|
CHÚ GIẢI BỘ PHÂN TÍCH
Nguyên
Tác Pāli: Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG NĂM
PHÂN TÍCH CÁC
QUYỀN A . CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO VI DIỆU PHÁP [1] (a) Phương Pháp Luận Giải 578. [125] Giờ đây, việc đề cập tiếp theo ngay sau đây là phần phân tích các quyền , bāvīsati <122.1> (“hai mươi hai”) là cách phân chia số học. Indriyāni (“các quyền”) hay khả năng là cách mô tả các pháp được phân chia như trên. 579. Giờ đây, để cho thấy những đặc tính tương đồng giữa các quyền với nhau, Ngài nói: cakkhundriyaṃ (“nhăn quyền”) v.v... Về điểm này. “ Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa các quyền (khả năng) nơi nhăn môn.” (cakkhudvāre indaṭṭhaṃ kāreti) đó là nhăn quyền hay khả năng thị giác (cakkhundriya). “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa các quyền nơi nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn và thân môn.” đó là [nhĩ quyền... ] thân quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng có nhiệm vụ nhận thức.” Ta gọi là ư quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng hiện trạng nữ giới; ta gọi là nữ quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng hiện trạng nam giới, là nam quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng tự vệ”, là mạng quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng với trạng thái là thân khoái lạc” là thân lạc quyền. “ Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng với trạng thái là đau đớn thân... hỷ ưu... xả hay b́nh thản” là xả quyền (hay khả năng b́nh thản)... “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng với trạng thái là quyết tâm,” ta gọi là tín quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng mang đặc tính nỗ lực”, đó là cần quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng mang đặc tính thiết lập” đó là niệm quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng với trạng thái là không phóng dật,” đó là định quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng với trạng thái là tri kiến” đó là tuệ quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng với trạng thái là thông biết, điều xảy ra được coi như là “cuối cùng tôi sẽ biết được điều chưa biết” đó là tri dị tri quyền “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa cho khả năng với trạng thái là chung cuộc ta biết được các pháp đă biết trước đó” đó là tri dĩ tri quyền. “Điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa khả năng trong việc thể hiện pháp nơi người nào có được trí chung cuộc” đó là tri cụ tri quyền. 580. Chương phân tích theo Kinh Tạng không được đề cập đến ở đây. V́ sao vậy? V́ ta thấy 22 quyền không được truyền lại theo một thứ tự liên tục nào cả trong Kinh Tạng. V́ ta thấy trong các Kinh Tạng có nơi giải thích hai quyền một lúc, có nơi ba quyền, năm quyền. Nhưng chẳng có nơi nào ta thấy giải thích toàn bộ hai mươi hai quyền theo một thứ tự liên tục cả. Điều này đầu tiên cho thấy đây là phương pháp b́nh luận được được đề cập đến ở đây. (b) Định Nghĩa 581. Nhưng có một phương pháp khác: liên quan đến các quyền này. (1) Liên quan đến ư nghĩa, (2) và trạng thái. v.v... (3) xét theo tŕnh tự, (4) phân chia và không phân chia (5) nhiệm vụ cũng vậy, (6) rồi các cơi liên quan định nghĩa nên bao trùm tất cả. 582. [126] (1) Về điểm này, trước tiên giải thích ư nghĩa con mắt v.v... được tiến hành theo phương pháp sau đây: “‘Điều [có khả năng] nh́n thấy là “con mắt”.[2] Nhưng liên quan đến ba vấn đề vừa nêu trên, điều đầu tiên được gọi là trị vị tri quyền v́ quyền này xuất hiện ngay vào giai đoạn đầu tiên nơi những ai đang tu tập như sau: ‘Tôi sẽ được biết pháp bất tử, pháp Tứ diệu đế, xưa nay tôi chưa hề biết đến. Và v́ [điều này] mang lại hiệu quả cho ư nghĩa các quyền (indriyaṭṭha); điều thứ hai được gọi là “tri dĩ trị quyền” v́ [đây là] trí chung cuộc và v́ [đây cũng là] điều đem lại hiệu quả cho ư nghĩa của khả năng; điều thứ ba ta gọi là “tri cụ tri quyền” và v́ [đây là điều] nổi lên nơi những người đă đoạn tận phiền năo, [nơi những người] sở hữu được trí chung cuộc (aññā), và tuệ của họ có nhiệm vụ được hoàn thiện liên quan đến bốn chân đế, và do [trí đó] đem lại hiệu quả cho ư nghĩa các quyền. 583. Nhưng đâu là ư nghĩa của các quyền (khả năng) này vậy? (a) Ư nghĩa mang h́nh tướng (dấu ấn) của Pháp Vương (inda) cũng chính là ư nghĩa của quyền (indriyaṭṭha); (b) Ư nghĩa do chính Pháp Vương truyền đạt [khả năng này] cũng là ư nghĩa của quyền; (c) ư nghĩa do chính Pháp Vương đă diện kiến [khả năng này] cũng là ư nghĩa của quyền; (d) ư nghĩa việc do chính Pháp vương đă sửa soạn[3] [khả năng này] cũng là ư nghĩa của quyền; (e) ư nghĩa việc do chính Pháp vương đă tu tập [khả năng này] cũng là ư nghĩa của quyền; toàn bộ những ư nghĩa này được áp dụng ở đây nơi một hay nhiều ví dụ điển h́nh khác. 584. Đối với Đức Phật, Đấng Toàn Giác, Ngài lại chính là Pháp Vương do Ngài có quyền lực tối thượng; và nghiệp chính là [pháp vương] của những điều thiện và cả những điều bất thiện nữa do thiếu quyền lực của bất kỳ ai thực thi nơi các nghiệp đó. Chính v́ thế ở đây do nghiệp tạo ra, nên trước tiên các căn này cho thấy h́nh tướng các nghiệp thiện và bất thiện và được nghiệp đó sửa soạn nên cũng chính là các quyền vậy (a) hiểu theo nghĩa chúng mang h́nh tướng của vị Pháp Vương và (d) hiểu theo nghĩa [các căn này] lại do chính Pháp vương sửa soạn. Nhưng cũng chỉ v́ toàn bộ đều là các quyền, là do chính Đức Phật đă làm rơ một cách chính xác và phát hiện ra một cách rơ ràng, (b) hiểu theo nghĩa do chính Đức Phật đă thuyết pháp và (c) cho chính Pháp Vương đă phát hiện ra. Và c̣n hiểu theo nghĩa chính Đức Phật, Pháp Vương các vị Tôn Giả, đă tu tập một số khả năng thuộc lănh vực này (gocarāsevanā), và một số thuộc lănh vực tu tập phát triển (bhāvanāsevanā), chúng cũng là những khả năng (e) hiểu theo nghĩa chính Đức Phật đă tu tập[4] [những khả năng này]. 585. Hơn thế nữa chúng cũng được gọi là những khả năng hiểu theo nghĩa [các khả năng này] có quyền lực ta gọi là thành trưởng (ādhipacca); v́ nhăn thành trưởng, v.v... được hiểu là chỉ xuất hiện với nhăn thức. v.v... v́ thần kinh nhăn chỉ có được khi nhăn quyền tỏ ra sắc sảo và tính chậm chạp nơi con mắt cũng xuất hiện khi nhăn quyền tỏ ra chậm chạp. Ở vị trí đầu tiên điều này được coi như là định nghĩa “hiểu theo ư nghĩa” [của từ khả năng hay quyền]. 586. (2) “C̣n về trạng thái, v.v... ” ư nghĩa ở đây chính là: định nghĩa về con mắt v.v... nên được biết rơ thông qua trạng thái, bản chất, thành tựu, nguyên nhân gần (padaṭṭhāna)v.v... và những trạng thái của các quyền này đă được tŕnh bày ở trên.[5] V́ bốn khả năng bắt đầu với tuệ quyền th́ đơn giản chỉ là vô si, những khả năng c̣n lại th́ mỗi thứ đều được truyền lại theo h́nh thức riêng của mỗi loại. 587. (3) “Liên quan đến tŕnh tự.” Đây chỉ là tŕnh tự thuyết pháp mà thôi. Về điểm này, v́ việc chứng đắc (attainment) được thánh vức chỉ có được thông qua biến tri các pháp nội phần, như vậy nhăn quyền, v.v... được bao gồm trong con người đó (attabhāva) đă được truyền đạt đầu tiên. Sau đó đến nữ quyền và nam quyền [127] nhằm mục đích cho thấy pháp [nội phần đó] nhờ đó mà con người được gọi là “người phụ nữ” hay “hay người đàn ông”. Tiếp theo sau đó là mạng quyền nhằm mục đích chứng tỏ cho thấy cho dù mạng quyền gồm hai đặc tính,[6] tuy nhiên hai đặc tính này hiện hữu (vutti) chỉ khi nào chúng phụ thuộc vào mạng quyền mà thôi.[7] Sau đó đến thân lạc quyền, v.v... nhằm mục đích chứng tỏ cho thấy rằng cho đến khi nào [con người] c̣n hiện hữu, th́ chẳng xuất hiện sự suy thoái nơi các cảm thọ này, và toàn bộ cảm thọ chỉ là đau khổ mà thôi. Sau đó ta có tín quyền, v.v... nhằm mục đích chứng tỏ việc tu tập, cụ thể là, các hiện trạng này cần phải được tu tập nhằm mục đích diệt đau khổ đó. Sau đó là tri dị tri quyền. Nhằm mục đích chứng tỏ việc tu tập chẳng phải uổng công (amogha) v́ do việc tu tập này mà pháp đă diễn ra đầu tiên này sắp được diễn ra nơi chính chúng ta. Sau đó đến tri dĩ tri quyền, v́ [quyền này] chính là kết quả của trí đó và là điều ta nên tu tập tiếp theo sau đó. Sau đó là đến tri cụ tri quyền khả năng này chính là phần thưởng tối cao, quyền này được tŕnh bày cuối cùng nhằm mục đích cho thấy rằng chứng đắc (prativedha) của khả năng này chỉ có được nhờ tu tập mà thôi. Nhưng một khi đă chứng đắc được khả năng này th́ chẳng c̣n việc ǵ phải làm nữa; tất cả những ǵ vừa tŕnh bày trên đây là tŕnh tự trước sau vậy. 588. (4) “Chia ra được cũng như không được phân chia”. Ở đây chỉ có một quyền duy nhất được phân chia đó là mạng quyền; v́ quyền đó gồm hai đặc tính, cụ thể là sắc mạng quyền và vô sắc mạng quyền; không có bất kỳ phân chia nào nơi các quyền khác. Điều này cho thấy tại sao định nghĩa lại cho thấy ở đây đặc tính “chia ra được cũng như không được phân chia” 589. (5) Liên quan đến nhiệm vụ”. Các quyền lănh nhiệm vụ ǵ? Trước tiên, do các từ “ nhăn xứ là trợ bằng quyền duyên (indriyapaccaya) cho nhăn thức giới và cho các pháp tương ưng trong đó.”(xin đọc, Tikapaṭṭhāna i. 5) thế nên nhiệm vụ của nhăn quyền chính là nguyên nhân nhờ vào chính đặc tính sắc sảo, chậm chạp, v.v... của thần kinh nhăn, đặc tính mô phỏng chính phẩm chất của con mắt được gọi là sắc sảo, chậm chạp v.v... nơi nhăn thức .v.v... nhiệm vụ này có khả năng hoàn tất thông qua pháp quyền duyên đó. Cũng như vậy đối với lỗ tai, lỗ mũi, lưỡi và thân. Nhưng nhiệm vụ của ư quyền chính là khiến cho các pháp câu sanh phụ thuộc vào chính tính cách thành thạo đó. [C̣n điều] cho là mạng quyền chỉ có nhiệm vụ bảo toàn các pháp câu sanh đó,[8] cho là nữ quyền và nam quyền có nhiệm vụ sắp xếp các kiểu dáng h́nh tướng, tướng công việc và cách thức của nữ giới và nam giới đó. C̣n các quyền thuộc lạc thể xác, đau khổ thể xác, hỷ và ưu đang chế ngự các pháp câu sanh, đang truyền đạt cho chúng chính pháp đặc biệt thô thiển. C̣n xả quyền lại có nhiệm vụ giúp chứng đắc được đặc tính trung tâm an tịnh và tối cao. C̣n nhiệm vụ các tín quyền, v.v... là thắng được điều đối nghịch và truyền đạt lại cho các pháp tương ưng những đặc tính tin tưởng,v.v... c̣n tri dị tri quyền là cách đoạn trừ được ba kiết sử và đối đầu được với các pháp tương ưng. [128]bằng cách đoạn trừ chúng. C̣n tri dĩ tri quyền gồm cả hai đặc tính làm suy yếu và đoạn trừ lần lượt dục ái sân hận, v.v... và chế ngự các pháp câu sanh bằng chính việc thành thạo. Căn “tri cụ tri quyền” cũng bao gồm cả việc loại bỏ những cố gắng nơi toàn bộ những nhiệm vụ và nguyên nhân các pháp tương ưng bằng cách đối đầu với bất tử. Như vậy định nghĩa về nhịêm vụ nên được hiểu rơ ở đây. 590. (6) “C̣n về cơi” các nhăn quyền, nhĩ quyền, thiệt quyền, tỷ quyền, thân quyền, nữ quyền và nam quyền. Khổ quyền, lạc quyền và ưu quyền chỉ được hiểu theo nghĩa dục giới mà thôi. Ưquyền, mạng quyền, xả quyền và tín quyền, tinh tấn quyền, niệm quyền, định quyền và tuệ quyền được gộp chung lại nơi bốn cảnh giới. Hỷ quyền được gộp lại nơi ba cơi, cụ thể là dục giới, sắc giới và siêu thế giới. Ba quyền cuối cùng chỉ thuộc siêu thế mà thôi. Như vậy ta nên hiểu định nghĩa theo các cảnh như vậy. 591. C̣n đối với nhận thức khi vị Tỳ khưu
biết rơ nhu cầu cần kíp 592. Trong phần mô tả yaṃ cakkhuṃ catunnaṃ mahābhūtānaṃ <122.9> (“cái gọi là thần kinh nhăn bắt nguồn từ Sắc Tứ Đại”) tất cả nên được hiểu theo phương pháp trong phần phân tích các từ trong tác phẩm Dhammasaṅgaṇi: và c̣n cách mô tả tinh tấn quyền hay cần quyền và định quyền, v.v... những quyền này không được khẳng định là chánh tinh tấn, tà tinh tấn, chánh định và tà định, v.v... [9] tại sao vậy? là do đặc tính bao gồm toàn bộ. V́ ở đây các quyền được giải thích như là bao trùm toàn diện. Điều này cho thấy mười quyền mang đặc tính hiệp thế dục giới. Ba quyền mang đặc tính siêu thế. C̣n chín quyền thuộc dạng pha trộn cả đặc tính hiệp thế lẫn siêu thế. Đến đây kết thúc chương phân tích theo Vi Diệu Pháp. B. PHẦN VẤN ĐÁP. 593. Trong phần vấn đáp.Việc sắp xếp thành các quyền thiện, v.v... nên được hiểu theo phương pháp đă được truyền đạt trong Kinh Pāli. 594. Nhưng liên quan đến tam đề cảnh, sattindriyāni <126.28> (“bảy quyền”) được đề cập đến liên quan tới các khả năng như: nhăn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền, nữ quyền và nam quyền. Nhưng mạng quyền không được đưa vào đây v́ có pha trộn với vô sắc. Dvindriyā (“hai quyền”) dve indriyā, căn này được đề cập đến có liên quan đến các cặp, thân thọ lạc và thân thọ khổ; v́ cả hai chỉ có một cảnh hy thiểu. Domanassindriyaṃ siyā parittārammaṇaṃ siyā mahaggatārammaṇaṃ [129] <126.29> ưu quyền (đau đớn tâm) rất có thể có một cảnh hy thiểu và cũng có thể có cảnh đáo đại; vào sát na quyền này xuất hiện, lại được pháp thuộc cơi dục giới thôi thúc rất có thể quyền này có một cảnh hy thiểu. Nhưng vào sát na xuất hiện lại do cơi sắc giới và vô sắc giới thôi thúc th́ quyền này có cảnh đáo đại. Vào sát na có khái niệm làm đối tượng th́ cũng có một đối tượng như vậy. Navindriyā siyā parittārammaṇā < 126.32> (“chín quyền có thể có một cảnh hy thiểu.”); ta nói điều này là v́ có liên quan đến ư quyền, mạng quyền, hỷ quyền, xả quyền và tám pháp bắt đầu với tín quyền v́ mạng quyền được gộp chung trong số các sắc pháp không có đối tượng v́ nó được pha trộn lẫn với sắc và c̣n được gộp chung với phần vô sắc nữa. Trong phân đoạn “có thể”. Cattāri indriyāni <127.3> (“bốn quyền”) là khổ quyền, lạc quyền, ưu quyền và tri cụ tri quyền. V́ những quyền đó không được sắp loại với tam đề có đạo thành cảnh. Maggahetukaṃ <127.6> (“có đạo thành nhân”) được đề cập đến v́ có liên quan đến nhân câu sanh, vào sát na coi tinh tấn và thẩm làm điều cao trọng nhất. Chúng có thể có đạo thành trưởng. Vào sát na lấy dục và tâm làm điều cao trọng nhất chúng có thể không nên cho là như vậy. 595. Dasindriyāni siyā uppannā siyā uppādino <127.13> (“mười quyền có thể đă nổi lên hay chúng có thể phải nổi lên”) đề cập đến điều này có liên quan đến bảy quyền sắc và ba quyền quả cùng với Dāsindriyāni < 127-15 > (“mười quyền”) là các pháp này đă đề cập ở trên cùng với ưu quyền. Về điểm này, ưu quyền vào sát na nổi lên đă thôi thúc bằng một khái niệm. Thế nên không thể cho là đă có đối tượng; những điều c̣n lại ở vào sát na phản khán Níp bàn. Tīṇi indriyāni bahiddhārammaṇāni <127.25> (“ ba quyền với một cảnh ngoại phần”) là ba quyền siêu thế. Cattāri <127. 26> (“bốn quyền”) có nghĩa là thân lạc quyền, thân khổ quyền, hỷ quyền và ưu quyền. V́ những quyền đó xuất hiện là do các pháp nội phần và ngoại phần thôi thúc. Aṭṭhindriyā <127.27> (“tám quyền”) đó là ư quyền, mạng quyền, xả quyền, và bốn pháp bắt đầu với tín quyền. Về điểm này, vào sát na vô sở hữu xứ, chúng nên được hiểu là không được cho là đă có đối tượng như vậy. 596. Như vậy, cũng trong phần vấn đáp này, mười quyền thuộc cơi dục giới, có ba quyền thuộc cơi siêu thế và chín quyền được diễn giải là pha trộn lẫn giữa hiệp thế và siêu thế. Và điều này được chia ra giống như cách thức đă được thực hiện trong chương phân tích theo Vi Diệu Pháp. 597. Nhưng Cách Phân tích các quyền này được thuyết pháp bằng cách sắp xếp theo hai chu kỳ. Đến đây kết thúc cách phân tích các quyền.
-ooOoo-
[1] Tác phẩm phân tích này (vibhaṅga) không có Chương Kinh Tạng [2] xin đọc phần mở đầu cách phân tích các xứ (nền tảng); cũng đọc thêm Vis, 480 [3]. Siṭṭha: Mht giải thích bằng từ Sajjitaṃ uppditaṃ được coi như quá khứ phân từ của từ Sajjeti , quá khứ phân từ này không thấy giải thích trong tự điển PED. Xin đọc thên Vis. Trsl tr. 560 n. [4]. Juṭṭha: Mhṭ giải thích bằng từ sevita không thấy giải thích trong tự điển PED [5] Asl tr. 312 tt. Phiên bản Vis ghi từ khandhaniddese thay v́ từ heṭṭh xin đọc thêm chương XIV. [6]. Có nghĩa là hiện trạng đó cũng có hai đặc tính v́ xuất hiện theo hai cách trong mạng quyền, có nghĩa là sắc và vô sắc. xin đọc Vbh. 123 [7] Mt. cho là bài b́nh luận ở đây xếp theo thứ tự thích hợp với bài b́nh luận Indriyayamaka. Chứ không giống như tác phẩm Vibhaṅga (Phân tích Luận) trong đó mạng quyền được xếp ngay sau ư quyền. Đây không phải trường hợp đối với hầu hết các ấn bản được in ra nhưng lại là bản dịch duy nhất được MS sử dụng cho Ee và phải được cho là chính xác như đă được công nhận trong tác phẩm phân tích Luận ( Ce 1975) [LSC] [8] xin lưu ư thứ tự các quyền được sắp xếp ở đây và trong Vis. tr. 493 [LSC] [9] Điều này rơ ràng ám chỉ sự thiếu vắng cả chánh tinh tấn lẫn tà tinh tấn. Trong phần đăng kư đối với tinh tấn quyền, và sự thiếu vắng của cả chánh định và tà định trong phần đăng kư định quyền (không kể đến trường hợp trước đó; chẳng đá động ǵ đến các giác chi cả (bojjhaṅgas). Có nhiều ấn bản tập Vbh lại thực hiện điều này trong trường hợp liên quan đến định quyền. [LSC]
|
|