|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
II. 9 Chú giải chuyện ngạ quỉ ANKURA
‘Chính v́ mục đích đó chúng ta đă ra đi.’ Đạo sư thuật lại chuyện kể này đang khi ngài lưu lại trong thành Sāvatthī liên quan đến một ngạ quỉ tên là Aṅkura. Trong trường hợp này Aṅkura thật sung sướng không phải là một ngạ quỉ nhưng do những hành vi của ông có liên quan đến một ngạ quỉ chính v́ thế ta gọi câu chuyện này là Aṅkura Chuyện Ngạ quỉ. Đây ta có chuyện kể tóm tắt như sau: Trong thành[215] Asitañjana ở vùng Kaṃsabhoga thuộc vùng Uttarāpatha,[216] Nhà vua Upasagara, hoàng tử[217] của vua Cha Mahāsāgara, thủ lănh xứ Uttaramadhura[218] và hoàng hậu Devagabbhā, công chúa của vua Mahakamsaka đă sanh hạ được các vị hoàng tử và công nương như sau: một công chúa tên là Añjanadevi và mười em trai của cô là Vāsudeva, Baladeva, Candadeva, Suriyadeva, Aggideva, Varunadeva, Ajjuna, Pajjuna, Ghatapandita và Aṅkura – tất cả là mười một vị Sát Đế Lỵ. Bắt đầu với thành phố của Asitanna, Vasudeva và các em trai của công chúa, bằng một chiếc đĩa đă giết chết toàn bộ các vị vua trong sáu mươi ba ngàn thành phố trên toàn cơi Jambudīpa, kết thúc với Dvāravatī. Trong khi c̣n lưu lại Dvāravatī họ đă chia vương quốc thành mười phân. Tuy nhiên họ quên không chia phần cho chị Anjanadevi và, khi nhớ lại phần chia của chị, họ nói với nhau, ‘Chúng ta phải chia vương quốc thành mười một phần, nhưng em út Ankura nói rằng, ‘Các anh có thể lấy phần của em cho chị chúng ta, em sẽ kiếm sống bằng nghề buôn bán và các anh chỉ gởi cho em phần thu thuế trích từ các tỉnh thành các anh thu là được rồi.’ ‘Tốt lắm’, họ đồng ư và sau khi đă chia phần của người em út cho chị th́ chín vị vua kia sống tại Dvāragatī[219] , tuy nhiên Ankura lại bận tâm vào nghề buôn bán và thường xuyên tổ chức những cuộc bố thí lớn. Bấy giờ cậu ta có một tên [112] đầy tớ giữ kho[220] và là người thật vui tính, với ḷng tịnh tín Ankura kiếm được một người con gái trong một gia đ́nh tốt và gả nàng cho cậu ta. Người đó qua đời ngay lúc vừa sanh con trai và ngay hôm đứa bé chào đời, Ankura đă ban cho rất nhiều đồ ăn và tiền công lẽ ra ngài phải trả cho cha đứa bé. Thế rồi khi đứa bé đến tuổi khôn lớn th́ vấn đề nổi lên trong hoàng cung là không hiểu cậu ta là nô lệ hay là người tự do. Khi Anjanadevi nghe biết điều này nàng đă trích dẫn ví dụ một con ḅ và giải thoát cậu nhỏ khỏi cảnh nô lệ nói rằng, ‘Con trai của một người đàn bà tự do cũng chính là người tự do’. Nhưng cậu con trai, v́ xấu hổ nên không thể sống nổi trong cung và đến thành Bheruva tại đó cậu lấy người con gái của một người thợ may làm vợ và kiếm sống bằng nghề may vá quần áo. Vào thời đó trong thành phố Bheruva có một thương gia giàu có tên là Asayhamahasetthi,[221] là người đă bố thí rất nhiều cho các vị sa môn và các vị bà la môn, những người nghèo khổ, những kẻ lang thang[222], những kẻ lữ hành[223] và những kẻ ăn mày. Người thợ may với tấm ḷng đầy vui sướng và hạnh phúc thường đưa cánh tay phải lên và chỉ trú xứ của Asayhasetthi cho những kẻ nào không biết nhà của người lái buôn giàu có nói rằng, ‘Hăy đến đó và lấy bất kỳ điều ǵ các ngươi cần dùng.’ Những hành vi này của ông ta được ghi lại trong Kinh Tạng[224]. Đến thời gian qui định người này đă qua đời và tái sanh trong vùng sa mạc thành một thổ thần (terrestrial devata) sống trong một cây đa cổ thụ với một cánh tay phải luôn thi ân theo ước muốn. Bấy giờ trong cùng thành phố Bheruva lại có một người chuyên trông coi[225] của bố thí cho Asayhasetthi nhưng chính người đó chẳng có niềm tin lẫn ḷng tịnh tín lại là người có tà kiến và thất lễ đối với việc thực hiện những nghiệp phước. Khi người đó chết phải tái sanh thành một ngạ quỉ sống không xa nơi ở của devaputta đó là bao. Những hành vi người đó làm đă được ghi lại trong Kinh Tạng. Tuy nhiên khi Asayhamahasetthi qua đời th́ người đó đă đến sống chung với Sakka, vua các chư thiên, nơi cơi Tam Thập Tam. Bấy giờ sau một thời gian Ankura đă chất của cải và hàng hoá của ông ta trên năm trăm chiếc xe, có một vị bà la môn khác cũng đă làm như vậy. Với một ngàn chiếc xe hai người đă lên đường đi trong hoang địa sa mạc và lạc lối. Sau khi đă đi lang thang trong nhiều ngày họ đă cạn kiệt cỏ, nước và thực phẩm. Ankura đă sai sứ giả cưỡi ngựa[226] t́m kiếm nước khắp tứ phương thiên hạ. Thế rồi Dạ xoa với cánh tay ban ơn nh́n thấy họ đă rời vào t́nh huống như vậy và [113] nhớ lại một số công việc Ankura đă làm cho dạ xoa trước kia liền nghĩ, ‘được rồi giờ đây ta phải giúp đỡ ông ta’ và dạ xoa đă chỉ cho ông đến cây đa dạ xoa đang sống trong đó. Người ta kể lại rằng cây đa có rất nhiều nhánh và cành lá xum xuê trải dài cả một do tuần (yojana), với nhiều bóng mát và hàng ngàn hàng vạn chồi non trải dài cả hàng do tuần và bề rộng bề cao cũng vậy. Ankura rất vui mừng nh́n thấy cây đa đó và đă cắm trại[227] ngay dưới gốc cây. Trước tiên Dạ xoa giương cánh tay phải lên và thoả măn hết thẩy chúng sanh với nước uống, sau đó lại ban cho mỗi người bất kỳ điều ǵ họ muốn. Khi những người đó đă thoả thuê với đủ mọi đồ ăn thức uống đủ loại khác nhau v.v... theo họ ước ao và đă hết mỏi mệt trong một cuộc hành tŕnh dài, người thương gia bà la môn đó lại suy luận một cách không thích hợp[228] nghĩ rằng, ‘Khi chúng ta rời khỏi đây đến thành phố Kamboja để thu thập tài sản, th́ chúng ta sẽ phải làm ǵ đây? Nhưng nếu chúng ta bắt được dạ xoa này ngay từ bây giờ bằng cách dùng một mưu và chất hắn lên xe, chúng ta có thể trở lại thành phố của chúng ta một cách dễ dàng.’ Với suy nghĩ đó trong đầu ông ta đă thốt lên hai đoạn kệ qua đó Ankura biết mưu kế của vị thương gia. 1.Xét thấy rằng chúng ta đi đến Kamboja chỉ nhằm t́m kiếm của cải và muốn thoả măn ước muốn đó chúng ta phải nhờ đến vị dạ xoa ban lời ước này. Vậy chúng ta nên bắt theo vị dạ xoa này th́ hơn! 2.Khi chúng ta mang theo vị dạ xoa này hoặc do ngài đồng ư hay phải ép buộc ngài và nhốt ngài lên xe, chúng ta sẽ mau chóng tiến về thành Dvaraka. 1. Về điểm này, mục tiêu chúng ta nhắm tới (yassa atthāya) : lư do chúng ta chú tâm đến thành Kamboja (Kambojaṃ): đến vương quốc Kamboja. Là những người đi t́m của cải (dhanahārakā). Kiếm tiền của bằng cách bán hàng hoá. Ban phát ước mơ (kāmadado): ban phát bất kỳ điều ǵ ta ước muốn. Yakka (yakko): Dạ xoa devaputta. Chúng ta hăy bắt : nīyāmase = nayissāma (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). 2. Với sự đồng lư của (dạ xoa) (sādhukena):bằng cách khẩn khoản dạ xoa. Bằng sức mạnh (pasayha): sau khi đă ra sức mạnh ép buộc. Chất lên xe (yānaṃ): chất lên một chiếc xe tiện nghi. Về Thành Dvaraka (Dvarakaṃ): tới thành phố Dvaravatī. Đây chính là ư nghĩa. chúng ta muốn đi từ đây tới Kamboja nhằm mục đích. Mục đích đó phải được thể hiện trong chuyến đi[229] có thể hoàn tất ngay tại đây. Đây là một dạ xoa có thể ban điều ước cho chúng ta.. [114] Chính v́ thế chúng ta sẽ khẩn khoản yêu cầu dạ xoa này đi với chúng ta theo như ư ngài, bằng nếu không thuyết phục được th́ chúng ta buộc phải dùng vũ lực mà chất ngài lên xe, trói ngài lại và đặt ở ngăn sau chiếc xe. Và rồi nhanh chóng cùng với dạ xoa hướng về thành phố Dvaravatī. Tuy nhiên khi vị bà la môn đă nói kiểu đó Aṅkura là người kiên định về Phật Pháp của kẻ chân chính[230] đă thốt lên câu kệ này chống lại những ǵ họ đă nói. 3.Chúng ta chẳng nên bẻ gẫy cành cây trong khi chúng ta đă ngồi và nằm nghỉ dưới bóng cây đó. V́ gây hại cho một bạn hữu quả thực là một hành vi bất thiện vậy. 3. Về điểm này chúng ta chẳng nên bẻ găy (na bhañeyya): chúng ta chẳng nên chặt đứt. Làm hại một người bạn: mittadubbho = mittesu dubbhanaṃ ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài): làm hại cho họ.Có thể trở thành một kẻ bất lương (papako): làm hại một người bạn tức là người bất lương. Một cây với bóng mát đă xua tan mệt mỏi của những ai đă bị kiệt sức do sức nóng – chúng ta chẳng thể có ư định bất chính đối với cây đó, thế th́ đối với chúng sanh chẳng ai được làm như vậy. Bấy giờ devaputta này quả là người tốt đă giúp đỡ chúng ta rất nhiều và có tâm tri ân rất lớn bằng cách làm giảm nỗi thống khổ[231] của chúng ta. Chúng ta chẳng bao giờ nên suy nghĩ làm bất kỳ điều ǵ hại người đó. Chắc chắn ta c̣n phải tôn kính người ấy th́ mới phải. – đây là những ǵ ngài chỉ ra. Khi nghe điều này, với tâm an trú tốt bằng cách loại bỏ hành vi đạo đức giả chính là căn mọi thành công, vị bà la môn này đă thốt lên đoạn kệ chống lại với Ankura như sau: 4.Ta có thể đốn hạ thân cây ngay cả dưới bóng mát cây đó chúng ta đă nằm hay ngồi nghỉ nếu chúng ta muốn. 4. Về điểm này nếu chúng ta muốn làm thế (attho ca tādico siyā) : nếu như chúng ta có nhu cầu cần một số cây, chúng ta có thể hạ cây, bất luận cây đó có cành lá sum xuê hữu ích như thế nào. Đó là ư nghĩa ở đây. Khi vị bà la môn nói như vậy Ankura thốt lên đoạn kệ này đề cập đến Pháp của ḿnh chỉ là thiện nhân mà thôi. 5.Chúng ta không nên gây hại cho lá cây dưới bóng mát cây đó chúng ta đă nằm và ngồi nghỉ, kẻ nào làm hại một người bạn có thể là kẻ bất lương. 5. [115] Về điểm này chúng ta chẳng nên gây thiệt hại đến lá (na tassa pattaṃ hiṃseyya): chúng ta chẳng nên gây hại dù chỉ một chiếc lá của cây đó phải rơi xuống, c̣n đối với cành cây th́ chúng ta chẳng được làm ǵ hơn thế v.v... đây là ư nghĩa. Một lần nữa vị bà la môn lại thốt lên đoạn kệ đề cao quan điểm của ông ta: 6.“Chúng ta có thể nhổ tung cây đó lên cùng với gốc[232] rễ một cây chúng ta đă nằm hay ngồi dưới bóng mát của cây đó, nếu điều đó là cần thiết. 6. Về điểm này chúng ta có thể nhổ cây cùng với cả rễ nữa (samūlaṃ pi taṃ abhuyha): chúng ta có thể nhổ bật rễ cây đó. Có nghĩa là nhổ bật cả rễ cây nếu cần. Khi vị bà la môn đă nói như vậy Ankura lại thốt lên ba đoạn kệ mong rằng lời nói đó trở thành vô nghĩa. 7.‘Một người chẳng nên toan tính những hành vi bất thiện trong đầu chống lại người mà chúng ta đă tá túc trong nhà của họ cho dù chỉ trong một đêm và tại đó ta đă được phục vụ với đồ ăn thức uống – ḷng biết ơn được những thiện nhân tán dương rất cao. 8. Người đó chẳng nên toan tính những hành vi bất thiện trong đầu chống lại người chúng ta đă tá túc trong nhà và chính ngựi đó đă phục vụ chúng ta với đồ ăn thức uống – cánh tay không chiều theo điều bất thiện sẽ thiêu đốt kẻ nào làm hại đến một người bạn [233]. 9.Người nào trước đó đă nhận được một hành vi đẹp được thực hiện cho chính ḿnh và sau đó lại có ư định làm hại cho ân nhân của ḿnh bằng một hành động bất thiện chính là kẻ đă làm hại người vô tội. – người đó chẳng bao giờ được may mắn cả.’ 7. Về điểm này, của kẻ nào (yassa): kẻ nào đó. Dù chỉ trong một đêm, (ekarattim pi): kẻ nào dù chỉ lưu lại trong nhà người đó trong một thời gian ngắn ngủi ngay cả[234] chỉ có một đêm. Người đó đă được hầu hạ với đủ đồ ăn thức uống (yatth ’annapānaṃ puriso labhetha): trước sự hiện diện của bất kỳ ai đă được phục vụ với đồ ăn thức uống hay bất kỳ vật thực nào đó. [116] (Người đó) chẳng nên toan tính hành vi bất thiện nào (chống lại chủ nhà) ngay cả chỉ trong suy tính mà thôi (na tassa pāpaṃ manassā pi cetaye): người đó chẳng nên nghĩ ra, chẳng nên chờ đợi, điều bất hạnh đến cho người đó ngay cả chỉ trong suy nghĩ, đừng nói đến dùng thân và khẩu. Tại sao vậy? Ḷng biết ơn được những thiện nhân tán dương (kataññuta sappurisehi vaṇṇitā): ḷng biết ơn đă được chính Đức Phật ca ngợi, và hầu hết những thiện nhân cũng làm như vậy. 8. Đă được hầu hạ (upaṭṭhito): đă được thiết đăi với đồ ăn thức uống đă được chăm sóc với những lời, “Hăy nhận điều này, hăy ăn thứ nọ đi”. chẳng nên lấy tay đụng đến bất kỳ ai. (adubbhapāṇi): chẳng để cho bàn tay hại đến ai, bàn tay đă được kiềm chế. Đốt cháy kẻ nào gây hại đến bạn bè (dahate mittadubbiṃ): đốt cháy, triệt hạ, người nào làm hại bạn bè. Một lỗi phạm chống lại những người thiện chí và những người vô tội do người khác gây nên cũng sẽ tiêu huỷ y như vậy không loại trừ bất kỳ điều ǵ. Liên quan đến mặt thực tiễn quả thật người không có lỗi[235] sẽ đốt cháy kẻ khác. V́ lư do đó Đức Phật nói, ‘Kẻ nào làm hại kẻ vô tội một người thanh tịnh và không thể chê trách vào đâu được, th́ điều ác ấy sẽ dội ngược lại chính kẻ ngu si ấy giống như bụi bẩn bay ngược chiều gió vậy. 9. Kẻ nào trước kia đă nhận được một hành vi khả ái (yo pubbe katakalyāṇo): kẻ nào đă nhận được một vài điều thiện cho ḿnh, một số phục vụ người khác đem lại do bất kỳ người đức hạnh nào. Và kẻ nào sau này lại làm hại đến ân nhân của ḿnh với ác nghiệp (pacchā pāpena hiṃsati) và kẻ nào trong tương lai giáng xuống hành động độc ác, điều xấu đến người thi ân cho ḿnh. Người đó sẽ bị bàn tay tinh sạch tiêu diệt (allapāṇihato poso): kẻ đó sẽ bị tiêu diệt sẽ bị giáng xuống theo cách đă nói đến ở trên bởi chính việc thực hiện dịch vụ với một bàn tay tinh sạch, do kẻ nào ép buộc người đó phải thực hiện như vậy với một bàn tay sạch, với bàn tay đă được tẩy rửa. Hay nói cách khác chính bàn tay tinh sạch của người đó sẽ bị tiêu dịêt[236] v́ đă tấn công chính người thi ân cho ḿnh; kẻ đó quả là một tên vô ân, kẻ đó sẽ chẳng gặp được điều may mắn (na so bhadrāni passati): hạng người đă được khẳng định rơ ràng như vậy sẽ không nh́n thấy được, có nghĩa là, không t́m thấy được, không đạt đến được hạnh phúc ngay cả trên cơi đời này cũng như nơi cơi đời sau vậy. [117] vị Bà La Môn đă bị Ankura đánh bại như vậy đă đề cao Phật Pháp của thiện nhân, không nói được điều ǵ hơn nữa và chỉ biết im lặng. Tuy nhiên Dạ Xoa nghe được cuộc trao đổi giữa hai người như vậy và rất bực tức với vị bà la môn, suy nghĩ rằng, ‘Cứ để như vậy vào lúc này đă, sau này ta sẽ quyết định sẽ phải làm ǵ với vị bà la môn ác nhân đó.’ Và rồi thốt lên đoạn kệ này chứng tỏ mức độ bất lực không thể thắng nổi bất kỳ ai khác: 10.Chẳng phải chư thiên nào, hay chúng sanh hay bất kỳ quyền lực nào khiến ta có thể bị khuất phục[237] - ta là Dạ Xoa đă đạt đến sức mạnh thần thông tột đỉnh, nh́n xa trông rộng và được phú cho vẻ kiều diễm và sức mạnh.’ 10. Về điểm này do bởi deva (devana): do bởi bất kỳ vị chư thiên nào do chúng sanh nào (manussena vā): cũng được áp dụng ở đây như vậy. Cũng chẳng do thế lực thống trị nào (issariyena vā): cũng chẳng do quyền lực thống trị của chư thiên hay quyền lực thống trị của chúng sanh nào. Trong trường hợp này ‘quyền thống trị chư thiên có nghĩa là thế lực[238] thần linh thuộc tứ đại vương, Sakka Suyama[239] v.v... trong khi đó thế lực thống trị của chúng sanh’ có nghĩa là thế lực xuất hiện từ những hành vi thiện của một chuyển luân vương[240] v.v... Chính v́ thế bằng cách ‘thống trị’ bao gồm cả những kẻ có oai lực to lớn nơi các chư thiên lẫn chúng sanh. Ngay cả các Chư Thiên với oai lực to lớn cũng không thể khuất phục được những kẻ nào được chánh quả các phước báu nâng đỡ họ và khi không c̣n bất kỳ thất bại nào nơi những phương cách đó[241] như vậy những kẻ khác có thể làm ǵ hơn được. Ham (không được dịch) chỉ là một tiểu từ chỉ rơ nỗi bất lực. Không dễ ǵ khuất phục được (na suppasayho): không thể tiêu diệt được. Ta là một Dạ Xoa đă đạt được năng lực thần thông tột đỉnh (yakkho ham asmi paramiddhipatto): bằng chính các phước báu của ḿnh ta đă được tái sanh nơi kiếp dạ xoa. Chẳng c̣n ai có thể sánh bằng dạ xoa[242]. Hơn thế nữa ta đă đạt đến năng lực thần thông tột đỉnh, ta đă có được năng lực thần thông tột đỉnh, hoàn hảo nhất nơi một dạ xoa. Có sắc đẹp và sức mạnh (vannabalupapanno): được trang bị với[243], có được sắc đẹp kiều diễm và sức mạnh thể lực hoàn hảo. Thông qua[244] những câu thần chú ba từ ngài tỏ ra cho thấy khả năng bất chiến bại. Có sắc tướng hoàn hảo, ngài được mọi người kính phục, v́ có sắc đẹp kiều diễm [118] ngài không thể bị lẫn lộn với bất kỳ ai ngay cả những người không b́nh thường. Việc ngài có được sắc đẹp kiều diễm đó được cho là[245] lư do bất chiến bại của ngài. Từ đây trở đi là cuộc trao đổi tṛ chuyện trong mười lăm đoạn kệ giữa Ankura và chư Thiên đó (devaputta). 11.‘Bàn tay của ngài hoàn toàn màu vàng, là năm bộ chấp tri, và từ đó một ngọt chảy ra; cũng như nước cốt trái cây gồm nhiều hương vị cũng chảy ra từ đó – ta nghĩ chắc hẳn ngài phải là vị Purindada. 12.Ta chẳng phải là Deva cũng không phải gandhabba[246] hoặc ngay cả Dạ Xoa Purindada; là ngạ quỉ ắt hẳn ngài phải biết ta, hỡi Ankura, ta đến đây từ thành Bheruva.’ 13.Phẩm hạnh và tính t́nh ngài ra sao, trước kia khi ngài c̣n lưu lại tại Bheruva? Điều phước đem lại chánh quả trong tay ngài là do loại phẩm hạnh nào đem lại?’ 14.Trước kia ta chỉ là một thợ may trong thành Bheruva; vào thời điểm đó ta phải chịu khổ sở lớn lao và sống cuộc đời vô cùng cơ cực. Ta chẳng có sự ǵ khả dĩ để bố thí cả. 15.Nhưng tiệm may của ta lại rất gần ngài Asayha, là người có niềm tin vững mạnh và là bậc thầy trong việc bố thí, một người có lương tâm trong sáng luôn thực hiện phước báu. 16.Những kẻ ăn xin và những khách văng lai thuộc nhiều bộ tộc khác nhau đă đến đây và họ đă hỏi ta nơi cư trú của ngài Asayha nói rằng, ‘Phước lành xuống trên ngài, chúng ta nên đi đâu, - của thí được phân phát ở đâu?’ 17.Khi được hỏi như vậy ta thường giơ cao cánh tay phải và chỉ cho họ nơi cư trú của ngài Asayha nói rằng, “Phước lành xuống trên các ngài! Các vị nên đến kia – của thí được phân phát ở đó ngay tại nơi cư trú của ngài Asayha.” 18.V́ lư do đó cánh tay của ta được cho là cánh tay ban phát điều mong ước. Chính v́ lư do đó cánh tay ta tuôn trào mật ong. Điều phước cho kết quả tuôn trào trong bàn tay này chính do loại phẩm hạnh đó mà ra. 19.‘Người ta kể lại rằng ngài chẳng bao giờ dùng chính bàn tay của ngài bố thí cho ai bao giờ nhưng lại hoan hỷ nơi cuộc bố thí kẻ khác thực hiện do ngài đă giơ cao cánh tay và chỉ đường. 20.Chính v́ lư do đó cánh tay của ngài ban ước mơ, v́ lư do này mà cánh tay của ngài tuôn trào mật ong. Điều phước cho kết quả tuôn trào trong bàn tay này chính do loại phẩm hạnh đó mà ra. 21.‘Thưa ngài, người mộ đạo là người đă bố thí bằng chính bàn tay của ḿnh - khi người đó rời khỏi cơi trần gian này họ sẽ đi về đâu?’ 22.‘Ta không rơ đường đi nước bước của vị Angirasa, là người chịu đựng quá mức những ǵ phải chịu đựng[247] [119] nhưng ta chỉ nghe nói trước mặt Vessanana[248] ngài Asayha đó đă được làm bầu bạn với Sakka. 23.‘Quả thật đầy đủ để thực hiện những nghiệp phước và bố thí những ǵ thích hợp. Sau khi được chứng kiến cánh tay ban phước, th́ kẻ nào lại không muốn thực hiện phước báu? 24.Như vậy khi ta đă từ đây tiến về Dvaraka, ta sẽ thực hiện bố thí vật thực đem lại hạnh phúc cho ta. 25. Ta sẽ bố thí đồ ăn thức uống, y phục và trú xứ, những chỗ để nước dọc đường, lại có giếng và cầu nơi những vị trí khó vượt qua.’ 11. Về điểm này bàn tay của ngài (pani te): Bàn tay phải của ngài, hoàn toàn bằng vàng (sabbasovaṇṇo): toàn bộ màu vàng. Năm bộ chấp tri (pañcadhāro): (người ta cho là) năm ‘bộ chấp tri’ v́ với năm ngón tay là những chấp tri của những ǵ người khác mơ ước. Mật ong chảy ra (madhussavo): đang tuôn chảy[249] với những nước cốt ngọt lịm. V́ lư do đó ngài cho biết, những loại nước cốt có nhiều hương vị đang chảy ra (nānārā paggharanti), có nghĩa là nhiều loại nước cốt ngọt lịm, chua, hăng v.v... [250] - đang chảy[251] ra từ đó. Khi cánh tay dạ xoa phân phát ước mơ đang phân phát đủ loại thức ăn cứng có, mền có gồm đủ thứ hương vị như ngọt v.v... người ta cho rằng cánh tay đó ‘đang rỉ ra mật ong’. Ta thiết nghĩ ngài phải là Purindala (maññe han taṃ Purindadaṃ): ta thiết nghĩ ngài phải là dạ xoa Purindada, có nghĩa là ngài phải là một Sakka, vua các Chư Thiên, ngài có oai lực to lớn đến như vậy. 12. Ta chẳng phải vị Chư Thiên, (n’amhi devo) ta chẳng phải là chư thiên quen thuộc giống như Vassanana v.v... Cũng không phải gandhabba (na gandhabbo): ngay cả ta chẳng phải một chư thiên thuộc nhóm gandhabbas. Cũng chẳng phải Sakka Purindada (na pi Sakko Purindado): ta chẳng phải Sakka, vua các chư thiên, có tên là Purindada do trước đó (pure) đă cung cấp của thí (dānassa) trong kiếp[252] trước. Thế ngài[253] là ǵ? Ngài cho biết, với tư cách là ngạ quỉ ắt hẳn ngài phải biết ta là ai, hỡi Ankura (petam Ankura jānāhi): nhà ngươi phải biết ta người đă tái sanh thành ngạ quỉ, thưa ngài Ankura, ngài nên coi ta là một ngạ quỉ có thần lực dũng mănh. Ta là ai đă từ Bheruva đến đây (Bheruvamhā idhāgataṃ): sau khi đă diệt khỏi thành phố Bheruna, ta đă xuất hiện tại đây ngay dưới gốc cây đa này giữa hoang địa sa mạc này, có nghĩa là ta đă tái đầu thai tại nơi đây. 13. Ngài có phẩm hạnh thuộc loại nào, có tánh nết ra sao khi ngài c̣n lưu lại Bheruna trước kia (kiṃsīlo kiṃsamācāro Bheruvasmiṃ pure tuvaṃ): trước kia, trong kiếp trước, khi ngài c̣n lưu lại trong thành phố Bheruva, [120] ngài có phẩm hạnh ra sao, tính t́nh thế nào? Sau khi chấp nhận[254] loại phẩm hạnh nào làm điểm đặc trưng cho lần ngài thoát khỏi[255] những hành vi bất thiện, do loại phẩm hạnh đó là điểm đặc trưng khiến ngài đi tới[256] thực hiện những phước báu, đó là loại phẩm hạnh nào, có nghĩa là loại phẩm hạnh nào đă khiến cho ngài theo đuổi phẩm hạnh thiện như ngài đă trưng ra v.v... ? Nhờ loại phẩm hạnh nào khiến điều phước đă tạo kết quả nơi chính bàn tay của ngài? (kena te brahmacariyena puññaṃ pāṇimhi ijjhati): bằng loại thù thắng phẩm hạnh nào khiến nảy sanh chánh quả phước báu mà giờ đây đă tạo dị thục và gây tác dụng ngay trong bàn tay của ngài. Có nghĩa là làm ơn xin ngài cho tôi biết điều này. Qua ‘hành vi công đức’ có nghĩa là chánh quả do phước báu đó tạo ra, là do cách đọc lướt từ thứ hai (trong từ ghép) đó. V́ có điều chắc chắn rằng ta gọi đây là phước báu ‘đây chính là việc chứng đắc các cảnh thiện bằng cách này, hỡi các tỳ khưu, mà ta khiến phước báu gia tăng’, v.v... 14. Người thợ may (nunnavāyo): người làm việc với kim chỉ. Ta đă theo đuổi cuộc sống tất bật: sukicchavutti= suṭṭhu kicchavuttiko (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); ta đă có cuộc sống hết sức cơ cực. Ta đă phải chịu cực khổ lớn lao (kapaṇo): ta nghèo khổ, có nghĩa là ta đă rơi vào cảnh cùng khổ. Ta chẳng có ǵ để bố thí (na me vijjati dātave): ta chẳng có ǵ đáng giá để bố thí, chẳng có ǵ để bố thí cho người nghèo khổ cho vị sa môn và cho các vị bà la môn, tuy nhiên ta vẫn hằng mơ tưởng đến bố thí – đây là ư nghĩa. 15. Xưởng may (āvesanaṃ): căn nhà, hay căn pḥng làm việc may vá. Rất gần ngài Asayha (Asayhassa upantike): gần kề bên nhà thương gia Asayha giàu có. Là người có niềm tin (saddhassa): có niềm tin nơi thánh quả phước báu. Là bậc thầy trong việc thực hiện bố thí (dānapatino): liên quan đến việc bố thí ngài là bậc thầy do đă vượt thắng thèm khát và thông qua thù thắng ḷng từ bi quảng đại được thực hiện liên tục không ngưng nghỉ.[257] Ngài đă thực hiện rất nhiều phước báu (katapuññassa): ngài đă thực hiện những việc thịên nơi phẩm hạnh kiếp trước. Một người có lương tri (lajjino): một con người với bản chất ghê sợ ác nghiệp. 16. Tại đó (tattha): từ xưởng may của tôi. Những kẻ ăn xin có thể đến được (yācanakā yanti): đám người ăn xin có thể tới đó với ư định xin những thứ cần thiết từ tay thương gia giàu có Asayhasetthi. Xuất thân từ nhiều bộ tộc khác nhau (nānāgotta): thuộc nhiều bộ tộc và nhiều vùng khác nhau. Những khách văng lai (vanibbakā): những kẻ thường tỏ ḷng khen ngợi chúng ta (vaṇṇadīpakā)[258] những người du hành khắp nơi công bố [259] nhu cầu chính đáng với một lời khen ngợi v.v... về những phẩm hạnh đó và về những kết quả, những phước báu v.v... của kẻ nào thực hiện bố thí. Và họ có thể yêu cầu ta (te ca maṃ tattha pucchanti): tattha (không được dịch) chỉ là một tiểu từ: những kẻ ăn xin v.v... có thể yêu cầu ta cho biết nơi ở của ngài Asayha, thương gia giàu có. Những người xác minh yêu cầu phải có hai bệnh nhân ở những vị trí[260] như vậy. [121] Xin chúc ngài mọi sự tốt lành! Chúng ta phải đi tới đâu – của bố thí được phân phát ở đâu? (kattha gacchāma bhaddhaṃ vo kattha dānaṃ padīyati): điều này chỉ rơ cách thức họ hỏi. Ư nghĩa ở đây như sau: Xin chúc ngài mọi sự tốt lành! Chúng tôi tới sau khi nghe biết chính ngài Asayha-setthi đang phân phát của thí tại đây. Người ta đang phân phát của bố thí ở đâu? Hay chúng ta phải tới đâu - bằng cách tới đâu chúng ta có thể nhận được của bố thí? 17. Được hỏi như vậy, tôi có thể chỉ cho họ (tesāhaṃ puṭṭho akkhāmi): khi các vị hành giả hỏi ta như vậy về nơi họ có thể nhận của thí ta đă trịnh trọng[261] giơ cánh tay mặt lên và chỉ cho họ biết nơi cư trú của ngài Asayhasetthi nghĩ rằng, ‘Trong qúa khứ không do thực hiện những phước báu giờ đây tôi không thể bố thí bất kỳ điều ǵ cho những hạng người này. Tuy nhiên ta có thể tạo ra rất nhiều phước chỉ bằng điều nhỏ mọn như thể vui vẻ[262] chỉ cho họ biết phương cách để nhận được của bố thí bằng cách chỉ cho họ căn nhà người ta đang phân phát của bố thí. V́ lư do này ngài nói, “ta đă giơ cánh tay phải của ḿnh’ v.v... 18. V́ lư do đó cánh tay ban lời ước của ta (tena pāni kāmadado): liên quan đến việc cho biết vật thí của người khác, v́ chỉ tỏ ra vui vẻ với niềm kính trọng đúng mức vào lúc phân phát bố thí cho người khác. Giờ đây cánh tay của ta ban tặng lời ước giống như một cây ban lời ước, giống như vây leo santana[263], là cây leo đă đem lại bất kỳ điều ǵ ta muốn. Chính v́ lư do đó ngón tay ta đă tuôn trào mật ngọt (tena pāni madhussavo): bàn tay đă hiện rơ nhằm phân phát những điều kỳ diệu. 19. Người ta kể lại rằng ngài đă không thực hiện bố thí (na kira tvaṃ dānaṃ): ‘người ta kể lại’ (kira) chỉ là một tiểu từ làm rơ lời đồn đại. Người ta nói rằng ngài đâu có bỏ ra tài sản của chính ḿnh, và ngài chẳng phân phát bất kỳ của bố thí nào cho ai cả bằng chính bàn tay của ngài, tự chính bàn tay của ngài cho dù có bố thí cho các vị sa mônhay các vị bà la môn. Nhưng nhờ ḷng hoan hỷ với những của bố thí người khác thực hiện (parassa dānaṃ anumodamāno): nhưng khi bạn cảm thấy hoan hỷ với của thí người khác thực hiện dành cho kẻ khác nghĩ rằng, ‘Ôi, cuộc bố thí ngài đang thực hiện vĩ đại đến nhường nào!’ 20. V́ lư do đó bàn tay ban phước của ngài (tena pāni kāmadado): v́ lư do đó cánh tay ban phước của ngài bằng cách này. Ôi, quả thật kỳ diệu thay những phước thiện đó!’ đây là ư nghĩa đoạn trên. 21. Thưa ngài, con người đức hạnh này đă ban phát của bố thí bằng chính bàn tay của ngài (yo so dānaṃ adā bhante pasanno sakapāṇīhi): bằng ḷng kính trọng ngài đă thưa chuyện với vị Devaputta bằng, ‘thưa ngài’. [122] V́ chỉ[264] bằng cách hoan hỉ với những của bố thí do người khác thực hiện, thưa ngài, mà thánh quả như vậy, oai lực như vậy đă đến với ngài. Nhưng lại chính Asayha, là thương gia giàu có[265] đă thực hiện bố thí vĩ đại và cũng là người đă có tịnh tín trong ḷng vào thời điểm ngài phân phát bố thí vĩ đại đó bằng chính bàn tay của ḿnh. Khi ngài từ bỏ thân xác của ḿnh (so hitvā mānusaṃ dehaṃ): khi ngài đă từ bỏ thân nhân loại của ḿnh tại đây. Tiến tới (kiṃ): tiến tới điều ǵ. Nu so (không được dịch): nu chỉ là một tiểu từ. Vị ấy đă đi tới vùng đất nào? (disataṃ gato): (theo ) hướng nào, (tới vị trí nào) ngài đă ra đi; ngài hỏi đến định mệnh của ngài Asayhasetthi nơi cơi tương lai nói rằng, ‘ ngài đă kết thúc cuộc sống với sanh thú nào?’ 22. Kẻ phải chịu những ǵ quá sức chịu đựng (asayhasāhino): ngài là người phải chịu đựng những ǵ quá sức chịu đựng của ḿnh. Về trách nhiệm[266] của các vị xứng đáng liên quan đến những vấn đề từ bi[267] quảng đại mà thôi v.v... lại không thể chịu đựng nổi, hay do người khác có tính bần tiện hay do tham lam khống chế. Do Angirasa (Angirasassa): do kẻ có các chi tỏa sáng, rasa[268] là thuat ngữ ẩn dụ có nghĩa là ‘ánh sáng rực rỡ’. Người ta kể lại rằng khi ngài nh́n thấy những người hành khất xuất hiện th́ niềm vui cao độ và niềm hạnh phúc nổi lên trong ngài và nước da của ngài trở nên sáng bóng. Ngài nói theo cách này sau khi chính ngài[269] đă chứng kiến. Việc đi tới đi lui (gatiṃ āgariṃ va): tôi không rơ việc đi tới[270], có nghĩa là, ngài đă đi từ đây với vị trí đó, cũng như không phải việc tới đó, có nghĩa là, ngài đă tới đây từ vị trí đó vào thời điểm này thời điểm nọ – điều này nằm ngoài khả năng phán đoán của tôi. Nhưng tôi đă được biết trước sự hiện diện của Vessavanasa (sutañ ca me Vessavanassa santike): tuy nhiên ta đă nghe biết điều này trước sự hiện diện của Đại Vương Vessavana, trong khi đang phục vụ ngài. Đó là Asayha đă đi đến kết bạn thân với Sakka (Sakkassa sahavyataṃ gato Asayho): đó là Asayhasetthi đă kết thân với Sakka, là thống lănh[271] các chư thiên, có nghĩa là ngài đă tái sanh nơi cơi Tam Thập Tam. 23. Làm điều thiện quả là điều phải lẽ (alam eva kātuṃ kalyāṇaṃ): là điều thích hợp và phải lẽ để làm bất kỳ điều ǵ là khả ái, là thiện và là phước. Tuy nhiên để chứng tỏ trong mối tương quan này vẫn có điều ǵ đó dễ dàng mở ra cho hết thảy mọi người. Người ta nói rằng ‘và bố thí là điều hoàn toàn thích hợp’ và thật là phải lẽ để ta bố thí hợp với khả năng và những phương tiện ta có. Thế rồi ngài cho biết lư do: sau khi đă nhận ra bàn tay ban điều ước này (pāṇikāmadadaṃ disvā): bởi v́ không những chỉ cho biết lối dẫn đến nơi cư ngụ của bậc thầy thực hiện việc bố thí sau khi đă thấy sung sướng trước những phước báu kẻ khác đă làm trước đó mà cánh tay ban điều ước này đă được nhận ra. Sau khi đă nhận ra điều này thử hỏi [123] ai là người lại không muốn thực hiện phước báu? (ko puññaṃ na karissati): ai là người giống như ta lại không thực hiện phước báu sẽ trở thành sự hỗ trợ cho ḿnh (nơi kiếp sau)? Sau khi đă chỉ rơ cho thấy việc thực hiện phước báu được ngài đánh giá cao một cách mơ hồ như vậy, giờ đây ngài liền thốt lên hai đoạn kệ bắt đầu như sau: ‘Khi ta (đă từ đây ra đi) chứng tỏ ḷng cam kết của ngài là như thế nào. 24. Về điểm này Ta: so = so ahaṃ ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Hi (không được dịch) là một tiểu từ nhấn mạnh. Như vậy (nuna)[272] là một tiểu từ suy quán. Khi ta đă từ đây ra đi (ito gantvā): khi ta đă rời khỏi vùng sa mạc này. Và đă quay trở lại Dvaraka (anuppatvāna Dvārakaṃ): và đă quay trở lại thành phố Dvaravatī. Ta sẽ cung cấp (paṭṭhapayissāmi): ta sẽ ban phát ra. Dạ xoa quá vui mừng sung sướng khi nghe Ankura đă tự nguyền rằng ngài sẽ thực hiện bố thí và động viên ngài thực hiện việc từ thiện nói rằng, ‘Thưa ngài, ngài nên tự nguyện bố thí, ta sẽ trợ giúp[273] ngài bằng cách giàn xếp mọi sự theo cách thức việc cúng dường của ngài sẽ không thể cạn kiệt được (quay lại nh́n vị bà la môn ngài nói tiếp) ‘Hỡi thương gia bà la môn, trong khi nhà ngươi không biết được khả năng của chính ḿnh khi ngài nói rằng ngài muốn dùng vũ lực để loại bỏ một người như ta.’ và sau khi đă khiến cho của cải của thương gia đó biến mất, dọa nạt ông ta và đe doạ hăm hại ông ta bằng cách dùng một dạ xoa[274] để tấn công. Ankura đă nài nỉ vị ấy bằng nhiều cách và trấn an ông bằng cách bảo vị bà la môn xin lỗi và nhờ đó mà mọi của cải của vị bà la môn được hoàn trả trở lại. Khi đêm xuống, vị ấy đă để cho dạ xoa ra đi và, đang khi tiếp tục lên đường, vị bà la môn ấy đă nh́n thấy một ngạ quỉ xuất hiện trước mặt ḿnh, trông thật khủng khiếp. Vị bà la môn đă thốt lên đoạn kệ này để ḍ hỏi về hành vi ông ta đă làm: 26.V́ lư do ǵ mà các chi[275] của ngài bị méo mó dị dạng và mặt mũi ngài lại nhăn nhó thảm đến như vậy; và v́ lư do ǵ mà mắt ngài lệ rơi thành giọt? Nhà ngươi đă thực hiện ác nghiệp ǵ vậy? 26. Về điểm này méo mó (kuna): kḥm, cong queo, không được thẳng thắn. Nhăn nhó (kuṇalīkataṃ): xấu xí méo mó dị dạng[276]. Chảy ṛng (paggharanti): chảy ra những thứ dơ bẩn [277]. (ô uế) Thế rồi Ngạ Quỉ lại thốt lên ba đoạn kệ như sau: 27. [124] Ta được giao canh giữ đồ bố thí trong phước xá của ngài Angirasa, là một gia chủ hết mực yêu cuộc sống gia đ́nh và có niềm tin vững chắc. 28.Khi ta thấy có nhiều hành khất đến đó đang trong cơn quẫn bách cần vật thực ta đă bước sang một bên với vẻ mặt nhăn nhó. 29. V́ lư do đó các chi của ta bị méo vẹo và mặt ta nhăm nhó. Đó chính là lư do tại sao mắt ta lúc nào cũng chảy ra những thứ dơ bẩn – đây quả là ác nghiệp ta đă thực hiện. 27. Về điểm này Angirasa (Angīrasassa) v.v... :ngài đă dùng những thuộc tính này để khen ngợi Anseyhasetthi. Yêu cuộc sống gia đ́nh (gharaṃ esino): một người luôn ở nhà, chủ tŕ trong gia đ́nh. Trong Phước Xá (dānavissagge): trong căn nhà người ta tổ chức phân phát của bố thí, tại vị trí phát chẩn. Ta được giao canh giữ đồ bố thí (dāne adhikato ahum): ta được cắt đặt quản lư công việc bố thí, phân phát đồ cúng dường . 28. Ta đă bước sang một bên (ekamantaṃ apakkamma): Khi ngạ quỉ nh́n thấy những hành khất đến nhà có nhu cầu nhận vật thực người cai quản các đồ bố thí không nên rời khỏi nơi phát những của bố thí đó. Người đó phải ở lại ngay vị trí đó và với vẻ mặt hân hoan và hạnh phúc và da dẻ tươi sáng, để ban phát của bố thí bằng chính bàn tay của ḿnh hay nhờ người khác phân phát m& | |