơ nhuốc với máu và vật nhơ bẩn (pubbalohitamakkhitā): ta đă ăn thịt con trai ta sau khi đă trở nên nhơ nhuốc do máu và những vật bẩn thỉu bằng cách đă phải sanh con và rồi xé xác các con ra.[170] – đây là điều cần phải được phân tích. Khi nữ ngạ quỉ đă khai báo những kết quả ác nghiệp nàng đă thực hiện, nàng lại nói tiếp với vị trưởng lăo rằng, “Thưa ngài trưởng lăo, ta đă là vợ của một người đàn ông giàu có ngay trong ngôi làng này nhưng do ghen tương xúi bảyta đă thực hiện ác nghiệp xấu xa và giờ đây đă phải tái sanh trong bụng ngạ quỉ. Thưa trưởng lăo kính mến, xin ngài đi đến nhà người đàn ông giàu có đó, người đó sẽ dâng vật thí cho ngài – hăy bảo chàng hồi hướng vật thí đó cho ta v́ chỉ bằng cách này ta mới được giải thoát khỏi nơi đó, giải thoát khỏi cơi ngạ quỉ. Khi các vị trưởng lăo nghe qua điều này họ đă ra đi, do ḷng thương xót nàng và đầy ḷng từ bi quảng đại và họ đă bước vào nhà người đàn ông giàu có đó để khất thực. Khi người đàn ông giàu có nh́n thấy các vị trưởng lăo liền bước ra nhà ngoài, đầy ḷng kính cẩn và gặp các vị trưởng lăo, ông ta cầm lấy bát khất thực của các vị, mời các vị ngồi và bắt đầu thiết đăi các vị dùng bữa với những đồ ăn chọn lọc nhất. Vị trưởng lăo đă kể lại biến cố đó cho người đàn ông giàu có và bảo ông hăy hồi hướng của thí cho nữ yêu quái đó. Ngay lúc đó nữ yêu quái đă thoát khỏi nỗi khốn khổ và đă hiện h́nh như xưa. Nàng đă hiện ra với người đàn ông giàu có vào đêm đó. Các vị trưởng lăo đến đúng kỳ hạn đă đi tới thành Sāvatthi và nêu vấn đề đó cho Đức Phật. Đức Phật coi vấn đề đó như một nhu cầu phát sanh và diễn giải Phật Pháp cho đoàn người tụ tập lại tại đó. Lời diễn giải đó đă đem lại lợi ích lớn lao cho họ.
-ooOoo-
[160] Pājapati, ở đây rơ ràng không có nghĩa là ‘người đă cúng dường’ hay ‘giàu có theo ḍng dơi’ như tự điển PED sv đă đưa ra. [161]. Chú giải Be Se giải thích là paribbājikaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là paribbājakaṃ [162]. Chú giải Be Se giải thích là paribbājikaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là paribbājakaṃ Chú giải Be Se giải thích là paribbājikaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là paribbājakaṃ [163] Chú giải Be Se và v 1 dưới đây giải thích là makkhikāaparikiṇṇā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là – parikkhiṇṇā. [164]. Trong trang 12 hàng thứ 10, Gehman rất có thể đă lưu ư chúng ta giải thích ‘số mệnh’ hơn là ‘ngày.’ [165]. Đối cách giống đực số nhiều với biến tố trung tính. [166]. Udarigganā, nghĩa đen là đói bụng hay dạ dày (cồn cào như lửa đốt) [167]. Chú giải Be Se giải thích là pubbalohitamakkhitā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là –makkhīkā cả hai ở đây và trong chú giải dưới đây, trong câu v 1 người ta nói rằng ruồi nhặng bu quanh nàng, không đề cập đến việc nàng c̣n bị thối tha toả ra với máu mủ và nhiều đồ dơ của phụ nữ. Như vậy c̣n cần giải thích nhiều hơn là chỉ có ruồi nhặng bu quanh, hai từ này h́nh như lại khiến ta lẫn lộn. [168]. Chú giải Se Be giải thích là dvemāsajāto c̣n bản văn kinh tạng ghi là māsājāto. [169]. Sapanaṃ; không thấy liệt kê trong PED nhưng trong Childers th́ có. Se giải thích là saccānapanaṃ. [170]. Chú giải Be giải thích là paribhijjanavasena c̣n bản văn kinh tạng ghi là paribhuñjanavasena; không thấy liệt kê trong tự điển PED.
|
|
![]()