|
CHÚ GIẢI BỘ PHÂN TÍCH
Nguyên
Tác Pāli: Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG TÁM
PHÂN LOẠI CHÁNH
TINH TẤN
A. CHƯƠNG KINH TẠNG 1392. [289] Giờ đây trong bản phân tích chánh cần tiếp theo sau đó, cattāro <208.1> (“bốn”> là cách phân chia số học. Theo cách đó ngài cho thấy cách phân tích chánh cần chẳng ở trên mà cũng chẳng ở dưới. Sammappadhāna (“Chánh Cần”) [có nghĩa là] cố gắng là lư do, cố gắng là phương tiện và cố gắng là khôn ngoan. 1393. Idha bhikkhu (“một tỳ khưu ở đây”): một tỳ khưu đang tu luyện theo hệ thống Giáo Pháp này. Anuppannānaṃ (“bất khởi xuất”): không cho sanh ra. Pāpakānaṃ <208.2> (“điều ác”): xấu xa, ác, Akusalānaṃ dhammānaṃ (“các pháp bất thiện”): các pháp thiện. Anuppādāya (“đối với điều bất khởi xuất”): chưa phát sanh.Chandaṃ janeti (“ngài tạo ra ước vọng”): ngài khiến cho phát sanh, làm cho phát sanh. Ta gọi dục thiện là ước muốn hành động. Vāyamati <208.3> (“ngài tinh tấn”): ngài thực hiện một cố gắng mănh liệt[1]. Viriyaṃ ārabhati (“sử dụng chuyên cần”): ngài sử dụng sức mạnh thân xác và tâm linh.Cittaṃ paggaṇhāti (“làm kiên tâm”): ngài khuấy động tâm linh với cùng câu sanh tinh tấn đó. Padahati (“phấn đấu”): ngài sử dụng tinh tấn với hết sức ḿnh. Nhưng lần lượt ta cũng nên phân tích bốn loại tinh tấn này cùng với tu luyện, phát triển, thường xuyên luyện tập cộng với kiên tŕ. 1394. Uppannānaṃ pāpakānaṃ <208.4> (“về điều ác nổi lên”):liên quan đến các pháp ác đă thâm nhập ta không thể gọi là chưa sanh.[2] Pahānāya < 208.5> (“đối với việc loại bỏ”): nhằm mục đích từ bỏ, đoạn trừ. 1395. Anuppannānaṃ kusalānaṃ <208.6> ( “về điều thiện chưa sanh”): đối với những pháp thiện chưa sanh đă trở thành có lợi (thiện). Uppādāya <208.7> (“khiến cho khởi xuất) : nhằm mục tiêu nhắm đến việc khởi xuất. 1396. Uppannānaṃ <208.8> (“đă sanh”): đă tạo ra. Thitiyā <208.9> (“để duy tŕ”): nhằm mục tiêu duy tŕ. Asammosāya (“không biến mất”): nhằm mục tiêu không để mất đi. Bhiyyo-bhāvāya (“tăng cường sức mạnh”): nhằm mục tiêu gia tăng. [290] Vepullāya (“tăng triển thêm”): nhắm đến sự dồi dào. Bhāvanāya <208.10> (“phát triển, tiến bộ thêm”): nhằm tiến tới. Pāripūriyā (“hoàn hảo”): nhằm mục tiêu hoàn chỉnh, hoàn hảo hóa. 1397. Đầu tiên việc này nhằm mục đích vạch ra ư nghĩa từng từ riêng biệt thuộc bốn loại chánh cần liên quan đến phần tóm lược này. Giờ đây đề cho thấy các từ này được phân tích liên tiếp nhau, trong đoạn mô tả bắt đầu với các từ Kathañ ca bhikkhu anuppannānaṃ <208.12> (“bằng cách nào một vị tỳ khưu... không cho phát sanh”) 1398. Về điểm này, tập chú giải nhắm tới điều tương đồng với những ǵ đă được truyền lại cho ta trong tập Dhammasaṅgaha(= dhammasaṅgaṇi) nên được hiểu theo cùng một cách như vậy; nhưng liên quan đến những ǵ không được truyền lại trong trường hợp này. Trước tiên việc giải nghĩa từ “ước muốn” yo chando <208.25> (“điều được ước ao”) lại là điều được ao ước bằng cách khêu gợi. Chandīkatā [3] (“lập nguyện”): là hiện trạng ước ao hay đặc tính ảnh hưởng đến ước ao. Kattukamyatā (“ước ao được hành động”) =kattu+ kāmatā; kusalo (“điều thiện”) là có tài khéo. 1399. Dhammacchando (“pháp dục”) đó là dục của thực tính (sabhāvacchanda). V́ dục này có nhiều loại và có nhiều khía cạnh như thể ái dục (taṇhāchanda), tà kiến dục (diṭṭhichanda) tinh tấn dục (viriyachanda) pháp dục (dhammacchanda). Trong ví dụ này, “dục thiện với giới pháp chính là ước muốn hành động” được chủ tâm cho đó là “pháp dục” nằm trong số những dục này. 1400. Imaṃ chandaṃ janeti <208.26> (“ngài phát ra dục này”) : là người có ảnh hưởng đến ước ao tạo ra ước vọng. Sañjaneti (“tạo ra”): từ này được tạo ra với tiếp đầu ngữ. Uṭṭhāpeti <208.27> (“nổi lên”): kẻ nào gây ảnh hưởng đến ước ao sẽ tạo ra ước vọng. Samuṭṭhāpeti (“làm trào ra”): từ này làm tăng thêm nhờ tiếp đầu ngữ. Nibbatteti (“làm xảy ra”): là người ảnh hưởng đến ước vọng được xảy ra. Abhinibbatteti (“làm sanh khởi”) : từ này làm tăng thêm bằng một tiếp đầu ngữ. 1401. Hơn thế nữa, kẻ nào gây ảnh hưởng đến ước vọng th́ “tạo ra dục” kẻ nào gây ảnh hưởng đến ước ao liên tục cũng sẽ “tạo ra” dục.” Kẻ nào làm nổi dậy trở lại khi ước vọng bị xa sút liên tục do một số trở ngại nổi lên chính là người giữ cho dục liên tục chuyển động “tạo cho dục nổi dậy”. Kẻ nào làm sáng tỏ ước vọng hầu làm tạo ra dục là người không ngần ngại khiến cho ḷng dục trào dâng. Không mảy may miễn cưỡng cũng như không dè dặt khiến dục trào dâng.” 1402. Trong phần mô tả về tinh cần, kẻ nào gây ảnh hưởng đến ḷng hăng hái th́ viriyaṃ ārabhati <209.6> (“người khởi động chánh tinh cần”) [291] Từ thứ hai được tăng thêm với một tiếp đầu ngữ. Kẻ nào gây ảnh hưởng đến ḷng hăng hái āsevati bhāveti <209.7> (‘vun trồng và phát triển chánh tinh cần”). Kẻ nào gây ảnh hưởng đến hăng hái liên tục bahulīkaroti (“th́ tu tập liên tục”). Kẻ gây ảnh hưởng đến chánh tinh cần ngay từ đầu ārabhati <209.6> (“khởi xuất chánh tinh cần”). Kẻ gây ảnh hưởng liên tục samārabhati (“khởi xướng”). Kẻ nào năng lui tới với chánh tinh cần bằng cách tu luyện chánh tinh cần đó āsevati <209.7> (“tu tập chánh tinh cần”). Kẻ nào tạo cho chánh tinh cần tăng triển bhāveti (‘phát triển chánh tinh cần”). Kẻ nào thực thi chánh tinh cần trong mọi sanh hoạt bahulīkaroti (“làm cho sung măn chánh tinh cần”). 1403. Trong phần giải thích t́nh trạng kiên tâm, kẻ nào chế ngự được tâm linh trong việc tu luyện tinh cần cittaṃ paggaṇhāti <209.10> (“luyện tập ư chí”): “nổi lên” là ư nghĩa ở đây. Kẻ nào luyện tập tâm liên tục sampaggaṇhāti <209.11> (“bảo tŕ”). Kẻ nào ủng hộ được hiện trạng ư chí như vậy cưỡng ép không để cho ư chí rơi trở lại t́nh trạng cũ upatthambheti (“ủng hộ”). Kẻ nào ủng hộ liên tục nhằm mục tiêu củng cố những ǵ đă tu luyện paccupatthambheti (“hổ trợ”). 1404. Trong phần giải thích từ “duy tŕ” (ṭhiti). Yā ṭhiti so asammoso <210.28> (điều ǵ đă được duy tŕ th́ không thể biến mất”)v.v... là những ǵ được đề cập đến để chứng tỏ cho thấy toàn bộ các từ này bắt đầu với từ “không biến mất” (asammosa) đều là từ đồng nghĩa với các từ ở trên, ta cũng có thể nói mỗi từ ở trên đều có nghĩa tiếp theo sau đây. Điều c̣n lại đều có nghĩa đă quá rơ ràng. 1405. Đây là vị trí đầu tiên trong tập chú giải Pāli; nhưng phần tiếp theo là thảo luận về định nghĩa. V́ phần thảo luận về Chánh Cần này gồm hai phần là: hiệp thế và siêu thế. Chánh cần hiệp thế. 1406. Về vấn đề này, thuộc hiệp thế chính là giai đoạn đầu tiên nơi mọi [chánh đạo][4] ta nên hiểu như là vào giai đoạn chánh đạo hiệp thế theo phương pháp của Kassapa Saṃyutta; v́ có lời kể lại rằng: “Các chư huynh thân mến, có bốn chánh cần này, thế nào bốn nào vậy? Chư huynh thân mến, ở đây một vị tỳ khưu nhiệt tâm như vậy th́ những pháp ác, pháp bất thiện không diễn ra, bằng không chúng có thể gây hại cho ta”; vị ấy chứng tỏ ḷng nhiệt tâm như sau: những ác bất thiện pháp đă sanh có thể gây hại cho ta, nếu chúng không được đoạn trừ. Ngài chứng tỏ ḷng nhiệt tâm như sau: “Những pháp thiện không diễn ra có thể gây hại cho ta nếu như chúng không xuất hiện.” Ngài chứng tỏ ḷng nhiệt tâm như sau: “Những pháp thiện đă khởi xuất có thể gây hại cho ta nếu chúng bị diệt.” (xin đọc S. ii. 197) 1407. Và ở đây, anuppannā kusalā dhammā (“những pháp thiện chưa sanh”) vừa là chỉ, quán và cũng là thánh đạo nữa. [292] Uppannā kusalā dhammā (“các pháp thiện đă sanh”) chứng tỏ là chỉ và quán mà thôi. Nhưng các pháp này không là thánh đạo, chỉ xuất hiện có một lần, lại gây hại cho ta nếu chúng bị diệt; v́ chúng chỉ có thể bị diệt bằng cách tạo ra nguyên nhân cho quả. Nói cách khác, “chỉ có chỉ và quán được cứu xét liên quan đến giai đoạn sơ đẳng này mới được đề cập đến[5] mà thôi.” Nhưng điều đó lại không chính xác. 1408. Về điểm này, đây là chuyện kể nhằm làm sáng tỏ chỉ và quán, nếu bị diệt sẽ gây hại cho ta ra sao. 1409. Có một vị Trưởng Lăo đă triệt phá hết các cấu uế, h́nh như ngài đang suy tính thực hiện cúng dường tại một Bảo tháp có trồng cây Bồ Đề.[6] Có một Sa-di đi theo, thầy có [nhiệm vụ mang đồ đạc] cho vị Trưởng Lăo. Sa-di này xuất thân từ vùng quê thuộc Bảo tháp vĩ đại này và đă gia nhập thiền viện Piyaṅga[7]. Khi Tăng Đoàn các vị Tỳ khưu đă cúng dường tại Bảo tháp vào buổi tối, ngài Trưởng Lăo không xuất hiện tham gia cúng dường cùng với Tăng Đoàn. Tại sao vậy? vị nào đă đoạn tận các lậu hoặc th́ quy y Tam Bảo với cung cách hết sức trang trọng. Chính v́ thế khi Tăng Đoàn các tỳ khưu quay trở lại pḥng riêng sau khi đă thực hiện cúng dường, vào lúc mọi người đang dùng bữa tối, Trưởng Lăo liền ra ngoài một ḿnh mà không báo cho ai biết, ngài có ư đi kính lễ Bảo tháp một ḿnh mà thôi. 1410. Sa di suy nghĩ: “Tại sao Trưởng Lăo lại ra ngoài một ḿnh vào thời điểm không b́nh thường như vậy? Ta phải t́m cho ra lẽ”, và Sa di ra ngoài bám theo vết chân thầy ḿnh. V́ không để ư nên Trưởng Lăo không biết có sự hiện diện của đệ tử, ngài liền đi lên khu vực vây kín trong chùa từ cổng phía nam. Sa di bám sát vết chân của thầy ḿnh cũng đi lên theo. Ngay khi Trưởng Lăo chiêm ngắm Bảo tháp, có phỉ lạc khôn tả tràn ngập toàn thân ngài, như có Đức Thế Tôn làm đối tượng hành thiền và ngài đă toàn tâm toàn lực nhập thiền định. Ngài đă kính lễ Bảo tháp với niềm vui sướng vô tận. Chứng kiến cung cách thầy ḿnh kính lễ Bảo tháp, Sa di liền suy nghĩ : “Thiền sư của ta kính lễ với niềm hân hoan lớn lao trong ḷng. Điều ǵ sẽ xảy ra nếu như ta dâng cúng hoa (pūjā) vào lúc này?” 1411. Sau khi đă kính lễ Trưởng Lăo đứng lên, hai tay chắp lại để trên đầu ngài đứng yên lặng nh́n lên Bảo tháp vĩ đại. Ngay lúc đó Sa di liền hắng giọng chứng tỏ sự hiện diện của ḿnh. Trưởng Lăo nh́n quanh và thấy đệ tử của ḿnh liền hỏi. “Con đến lúc nào vậy?” Thưa ngài thiền sư kính mến, khi ngài c̣n đang kính lễ Bảo tháp. Ngài đă kính lễ Bảo tháp với ḷng hân hoan khôn xiết. Điều ǵ sẽ diễn ra nếu như ngài lấy hoa mà dâng cúng? Đúng vậy, hỡi đệ tử, ở nơi nào không qui tập Xá lợi Đức Phật như tại Bảo tháp này. Ai lại không kính lễ Bảo tháp to lớn (thūpa) không ǵ sánh bằng như vậy mà lại không dâng kính hoa?’ 1412. Sa di lên tiếng: “Xin thầy hăy đợi một chút, con sẽ quay trở lại ngay thôi.” Và ngay sau đó Sa di cũng nhập thiền Jhana và bằng sức mạnh thần thông Sa di đă bay tới núi Hy-mă-lạp-sơn, Sa di đă đổ đầy nước vào chiếc b́nh lọc và cắm vào b́nh đầy hoa tươi muôn màu tỏa hương thơm ngát. [293] Và trước khi Thiền Sư di chuyển từ cổng nam đến cổng bắc; Sa di đặt vào tay Trưởng Lăo chiếc b́nh lọc cắm đầy hoa nói rằng: “Kính thầy, xin thầy hăy dâng hoa đi.” Trưởng Lăo lên tiếng, b́nh này hoa có ít quá chăng? Nào, kính Ngài hăy dâng những đóa hoa này nhằm làm rạng danh ân đức đặc biệt của Đức Thế Tôn. 1413. Vị Trưởng Lăo đi theo cầu thang lên lối vào phía tây và bắt đầu dâng hoa trên pḥng bên trong sân thượng có rào chắn (kucchivedikā-bhūmi). Lập tức toàn bộ sân thượng được phủ đầy hoa, rơi xuống phủ đầy cả tầng hai ngập lên tới đầu gối. Ngài bước xuống tầng dưới và cũng dâng hoa tại lối ngăn dành cho người đi bộ (pāda-piṭṭhikapanti), lập tức từ trời hoa rơi xuống phủ đầy tầng lầu nhất. Thấy hoa phủ đầy, ngài liền bước xuống tầng trệt và rải hoa trên sàn nhà tầng trệt đó. Và khắp nơi trong khuôn viên Bảo tháp đó đều được phủ đầy hoa. Sau khi đă rải hoa phủ khắp nơi, ngài Trưởng Lăo liền nói với Sa di: “Hỡi thầy Sa-di, vẫn chưa hết hoa đâu.” Thưa thầy, xin dốc ngược chiếc b́nh lọc nước xem sao. 1414. Dốc ngược chiếc b́nh, Ngài Trưởng Lăo lắc chiếc b́nh và chẳng c̣n chiếc hoa nào nữa. Ngài liền trao chiếc b́nh lại cho Sa di và dạo quanh Bảo tháp ba ṿng, luôn giữ phía bên phải với[8] bức tường con Voi. Ngài dừng lại để kính lễ tại bốn cổng thành[9]. Khi đă quay trở lại pḥng riêng (am) của ḿnh. Ngài Trưởng Lăo suy nghĩ: “Làm thế nào đệ tử của ḿnh lại có được sức mạnh thần thông như vậy!” Liệu Sa di có thể liên tục duy tŕ được sức mạnh thần thông này hay chăng.?’ Và nhận thấy Sa di không thể làm được điều đó Trưởng Lăo liền nói với Sa di: “Hỡi Sa di, giờ đây nhà ngươi đă được phú cho sức mạnh phi thường. Nhưng sau này, khi sức mạnh đó biến mất, Sa di sẽ uống cháo suông do chính tay một cô gái thợ dệt sửa soạn cho nhà ngươi. 1415. Chính do lỗi phạm từ hồi trai trẻ, thế nên những lời của thiền sư không thể khuấy động được Sa-di để hỏi ngài như sau: Xin thầy giải thích đề mục thiền định đó cho con, thưa ngài trưởng lăo kính mến, và Sa-di đă bỏ đi như thể không nghe thấy ǵ cả, nghĩ rằng: ‘Trời đất thật, không hiểu thầy ḿnh nói điều ǵ vậy?” 1416. Sau khi kính lễ bảo tháp và cây Bồ Đề, Vị Trưởng Lăo truyền cho Sa di sửa soạn lấy bát khất thực và y cà sa và trong một quăng thời gian sau họ đă tới được Thiền Viện Lớn tại Kuṭeḷitissa. 1417. Thầy Sa di đă không lên đường khất thực chung với thiền sư của ḿnh, nhưng sau khi hỏi thầy xem ngài đi đến ngôi làng nào để khất thực? khi Sa di biết thiền sư của ḿnh đă đến cổng làng, thầy liền lấy bát khất thực của ḿnh và của cả thầy ḿnh, cùng với y cà sa và bay trên không [294] đến ngôi làng đó để khất thực. Cứ mỗi lần vị trưởng lăo cảnh cáo đồ đệ: “hỡi Sa di, đừng hành động như vậy, sức mạnh thần thông của người phàm phu không bền và vững chắc đâu; thực hiện một điều trông thấy không thích hợp như vậy, rất có thể sức mạnh đó có thể biến mất ngay tức khắc đó.Và sau khi đă làm mất một thiền chứng an tịnh như vậy th́ người đó không thể đứng vững trong tu luyện cuộc sống phạm hạnh được nữa[10] . Nhưng thầy Sa di nghĩ: Trời đất thật, không hiểu thầy ḿnh đang nói ǵ vậy? và Sa di không muốn nghe nữa. Sa di cứ tiếp tục thực hiện như những ǵ cậu đă làm trước đó. 1418. Kính lễ Bảo tháp đó một khoảng thời gian sau Trưởng Lăo đă đến ngôi chùa Kupavena.[11] Đang khi Trưởng Lăo cũng đến cư trú tại đó, thầy Sa di vẫn cứ tiếp tục thực hiện những phép mầu như trước. Thế rồi một ngày kia có cô gái xinh đẹp, con một người thợ dệt đang trong thời thanh xuân đang trên đường rời khỏi làng Kupavena. Và nàng đang bước xuống đầm sen để hái hoa, vừa đi vừa hát như nàng vẫn thường làm. Nhưng ngay lúc đó Sa di bay ngang qua trên đầm sen. Và giống như một người câu cá mù đầy bí ẩn.[12] Thầy Sa di nghe thấy tiếng nàng hát. Ngay lập tức sức mạnh thần thông nơi Sa di tan biến và thầy trông giống hệt con quạ bị găy cánh. Nhưng nhờ đă chứng đắc được an tịnh Sa di không rơi ngay xuống nước, nhưng rơi từ từ như một hạt bông vải đang ch́m xuống, Sa di đă trôi dạt vào bờ đầm sen. 1419. Ngay tức khắc Sa di đă nhanh chóng chạy lại trả cho thiền sư của ḿnh cả bát khất thực và y cà sa của ḿnh. Thiền sư [suy nghĩ:] “Đúng như ta đă dự đoán trước; [ngay cả] nếu Sa di có bị ngăn cản th́ chàng cũng sẽ không quay trở lại”. Thiền sư không nói một lời và đi vào trong làng khất thực. 1420. Thầy Sa di ra đi và ngồi trên bờ đầm sen chờ cho nàng bước ra khỏi nước. Nàng cũng đă nh́n thấy Sa di bay trên không và giờ đây đă quay trở lại và ngồi chờ nàng trên bờ, nàng biết rơ chỉ v́ nàng mà Sa di đă trở nên không hài ḷng. Nàng nói, hỡi Sa di hăy bước lại đây. Chàng thực hiện y lời nàng. Nàng lên khỏi nước, sau khi đă mặc quần áo vào, liền tiến đến với chàng. Nàng hỏi, “Có ǵ vậy, thưa thầy Sa di.?” 1421. Chàng kể lại câu chuyện của ḿnh. Với rất nhiều biện minh nàng vạch ra nỗi nguy hiểm trong cuộc sống gia đ́nh và những lợi ích to lớn trong cuộc sống phạm hạnh [nhưng] cho dù với tất cả những lời tán tỉnh của nàng, nhưng nàng vẫn không thể xua tan được nỗi bất măn nơi chàng [nghĩ rằng]: Chính lỗi tại tôi mà chàng đă đánh mất hết sức mạnh thần thông, thật không đúng nếu ta bỏ chàng vào. Nàng nói với Sa di hăy chờ tại đó. Nàng chạy về nhà và kể lại toàn bộ sự việc xảy ra cho cha mẹ nghe. Cả hai ông bà cũng chạy ra và cho dù họ đă cảnh cáo Sa di bằng đủ mọi cách, nhưng v́ chàng không muốn nghe, họ liền nói: Xin đừng có tưởng chúng ta là gia đ́nh thuộc đẳng cấp thượng lưu,[13] chúng ta chỉ là hạng thợ dệt và đan giỏ mà thôi. Liệu chàng có thể làm công việc dệt vải được chăng?’ Thầy Sa di nói: “Hỡi đạo hữu, nếu ta trở thành một đạo hữu b́nh thường ta sẽ có thể làm được cả nghề dệt vải lẫn nghề đan lát. Có ǵ đâu? Xin đừng có thèm muốn ta chỉ v́ bộ y cà sa này [hăy cho ta đồ thường dân để mặc đi nào.] 1422. [295] Sau khi đưa cho cậu ta một bộ đồ để che ngang phần thắt lưng, người thợ dệt liền dẫn Sa di về nhà và gả con gái cho thầy. Sau khi đă học nghề dệt vải, thầy Sa di cũng làm việc tại xưởng dệt chung với những người thợ dệt khác. Các bà vợ của những người thợ dệt khác đă nấu cơm sớm vào buổi sáng và mang theo [vào pḥng làm việc]. Vợ của Sa di lại không đến thẳng ngay nơi làm việc. Khi những người thợ dệt khác nghỉ tay để dùng bữa, chàng ngồi nghĩ vớ vẩn với con thoi trong tay. Sau cùng th́ nàng cũng tới. Chàng liền mắng nàng mà rằng: “ Sao em măi giờ mới tới.!” 1423. Và khi họ biết rằng tâm trí [của người đàn ông] đă đeo bám chặt lấy họ, th́ các người phụ nữ liền đối xử với Sa di chẳng khác ǵ một nô bộc, ngay cả khi người đàn ông đó có là một Chuyển Luân Vương đi chăng nữa. Chính v́ thế nàng liền trả lời như sau: “Nơi gia đ́nh của người khác, củi đuốc, lá cây, muối và đủ mọi thứ đều do người hầu hạ giúp việc và hầu hạ[14] lo liệu đầy đủ cả. Nhưng em chỉ có một ḿnh. Anh chẳng biết trong nhà có ǵ và thiếu thốn điều ǵ cả, nếu chàng muốn, th́ hăy ăn đi nào, nhược bằng không th́ đừng có ăn. 1424. Chàng nói: “Không những em đă mang cơm đến cho anh quá trễ khi trời đă xế chiều mà em c̣n làm tổn thương đến anh bằng những lời lẽ như vậy sao!” Thế rồi chàng nổi giận đùng đùng và chẳng c̣n nh́n thấy trời trăng ǵ nữa, vớ được bất kỳ điều ǵ chàng liền đập nàng với thứ đó. Chàng rút con thoi ra khỏi khung dệt và ném vào nàng. Nh́n thấy con thoi bay tới, nàng quay đi nửa ṿng. Bởi chưng một đầu con thoi rất nhọn và sắc và khi nàng quay một ṿng th́ đầu con thoi liền bay trúng ngay vào tṛng mắt của nàng và găm vào đó. Lập tức nàng đưa hai tay lên bịt mắt. Máu từ vết thương tuôn ra xối xả. 1425. Và ngay lúc đó chàng nhớ lại lời của thầy ḿnh. Chàng bắt đầu la lớn lên rằng: “ Chính những điều này đă được thầy ta nói trước! Trong tương lai nhà người sẽ ăn cháo trắng trộn với máu của người tớ gái bị mù.” Giờ đây những ǵ Trưởng Lăo đă nh́n thấy trước đă trở thành hiện thực. Ôi thầy tôi, nh́n xa trông rộng biết nhường nào! Chính v́ thế một số người nói rằng: “Đủ rồi, anh bạn, đừng nói nhiều. Con mắt bị hư không thể chữa lành lại được bằng lời kêu la than văn nữa.” Chàng liền nói: “Ta không than khóc v́ lư do đó. Nhưng có liên quan đến điều thầy ta đă nói trước.” Và chàng kể lại cho họ nghe tất cả những ǵ đă xảy ra. Chính v́ thế mà chỉ và quán đó một khi đă tiêu hoại sẽ gây hại cho con người ta là v́ vậy. 1426. Lại có một chuyện kể khác nữa. Có khoảng độ ba mươi vị tỳ khưu đă kính lễ một Bảo tháp lớn tại thành phố Kalyāṇi, và khi họ đă đi xuống một cánh rừng có con đường chính dẫn vào, họ nh́n thấy có một người xuất hiện, người này đang làm việc trong một cánh rừng đốt than gần ngay bên cạnh đường. Toàn thân người đó vấy bẩn bụi than, và chiếc vải thắt ngang lưng duy nhất màu vàng đang quấn ngang ḿnh cũng lem luốc hết toàn là vết than. Chính v́ thế nh́n vào người đó ta cứ tưởng như trông thấy một cục than. [296] Sau khi đă thực hiện xong công việc ban ngày. Người đó lượm lặt một bó củi đốt xém quá phân nửa và vác về nhà, đi theo một lối ṃn với tóc dài như treo ngang lưng, người đốt than dừng lại nh́n thẳng vào các vị tỳ khưu. 1427. Khi chứng kiến một con người như vậy, các Sa di nh́n nhau nói rằng: “Hỡi ông bạn, bố của bạn, ông nội của bạn, ông chú của bạn.” Thế rồi họ cười khúc khích với nhau và tiếp tục đi. Họ cất tiếng hỏi. “ Hỡi cận sự nam, tên nhà ngươi là ǵ vậy?” Khi nghe các vị hỏi tên ḿnh như vậy, người thợ đốt than cảm thấy rất bối rối và đặt bó củi xuống sửa lại chiếc áo cho chỉnh tề. Người đó kính lễ các Sa di nói rằng: “ Xin các vị đợi tôi một lát.” 1428. Các vị Trưởng lăo cũng chờ. Các Sa di tiến lên và cười nhiều hơn ngay trước mặt các vị Trưởng lăo. Người cận sự nam nói: “Nh́n ḱa tôi là giống ǵ sao nh́n thấy tôi các vị lại cười to đến thế! Thật vậy trước kia tôi cũng là một vị sa môn giống như các vị đó. Nhưng các vị vẫn chưa đạt đến t́nh trạng tâm nhất cảnh tính. Tôi cũng có sức mạnh với nhiều khả năng thần thông và mạnh mẽ nơi chánh pháp này. Tôi đă xử lư đất cũng giống như gió và gió cũng giống như đất; tôi cũng xử lư được cả điều ở xa cũng như ở gần. Tôi cũng đă thâm nhập một lần vào tới tận cả Thập Vạn[15] ta bà thế giới. Các vị có nh́n thấy tay tôi không? Giờ đây trông chúng giống như cánh tay khỉ. Ngồi thiền tại đây tôi có thể với chính bàn tay này đụng tới tận mặt trăng và mặt trời. Tôi ngồi thiền lấy mặt trăng và mặt trời làm bệ ngồi. Đó là những sức mạnh kỳ diệu của ta tiêu hoại đi v́ lười biếng. Xin đừng có lười biếng nhé. Chỉ v́ chây lười mà người ta sẽ phải gánh chịu những điều tàn tạ như vậy đó. Những kẻ nào sống cố gắng tích cực sẽ chấm dứt được sanh, lăo và tử. Chính v́ thế liệu các vị có thể lấy tôi làm bài học hăy cố gắng liên tục đi, thưa các vị đáng kính!” 1429. Người đốt than đă khuyên và cảnh cáo các Sa di như vậy. Bị thôi thúc do động tâm của những lời ông ta nói. Ba mươi vị đă chiếu cố thiền quán và họ đă đạt đến bậc A-la-hán. 1430. Như vậy điều này cũng nên hiểu rằng chỉ và quán nếu bị tiêu hoại sẽ gây hại cho cả người khác nữa vậy. 1431. Đầu tiên đây là một định nghĩa việc thảo luận về chánh cần hiệp thế. Nhưng vào sát na chánh cần thuộc thánh đạo siêu thế đây chỉ là một loại chính cần với bốn tên gọi khác nhau với bốn nhiệm vụ khác nhau. 1432. Về điểm này,[16] “Đối với [chánh cần] “không cho phát sanh” [nghĩa là] không cho phát sanh do không thường xuyên lui tới (asamudācāra) hoặc do có đối tượng không có kinh nghiệm. V́ không có các pháp bất thiện xấu xa nào, lại chưa phát sanh ở nơi nào khác hơn là ṿng luân hồi chưa được bắt đầu tái sanh. Và chính những pháp không cho phát sanh đó nổi lên khi chúng xuất hiện [297] và được diệt trừ khi chúng bị diệt trừ. 1433. Về điểm này, một người không thường xuyên lui tới với các phiền năo, do tối ngày phải bận bịu với công việc; người khác lại do [bận bịu với sách vở (gantha) với những việc tu tập đầu đà]. Thiền định, thiền quán hay xây dựng. Bằng cách nào vậy? 1434. Một người thực hiện các nhiệm vụ thường nhật. Các phiền năo không c̣n cơ hội xuất hiện nơi những người thực hiện 82 bổn phận tối thiểu, mười bốn bổn phận to lớn hơn và các bổn phận liên quan đến các đại sảnh trong Bảo tháp, với cây Bồ Đề, với việc nước uống, bồn đựng nước, pḥng giới bát quan trai ( Upasatha) và liên quan đến kẻ đi người lại trong Bảo tháp. Nhưng vào các dịp khác, khi người đó đă bỏ qua bổn phận của ḿnh và đi chu du nhàn hạ đây kia. Các phiền năo lại nổi lên trong người đó do phi như lư tác ư và thất niệm như vậy, các phiền năo đó đă khởi sanh sau khi không cho phát sanh thông qua không lui tới thường xuyên. 1435. Người khác lại chuyên tâm vào sách vở. Người đó nghiên cứu hết bộ Kinh Phật này đến bộ Kinh Phật khác, một hai ba bốn và năm tập. Khi người đó nghiên cứu lời Đức Phật dạy trong Tam Tạng để biết ư nghĩa. Theo phương cách Kinh Pāli, theo phương cách những chuỗi nhiều chủ đề khác nhau (anusandhi.) bằng cách theo thứ tự kế tiếp nhau (pubhāpara) tụng các kinh đó, nghiên cứu, cứu xét, nhặt lại, diễn giảng và giải thích. Các phiền năo không c̣n có cơ hội xuất hiện. Nhưng vào lúc khác, khi người đó bỏ sách sang một bên và đi ngao du không chút chú ư, chúng liền xuất hiện đúng lúc phi như lư tác ư và thất niệm. Như vậy chúng đă khởi sanh sau khi không cho khởi sanh thông qua không thường xuyên lui tới. 1436. Nhưng một người khác lại thọ tŕ các hạnh đầu đà. Người đó chọn lấy cho chính ḿnh những giới đức của mười ba hạnh đầu đà. Khi người đó chuyên tâm vào các giới đức nơi các hạnh đầu đà đó, th́ các phiền năo không có cơ hội xuất hiện. Nhưng vào thời điểm khác khi người đó đă bỏ qua không thực hành các hạnh đầu đà đó và đi ngao du đây kia sau khi đă trở lại hiện t́nh phong phú. Các phiền năo sẽ nổi lên nơi người đó do phi như lư tác ư và thất niệm. Như vậy các phiền năo cũng đă khởi xuất sau khi không cho khởi sanh thông qua không thường xuyên lui tới. 1437. Nhưng người khác lại là chuyên gia chứng đắc được tám thành tích. V́ người đó đă duy tŕ được t́nh trạng thiện xảo hướng tâm,v.v... trong thiền thứ nhất v.v.. các phiền năo không c̣n cơ hội xuất hiện. Nhưng vào một dịp khác khi người đó hoại thiền Jhana hay từ bỏ không nhập thiền Jhana và chỉ la cà tṛ chuyện gẫu .v.v... th́ các phiền năo lại khởi sanh trong người đó do phi như lư tác ư và thất niệm. Như vậy các phiền năo đó đă khởi sanh sau khi không cho khởi sanh thông qua không thường xuyên lui tới thăm nom. 1438. Nhưng người khác lại tu luyện thiền quán. Người đó kiên tŕ tiếp tục tu tập bảy tuỳ quán. [298] và về mười tám chánh tuệ giác. V́ người đó kiên định như vậy, các phiền năo không c̣n cơ hội xuất hiện. Nhưng vào một dịp khác, khi người đó bỏ không kiên tŕ tiếp tục công việc tu luyện thiền quán và lại bận bịu thực hiện những việc luyện tập thể thao. Chúng lại xuất hiện trở lại do phi như lư tác ư hoặc thất niệm. Như vậy chúng cũng đă khởi sanh sau khi không cho khởi sanh thông qua không thường xuyên lui tới thăm nom. 1439. Một người khác lại bận bịu trong công việc xây dựng; người đó cho xây một ngôi nhà giới bát quan trai( Uposatha) một nhà ăn v.v... khi người đó chỉ suy tính đến những vấn đề đó, th́ các phiền năo không có cơ hội để xuất hiện. Nhưng vào một dịp khác, khi công việc xây cất đă hoàn tất hay bị tạm ngưng th́ các phiền năo đó lại nổi lên do phi như lư tác ư hoặc thất niệm. Như vậy các phiền năo đó cũng lại khởi sanh sau khi không cho khởi sanh do không thường xuyên lui tới thăm nom. 1440. Nhưng một người khác đă từ cơi Phạm Thiên quay trở lại và đă trở thành một con người thanh tịnh v́ chẳng c̣n việc tu luyện nào nữa nơi người đó. Thế nên các phiền năo không c̣n cơ hội xuất hiện. Nhưng vào một dịp khác, khi người đó đă tu luyện về điều đó, các phiền năo đó liền xuất hiện do phi như lư tác ư, hoặc thất niệm. Như vậy chúng các phiền năo đó cũng lại khởi sanh trở lại sau khi không cho khởi sanh do không thường xuyên lui tới thăm nom. 1441. Như vậy đầu tiên ta nên hiểu thế nào là pháp không cho khởi sanh thông qua không thường xuyên lui tới thăm nom. 1442. Thông qua một đối tượng chưa có kinh nghiệm là như thế nào? Ở giai đoạn này một số người có được một đối tượng tạo ra sảng khoái,v.v... chưa từng cảm nghiệm được trước đó. Phiền năo tham, v.v... nổi lên nơi người đó do phi như lư tác ư và do thất niệm. Như vậy [đối tượng đó] sau khi đă là không cho khởi sanh thông qua đối tượng chưa từng được kinh nghiệm lại nổi lên. 1443. Nhưng vào sát na thánh đạo siêu thế th́ đối tượng đó chính là chánh cần duy nhất hoàn tất cả hai nhiệm vụ không cho khởi sanh nơi những ǵ chưa khởi sanh và có thể nổi lên như thế, và cũng thực hiện chức năng diệt trừ những ǵ đă khởi sanh. 1444. Chính v́ thế ta nói đến ác pháp đă khởi sanh, nhưng ở đây khởi sanh lại có bốn loại:[17] (1) khởi sanh như là việc xuất hiện b́nh thường, (2) khởi sanh như đă được cảm nghiệm và đă trôi qua, (3) khởi sanh trong trường hợp đă có cơ hội. (4) khởi sanh v́ đă có được một lảnh vực. 1445. Về điểm này loại (1) những phiền năo đă tồn tại. Đă có được khởi sanh, v.v... th́ khởi sanh như là điều xuất hiện b́nh thường. 1446. (2) Khi nghiệpđă được tích lũy tốc lực tâm, th́ quả nghiệpđă chấm dứt sau khi cảm nghiệm được bản chất cơ bản của đối tượng trở thành “qua đi sau khi đă cảm nghiệm được” và nghiệpsanh và diệt trôi qua sau khi đă xuất hiện, cả hai loại được coi như là đối tượng “đă khởi sanh như là [đối tượng] đă được cảm nghiệm và đă trôi qua.”[18] 1447 (3) Nghiệpthiện và bất thiện hạn chế quả của nghiệpkhác và tạo cơ hội cho chính quả đó. [299] Khi một cơ hội như vậy được xuất hiện th́ quả nổi lên. Từ thời điểm cơ hội đó h́nh thành được coi như là khởi sanh; ta gọi điều này là ‘khởi sanh sau khi đă có được cơ hội tốt”. 1448. (4) Nhưng ngũ uẩn được coi như là lảnh vực cho tuệ quán. Ngũ uẩn này được chia thành quá khứ.v.v... nhưng các phiền năo vốn thuộc ngũ uẩn này lại không được coi là quá khứ hiện tại và tương lai; thuộc về các uẩn quá khứ chúng không thể bị diệt trừ. Thuộc về các uẩn tương lai và hiện tại chúng cũng không thể bị diệt trừ. Ta gọi điều này là “khởi sanh sau khi đă có được một lảnh vực.” Kể từ đó các vị Trưởng Lăo đă cho rằng: “Các phiền năo không thể diệt trừ được nơi lảnh vực này lảnh vực nọ,[19] được coi như “ được khởi sanh sau khi đă có được một lảnh vực.” 1449. “Khởi sanh” lại có bốn loại như sau: (5) khởi sanh như là một tư cách đạo đức, (6) khởi sanh v́ một đối tượng đă được bàn đến, (7) khởi sanh do việc không đè nén, (8) khởi sanh do không trừ tuyệt. 1450. Về điểm này, (5) điều ǵ đang tồn tại hiện nay chính là cái ta gọi là “khởi sanh như là một tư cách đạo đức.” 1451. (6) Sau khi con mắt đă được mở ra chỉ một lần, khi bắt lấy cảnh với tư cách là một tướng (dấu chỉ), ta không thể cho rằng các phiền năo sẽ không nổi lên, ở bất kỳ sát na nào khi [đối tượng đó] được nhớ lại (anussaritānussaritakkhaṇe). Tại sao vậy? V́ đối tượng đó đă được bàn đến. Giống như điều ǵ vậy? Chính v́ ta không thể cho rằng sữa sẽ không chảy ra từ một vị trí trên một cây tạo ra sữa do ta lấy ŕu chặt liên tục vào gốc. Như vậy ta gọi điều này là “đă khởi sanh v́ đối tượng đó đă được bàn tới.” 1452. (7) Nhưng khi các phiền năo không được trấn áp do các thiền chứng ta đă đạt được, ta không thể cho rằng chúng sẽ không nổi lên trong t́nh huống đó. Tại sao vậy? V́ không đè nén. Giống như điều ǵ vậy? Giống như ta không thể cho rằng nếu người nào đó lấy búa chém vào cây sữa. Th́ sữa sẽ từ đó mà chẳng chảy ra. Như vậy ta gọi điều này là khởi sanh do không đè nén. 1453. (8) Nhưng tư tưởng cho rằng ta không thể nói rằng các phiền năo không được trừ tuyệt nhờ thánh đạo sẽ không phát sanh nơi một người nào đó ngay cả nếu như người đó được tái sanh nơi tột đỉnh hiện hữu; cũng nên được thảo luận tỉ mỉ theo cùng một cách thức như vậy. Ta gọi điều này là “khởi sanh do không trừ tuyệt.” 1454. Trong số những cách thức “khởi sanh” đa dạng như vậy, ta nói đến bốn loại “khởi sanh” như sau, (1) “khởi sanh như là điều xảy ra một cách thường t́nh”.(2) “khởi sanh như đă được cảm nghiệm và đă qua đi.” (3) “khởi sanh v́ có cơ hội thuận tiện” và (5) “khởi sanh như là một tư cách đạo đức” th́ thánh đạo sẽ không thể nào triệt tiêu được (đoạn tận). Nhưng bốn loại “khởi sanh” c̣n lại, có nghĩa là (4). “khởi sanh v́ đạt đến được một lảnh vực.”, (6) “khởi sanh v́ ta đă đề cập đến một đối tượng”, (7)”khởi sanh do không đè nén.” và (8) “khởi sanh do không trừ tuyệt.” Th́ thánh đạo có thể đoạn trừ được, v́ thánh đạo một khi nổi lên, sẽ đoạn trừ các phiền năo đó. Các phiền năo được thánh đạo đoạn trừ được đó sẽ không được coi như là những phiền năo quá khứ, tương lai và hiện tại. 1455. Và cả điều này cũng được nói tới: “Nếu như người đó diệt trừ được các phiền năo quá khứ, chính tiêu diệt điều đă diệt. [300] đoạn diệt điều đă đoạn tiệt, tạo ra tan biến điều đă tan biến, dập tắt điều đă biến mất: người đó đoạn trừ được quá khứ là điều không tồn tại... 1456. Nếu người đó đoạn trừ được các phiền năo tương lai, chính v́ người đó đoạn trừ điều chưa được sanh ra. Đoạn trừ các phiền năo tương lai chính là đoạn trừ điều chưa được tạo ra. Đoạn trừ điều chưa khởi sanh, chính là đoạn trừ điều chưa xuất hiện, đoạn trừ được phiền năo tương lai chính là đoạn trừ được điều chưa tồn tại. 1457. Nếu người đó đoạn trừ được các phiền năo hiện tại, chính v́ kẻ nào tham lam loại bỏ được tham lam, kẻ nào sân hận loại bỏ được sân hận, kẻ nào si mê th́ loại bỏ được si mê, kẻ nào ngă mạn loại bỏ được kiêu hănh, tà kiến loại bỏ tà kiến, kẻ nào trạo cử loại bỏ tâm phóng dật, th́ người đó không t́m thấy mục tiêu loại bỏ được đặc tính hoài nghi và kẻ nào lại ngoan cố từ bỏ được tùy miên; các pháp ác và thiện đều diễn ra cùng một lúc. Và luôn lúc nào cũng xuất hiện sự tu tiến phiền toái nơi thánh đạo vậy... 1458. Chính v́ thế có phải chẳng có tu tiến ǵ nơi thánh đạo chăng? chẳng có thực chứng nơi thánh quả chăng, chẳng có đoạn trừ được những phiền năo, chẳng có lảnh hội pháp chăng?... [ngược lại] nơi thánh đạo lúc nào cũng xuất khởi phát triển, lúc nào thánh quả cũng thể hiện thực chứng, lúc nào cũng đoạn trừ được các phiền năo, lảnh hội pháp, giống như ǵ vậy? Giống như một cây non vậy... [v.v... ]” ( Pts ii. 217 tt.) 1459. Ta thấy tŕnh bày trong Kinh Pāli một ẩn dụ về một cây tạo ra quả chưa sanh ra.. Nhưng ta nên chứng minh với cây có quả đă sanh ra. Chính v́ giống như có một cây xoài non mang trái. Và những người ăn một số quả xoài đó và hái đầy giỏ những trái non khác và rồi lại có người khác lấy chiếc ŕu chặt luôn cây đó. Trong trường hợp như vậy, chẳng trái xoài nào thuộc quá khứ bị tiêu diệt cả kể cả các quả trong hiện tại và tương lai. V́ những quả trong quá khứ không bị tiêu diệt v́ nguời ta đă ăn hết rồi. Và những quả tương lai v́ chưa được sản sanh ra, người đó không thể tiêu diệt được. Nhưng khi cây bị đốn hạ; v́ không có quả vào thời điểm đó, th́ các quả hiện tại cũng không bị tiêu diệt. Nhưng chỉ có những trái nào do chất đất và nước tạo ra nếu như cây không bị đốn hạ th́ bị tiêu diệt mà thôi. V́ những ǵ không được sanh ra th́ sẽ không được sanh. Những ǵ không tác tạo th́ sẽ không thể được tác tạo. Những ǵ không hiện thực th́ chẳng trở thành hiện thực được. 1460. Chính v́ thế mà thánh đạo chẳng hề đoạn trừ được những loại phiền năo quá khứ,.v.v... cũng như không đoạn trừ được chúng, những phiền năo nào đă xuất hiện, nếu các uẩn đă không được biến tri thông qua thánh đạo, chính là v́ các uẩn đó đă được biến tri thông qua thánh đạo đă nổi lên. Những phiền năo nào chưa khởi sanh sẽ không được sanh ra, chưa tạo ra sẽ không được tái tạo, chưa thể hiện cũng chẳng bao giờ được hiện thể cả. 1461. Lại nữa ư nghĩa này nên được giải thích bằng các vị thuốc do phụ nữ vừa có mang nhằm mục tiêu phá thai. [301] hay là nhằm mục tiêu chữa trị bệnh cho người ốm. 1462. Chính v́ thế những phiền năo được thánh đạo đă đoạn trừ sẽ chẳng được gọi là phiền năo quá khứ, tương lai và hiện tại, thánh đạo cũng không thể đoạn trừ được phiền năo đó. Nhưng ta chỉ đề cập đến những ǵ có liên quan đến các phiền năo do thánh đạo đoạn trừ được coi là “ác pháp đă sanh” v.v... và không những thánh đạo chỉ đoạn trừ các phiền năo mà thôi nhưng c̣n đoạn trừ cả chấp thủ vào các uẩn có thể nổi lên do việc không thể đoạn trừ được các phiền năo đó. 1463. Theo chi tiết người ta đề cập đến vấn đề này như sau: thông qua đoạn diệt, tâm tạo nghiệpdo trí nơi thánh đạo Nhập Lưu, th́ danh và sắc có thể khởi sanh trong ṿng luân hồi tái sanh vô thủy sẽ dừng lại ở đây. Ngoại trừ [thời gian] nơi bảy hiện hữu” (xin đọc Asl . 236) 1464. Như vậy thánh đạo nổi lên từ động thái chấp thủ và không chấp thủ. Nhưng lại thông qua ba cách hiện hữu. Thánh đạo nhập lưu xuất khỏi khổ cảnh, thánh đạo nhất lai xuất khởi khỏi một phần hữu nhàn cảnh, thánh đạo bất lai xuất khởi khỏi nhàn cảnh dục hữu và thánh đạo A-la-hán xuất khỏi từ cơi sắc giới và vô sắc giới hiện hữu. “Thánh đạo này xuất khỏi từ toàn bộ các loại hiện hữu” họ cũng cho biết như vậy. 1465. Thế rồi bằng cách nào, vào sát na thánh đạo xuất hiện, lại tu tiến khởi sanh điều chưa khởi sanh được? Hay làm thế nào việc duy tŕ những ǵ đă sanh lên? Thông qua chính việc xuất hiện thánh đạo vậy. V́ ta có thể gọi thánh đạo là chưa khởi sanh khi thánh đạo này diễn ra v́ thánh đạo này đă không diễn ra trước đó. Những vị nào đă đến được một địa điểm chưa từng tới được trong quá khứ trước đó, phải cảm nghiệm một đối tượng chưa hề cảm nghiệm được trước đó đều có thể công bố như sau: “ Chúng tôi đă tới được một địa điểm chưa từng tới trước đó. Chúng tôi cảm nghiệm được đối tượng chưa từng được cảm nghiệm trước đó”, và cái ta gọi là xuất hiện cũng có thể gọi là duy tŕ được, như vậy ta có thể nói người đó tu luyện để duy tŕ. 1466. Như vậy chánh cần của vị tỳ khưu đó ngay lúc thánh đạo siêu thế nổi lên lại có bốn tên gọi bắt đầu với: “không cho sanh các ác bất thiện pháp chưa sanh”. 1467. Đây là bài thuyết pháp về chánh cần vào ngay sát na thánh đạo siêu thế xuất hiện. Như vậy chánh cần đă được giải thích ở đây với đặc tính hiệp thế và siêu thế lẫn lộn nhau. Kết thúc chương phân tích theo kinh tạng B.CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO VI DIỆU PHÁP. 1468. Trong Vi Diệu Pháp, toàn bộ chánh cần được mô tả bằng cách cho thấy tựa đề của phương pháp thuyết giảng được phân tích trong tác phẩm Dhammasaṅgaṇi. 1469. Về điểm này, việc phân chia các phương pháp nên được hiểu thấu đáo. Bằng cách nào vậy? [302] Trước tiên liên quan đến chánh cần thứ nhất, có năm ví dụ điển h́nh nằm trong khuynh hướng thiền của thánh đạo nhập lưu cụ thể như sau, (1) thuần tiến hành, (2) thuần không tánh, (3) tiến hành không tánh, (4) thuần vô nguyện, (5) tiến hành vô nguyện, Mỗi chánh cần được tính gấp đôi liên quan đến [Thiền Jhana] nhóm bốn và năm phương pháp làm thành mười phương pháp. Cũng như vậy trong trường hợp những ǵ c̣n lại; như vậy trong hai mươi phương pháp nằm trong khuynh hướng Thiền Jhana lại có đến hai trăm phương pháp. Những phương pháp này lại được nhân lên bốn lần nhờ vào bốn trưởng trở thành một ngàn phương pháp. Cũng giống vậy trong trường hợp chánh cần thứ hai, v.v... và với thuần chánh cần (xin đọc Vbh. 214). Như vậy nơi thánh đạo Nhập Lưu có tới năm ngàn phương pháp. Giống như trong thánh đạo Nhập Lưu, cũng vậy giống như trong các thánh đạo khác; như vậy thông qua thánh đạo thiện, lại có tới hai mươi ngàn phương pháp. Nhưng v́ không có nhiệm vụ nào do chánh cần thực hiện nơi thánh quả, thế nên phần thánh quả không được đề cập đến ở đây. 1470. Nhưng ở đây chúng ta nên hiểu Chánh cần như đă được diễn giải chỉ thuộc đặc tính siêu thế đă được tạo ra mà thôi. Kết thúc chương phân tích theo Vi Diệu Pháp. C. Phần vấn đáp 1471.Trong phần vấn đáp có đề cập đến [chánh cần] là pháp thiện .v.v.. nên được hiểu theo Kinh Phật Pāli mà thôi. Nhưng liên quan đến toàn bộ tam đề cảnh, th́ toàn bộ những chánh cần này, v́ chúng xuất hiện có liên quan đến Níp-bàn vô lượng, cũng chỉ có một cảnh vô lượng mà thôi. Chúng không hề có đạo thành cảnh, nhưng do đặc tính làm câu sanh nhân, chúng có đạo thành nhân. Bằng cách thực hiện thẩm (vīmaṃsā) trước tiên chúng có đạo thành trưởng ngay vào sát na phát triển thánh đạo đó. Trong quá tŕnh phát triển thánh đạo đó với dục (chanda) hay tâm (citta) trước tiên ta không thể nói rằng chúng có đạo thành trưởng. Tuy nhiên, trước tiên với chánh cần (viriya) do thiếu chánh cần khác, ta không thể cho rằng chúng có đạo thành trưởng, cũng không phải không có đạo thành trưởng; cũng như thế liên quan đến quá khứ... v.v... do pháp chỉ có một đối tượng duy nhất, ta không thể cho rằng chúng sẽ là như vậy. Nhưng bởi v́ Níp-bàn là một pháp ngoại phần thế nên chánh cần cũng có một cảnh ngoại phần vậy. 1472. Chính v́ thế trong phần vấn đáp này ta nên hiểu chánh cần được chú giải như thế chỉ thuôc về đặc tính siêu thế, đă được tạo ra mà thôi; v́ chánh cần đă được Đấng Toàn Giác chú giải trong chương phân tích theo Kinh Tạng như là điều pha trộn giữa đặc tính hiệp thế và đặc tính siêu thế. Nhưng trong chương phân tích theo Vi Diệu Pháp và trong phần vấn đáp th́ [chánh cần] này [chỉ được chú giải] duy nhất với đặc tính siêu thế mà thôi. Như vậy cách phân tích về Chánh Cần này cũng đă được diễn giải bằng cách chỉ ra ba chu kỳ nơi chánh cần vậy. Kết thúc giải thích về phân tích Chánh Cần.
-ooOoo- [1] Mṭ giải thích là payoga-parakkamo [LSC] [2] giải thích là anuppannan ti với Ce và mṭ [LSC [3] Ce giải thích là chandikatā [LSC] [4] Mṭ giải thích: sabbapubbabhāge ti sabbamaggānaṃ pubbabhāge [LSC] [5] Trong từ aṭṭhakathā (mṭ)=Porāṇaṭṭhakathā (anuṭ). xin lưu ư rằng Buddhaghosa bác bỏ quan điểm này.[LSC] [6] Trong Anurādhapura. [7] Piyaṅ ga pariveṇa. MA iii. 244 giải thích là vihārapariveṇa trong số các cách giải thích khác lại có trong VbhA (Ce) [8] giải thích là sadhiṃ với Ee và MA. Be lại ghi là saṭṭhihattha pākārena. [9] giải thích là catudvāresu với MA. Ee và Be lại ghi là catusu ṭhānesu [10] Mṭ :v́ khi một sợi dây lớn bị cắt đứt th́ những sợi dây khác không thể giữ yên đươc. LSC [11] Chính v́ thế MA. với nhiều cách giải thích khác nhau; Be ghi Kammupendavihāra; Ce kampupelanda- (vll. Kampupenda-; kabbupeṇḍa) Ē Kapulelanda- (vll) [12] giải thích là silesikāya kāṇamacchikā với MA. Be và Ce ghi là sakkalasikāya. [13] Giải thích là mā sallakkhesi với Ce .[LSC] [14] Giải thích là pesanakārakā với tác phẩm MA. [15] Giải thích là satasahassaṃ; Ē &Ce lại giải thích là –sahassaṃ .[LSC] [16] Đối với đoạn từ đây trở về trước, xin đọc Chú Giải Tăng Chi Bộ (AA) i. 35tt. các ví đụ điển h́nh này đă được thuyết minh thêm bằng những chuyện kể tại đó. [17] Đối với các loại uppanna, xin đọc MA iii. 251 tt.; Chú Giải Tăng Chi Bộ (AA) ii. 45tt.; Thanh Tịnh Đạo 687 tt. Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Asl) 66tt; PsA 170; Moh 87, 158 [LSC] [18] Mṭ chỉ ra rằng hai loại được cảm nghiệm và trôi qua” được giải thích ở đây là: (i) tadārammaṇa na cảnh cảm nghiệm được quả và (ii) kamma chỉ đơn giản “đă trôi qua sau khi đă xuất hiện” điều này có khác so với trong tác phẩm Aṭṭhasālinī (Asḷ 66tt), trong đó hai loại này được giải thích (bằng cách sử dụng một thuật ngữ có hơi khác một chút) như thể: (i) javana tốc lực tâm, điều này đă biến mất sau khi đă được cảm nghiệm do tham, sân, v.v... và (ii) c̣n lại như là vô vi được coi như là “đă trôi qua sau khi đă xuất hiện” có liên quan đến đoạn diệt sau khi đă khởi sanh. Chính v́ thế mà “khởi sanh đă có được một cơ hội” được nói đến ở đây chính là quả vậy, chớ không phải là nghiệp[kamma] như đă đựơc tŕnh bày trong Asḷ.[LSC] [19] Giải thích là tāsu tāsu bhūmīsu có Ce [LSC]
|
|