|
CHÚ GIẢI BỘ PHÂN TÍCH
Nguyên
Tác Pāli: Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG MƯỜI TÁM
PHÂN TÍCH PHÁP
TÂM 2566. [517] Giờ đây đến phần phân tích pháp tâm tiếp theo sau đó. Trước tiên ta phải hiểu rơ cách phân chia theo Kinh Pāli. V́ ở đây, ngay lúc đầu, chương hàm tận yếu hiệp được đưa ra với mười hai phần bao gồm các uẩn v.v... <401.1> phần thứ hai là chương về sanh và bất sanh thuộc cùng các pháp dục giới.v.v... <404.6>. Phần thứ ba là chương quan hệ bất quan hệ. <409.3>. Phần thứ tư là chương hiển lộ và bất hiển lộ vào thời điểm tái sanh [nơi từng cơi] trong số ba cơi <411.37>. Phần thứ năm là chương về các pháp nơi các cơi khác nhau <421.11>. Phần thứ sáu là chương về nghiệp tạo tái sanh và thọ mệnh thuộc các sanh thú đa dạng. <422.1> Phần thứ bảy là chương cần thắng tri.<426.15>. Phần thứ tám là chương về có hay không có đối tượng. <428.3> Phần thứ chín là chương về các hiện trạng bao gồm các uẩn. v.v... bằng cách thấy được, nghe được... v.v... <429.18> Phần thứ mười là chương về các pháp gộp lại theo tam đề thiện v.v... 1. Chương đầu tiên. 2567. Kinh Pāli như vậy đă được phân thành mười chương. Trước tiên trong chương thứ nhất hàm tân yếu hiệp, khi được hỏi: “Có bao nhiêu uẩn hiện hữu giữa Avīci (địa ngục A tỳ) và tột đỉnh hiện hữu (bhavagga)?” Thay v́ cho biết là “một” hay ... “bốn” hay “sáu” và cho thấy sức mạnh trí của ngài v́ chẳng có người nào khác có khả năng nói là “năm”. Ngài đă đưa ra câu trả lời pañcakkhandhā <401.4> (“ngũ uẩn”) được coi như là phù hợp với câu hỏi. V́ câu trả lời phù hợp với câu hỏi nên ta gọi là một câu trả lời của “Đấng Toàn Tri”. 2568.. Liên quan đến dvādasāyatanāni <401.23> (“thập nhị xứ”) v.v... , th́ phương pháp cũng hoàn toàn giống nhau. Nhưng cách phân chia rūpakkhandha <401.17> (“sắc uẩn”) v.v... ta nên hiểu theo phương pháp đă được đưa ra trong phần phân tích các uẩn (xin đọc ở trên, §§ 7 tt) v.v... 2. Chương thứ hai 2569. Chương thứ hai kāmadhātuyā pañcakkhandhā <404.8> (“trong dục giới có ngũ uẩn”) v.v... được đề cập đến kể cả những pháp nổi lên với chúng sanh được tạo ra do dục giới nơi dục hữu, cho dù những pháp này có được gộp vào dục giới hay không, và kể cả trong trường hợp rūpadhātu <405.11> (“sắc giới”) v.v... cũng vậy. Đây lại là phương pháp. Nhưng v́ do vô tỉ xứ v.v... nơi chúng sanh được gộp lại trong sắc giới, thế nên khí xứ v.v... không thể thực hiện nhiệm vụ của xứ v.v... được. Chính v́ thế rūpadhātuyā cha āyatanā nava dhātuyo <405.12> (“trong sắc giới có sáu xứ, chín giới”) v.v... cũng đă được nhắc đến.[96] 2570. Và v́ giới phi hệ thuộc (apariyāpannadhātu) hoặc do vị trí không gian tái sanh của chúng sanh. Chính v́ thế thay v́ nói “giới phi hệ thuộc”, apariyāpanne kati khandhā <407.32> (“trong giới phi hệ thuộc, có bao nhiêu uẩn?”) v.v... được đề cập đến để cho thấy chỉ có những pháp đó là phi hệ thuộc mà thôi. 3. Chương thứ Ba 2571. Trong chương thứ ba, kāmadhātupariyāpannā <409.3> (“quan hệ trong dục giới”) có nghĩa là được quan hệ nơi dục giới thuộc dục giới, tuỳ thuộc vào, nằm bên trong đó; ư nghĩa ở đây chính là giới này chỉ được coi như là dục giới. Cũng như vậy đối với các từ c̣n lại 2572. Pariyāpannā <411.17> (“quan hệ”): quan hệ nhờ một trong số đặc tính hiện hữu hay quan hệ trong vị trí không gian. Apariyāpannā <411.18> (“bất quan hệ”): không quan hệ như vậy. 4. Chương thứ tư 2573. Trong chương thứ tư. Ekādasāyatanāni <411.40> (“mười một xứ”): Vô thinh xứ; v́ xứ này không nổi lên ǵ cả trong ṿng tái sanh. Ư nghĩa nên được hiểu theo cách này cho thấu đáo. Liên quan đến người nào có được bảy xứ, thay v́ nói “đối với các chư thiên” “đối với các A tu la” theo sanh thú, ta nói gabbhaseyyakānaṃ <415.36> (“đối với những kẻ nào [đầu thai] trong thai sanh”) không phân biệt điều ǵ cả. V́ [97] ở bất kỳ nơi đâu cũng xảy ra trong thai sanh. Ta nên hiểu thất xứ đối với họ chỉ là vị trí đó mà thôi. Cũng giống vậy đối với các giới. Điều c̣n lại ư nghĩa xem ra đă quá rơ ràng. 5. Chương thứ năm. 2574. Điều phải đề cập đến trong chương thứ năm đă được đề cập đến trong tập chú giải về tác phẩm Dhammasaṅgaha ( xin đọc Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Asl) 387 tt; xin đọc thêm tr. 50) 6. Chương thứ sáu. 2575. Trong chương sáu, devā <422.1> (“các chư thiên”) có nghĩa là: “Các ngài tự tiêu khiển (dibbanti) nhờ vào năm mối ràng buộc dục lạc hay nhờ vào nhiều sức mạnh thần diệu” (iddhivisesa). Sammutidevā (“Các vị chư thiên theo qui ước”) là các vị chư thiên (có nghĩa là, các vị vua và các vị hoàng hậu) được gọi theo cách dùng theo qui ước thế tục: devo (“Tâu hoàng thượng”) và devī (“Tâu hoàng hậu”). Uppattidevā (“chư thiên hoá sanh”) được khởi xuất là các chư thiên, v́ khởi sanh nơi cơi Phạm Thiên. Visuddhidevā <422.2> (“là chư thiên do thanh tịnh”): Họ trở thành chư thiên do thanh tịnh tất cả phiền năo, xứng được hưởng dâng cúng dành cho tất cả các chư thiên. Rājāno (“ các vị vua”) thuộc giai cấp Sát Đế Lỵ được xức dầu trên đầu. Deviyo (“các hoàng hậu”) là các đương kim hoàng hậu. Kumārā (“các vị hoàng tử”) là các hoàng tử khởi sanh trong cùng ḷng vị hoàng hậu và vị vua đă được xức dầu. 2576. Uposathakammaṃ karitvā <422.7> (“đă thực hiện công việc quan trai”): đă tuân giữ ngày thứ mười bốn trong tháng v.v... ngày quan trai lại gồm có tám chi phần. 2577. Giờ đây do nghiệp công đức nơi của bố thí trên một b́nh diện nhỏ chính là một điều kiện nhắm đến thịnh vượng cho nhân loại, và khi đă đem lại hậu quả chỉ ở mức độ vừa phải [nó trở thành một điều kiện] ở mức độ cao nhất cho thịnh vượng nơi nhân loại, do có sự đa dạng nơi pháp ở mức độ cao nhất đó nó trở thành nguyên nhân cho rất nhiều pháp đa dạng bao gồm cả giai cấp Sát Đế Lỵ có được căn bản to lớn, v.v... ; chính v́ thế ngài cho rằng app ekacce gahapatimahāsālānaṃ <422.8> (“một số khởi xuất nơi cộng đoàn các gia chủ phú hào”), v.v... cho thấy các loại tái sanh có được là do các nguyên nhân của nó đem lại. [519] Về điểm này, “phú hào” (mahā-sārā) có nghĩa là ‘chúng đem lại phú hào’ (mahā-sāro) nhưng chỉ thay ‘phụ âm “l” bằng phụ âm “r”. mahāsālā (nghĩa đen ta nói về “các sảnh đường to lớn”). Gahapatimahāsālā có nghĩa hoặc là “các vị gia chủ phú hào” hay “ những phú hào trong số các vị gia chủ.”) cũng giống thế với những ǵ c̣n lại. 2578. Về điểm này, có một người trong một ngôi nhà tài sản tối thiểu của người đó vào khoảng bốn mươi kotis được tồn trong nhà. Và tại đó một khoản tiền chi tiêu hàng ngày vào khoảng năm ambaṇas [98] của một đồng kahāpaṇas ta gọi người đó là một gia chủ phú hào. Nhưng có một người khác sống trong một ngôi nhà có tài sản tối thiểu khoảng độ tám mươi kotis gửi trong đó và trong ngôi nhà đó việc chi tiêu hàng ngày vào khoảng mười ambaṇas đồng kahāpaṇas ta gọi người đó là một Bà la môn phú hào. Nhưng có người trong nhà dự trữ một tài sản tới hai trăm kotis và trong đó việc chi tiêu hàng ngày chỉ khoảng độ hai mươi ambaṇas đồng kahāpaṇas th́ ta gọi người đó là một người thuộc đẳng cấp Sát Đế Lỵ phú hào. Sahavyataṃ (“kết hợp với”) : cùng có cảm giác t́nh bạn với; tự bản thân chia sẻ với, đó là ư nghĩa. 2579. Liên quan đến cātumahārājikānaṃ <422.20> (“thuộc Tứ đại thiên vương”) v.v... : những vị đó thuộc Tứ thiên vương đang cư trú giữa đường lên Núi Sineru; trong số họ có những vị đang nghỉ ngơi trên đỉnh núi và có những vị nghỉ ngơi trên không trung, và họ mở rộng vô tận tới vách núi cơi ta bà thế giới (cakkavāḷa). Những kẻ đó sống ám hại trong vui chơi. Có kẻ sống ám hại trong sân hận, có kẻ lại như những đám mây lạnh, có kẻ là đám mây nóng là thần mặt trăng, thần mặt trời, toàn bộ họ đều thuộc cơi Tứ đại thiên vương. 2580. V́ có 33 người tái sanh tại cơi đó, nên được gọi là ‘cơi Tam Thập Tam (Tāvatiṃsa); người ta cũng cho rằng cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa) chỉ là tên của các vị chư thiên đó, và cũng có những người [trong số họ] an nghỉ trên núi và những người cư trú trên không trung; và họ đă mở rộng vô tận cho tới vách tường núi cơi ta bà thế giới. Cũng giống vậy đối với Chư thiên làYāma (Dạ Ma) v.v... [99] v́ nơi bất kỳ cơi chư thiên nào, chẳng có chư thiên nào lại không mở rộng vô tận đến tận vách tường núi cơi ta bà thế giới cả. 2581. Về điểm này, v́ họ đă đi tới (yāta). Hoàn toàn ra đi (payāta) thế nên họ đă đạt đến niềm vui sướng chư thiên tột đỉnh, họ chính là Dạ Ma, họ tỏ ra hài ḷng và sung sướng (tuṭṭhahaṭṭha) chính v́ vậy họ lại là các chư thiên thuộc cơi trời đâu suất, họ thích thú (ramanti) tạo ra (nimminitvā) đủ thứ châu báu theo sở thích của họ vào thời điểm họ ước muốn thích thú bằng một điều ngoại lệ khác với đối tượng được cung cấp nguyên thủy. Chính v́ thế họ là các Chư thiên Hoá lạc thiên (Nimmānarati). Biết rơ các việc làm đầy ư thức tha nhân họ đă vận dụng sức mạnh trên các châu báu đó để tạo ra chúng. Chính v́ thế họ là các chư thiên Tha hoá tự tại thiên (Paranimmitavasavatti). 2582. Appaṃ vā bhiyyo <422.19> (“hoặc ít hơn hoặc nhiều hơn”): chưa đạt đến thế kỷ thứ hai. Hơn một thế kỷ độ hai mươi năm hay ba mươi, bốn mươi, năm mươi hay sáu mươi năm ǵ đó là ư nghĩa muốn nói tới ở đây. Và toàn bộ điều này ta gọi là “một chút” (appa) v́ chưa đạt đến thế kỷ thứ hai. 2583. Liên quan đến Brahmapārisajjā (“Phạm chúng thiên”), v.v... đoàn tuỳ tùng, tức là những đồ đệ của vị Đại Phạm Thiên chính là đoàn tuỳ tùng của vị Phạm Thiên (Brahmapārisajjā). Những vị nào chiếm được một vị trí các vị quân sư được gọi là các vị Phạm phụ thiên (“Brahmapurohitā) [520] Cả hai vị đều có sắc đẹp và v́ có cuộc sống kéo dài khá lâu, thế nên các vị Phạm Thiên đều là vĩ đại. Chính v́ thế họ được gọi là các vị Đại Phạm Thiên; đối với các vị Mahābrahmānaṃ <424.15> (“các Đại Phạm Thiên”). Ba hạng người này (jana) đều sống ở một vị trí nơi cơi sơ thiền; nhưng qui mô tuổi thọ của họ có khác nhau. 2584. Ánh hào quang của họ có giới hạn, chính v́ thế họ là các Thiểu Quang Thiên (Parittābha). Ánh hào quang của họ vô giới hạn, chính v́ thế họ được gọi là các chư thiên Vô lượng quang thiên (Appamāṇābha). Giống như ánh lửa của một ngọn đuốc, ánh sáng xuất phát từ thân cây đuốc, như thể chính ánh sáng đó liên tục tách ra khỏi thân cây đuốc và rơi xuống, tuôn trào (sarati) và chảy lai láng. Chính v́ thế ta gọi họ là các chư thiên Quang âm thiên (Abhassara), và ba loại người này sống ở một vị trí nơi cơi đệ nhị thiền. Nhưng qui mô tuổi thọ của họ có khác nhau. 2585. Họ có vinh quang hạn chế. Chính v́ thế ta gọi họ là các vị chư thiên Thiểu Tịnh Thiên. (Parittasubha). Họ có vinh quang vô hạn định. Chính v́ thế ta gọi họ là các chư thiên Vô lượng tịnh thiên (Appamāṇasubha). Ánh vinh quang che phủ và bao quanh họ, họ tạo thành một đám người do màu sắc ánh hào quang vinh quang nơi thân xác họ toả ra; họ lại có ánh hào quang chói lọi của một quả cầu lửa vàng đang cháy bùng trong một chiếc rọ vàng; chính v́ thế ta gọi họ là các vị chư thiên Biến tịnh thiên (Subhakiṇṇa) và cả ba hạng người đó đều cư trú nơi trú xứ gọi là cơi đệ tam thiền; nhưng mức độ tuổi thọ của họ có khác nhau.[100] 2586. Ārammaṇanānattatā <425.8> (“thông qua các đối tượng đa dạng”) ārammaṇassa nānattabhāvo. Cũng chính v́ vậy manasikāranānattatā (“thông qua tác ư đa dạng”) v.v... Ở đây ta có đề mục đất hoàn tịnh (earth kasiṇa)... ta có đề mục bạch hoàn tịnh (white kasiṇa); đây là các cách đa dạng của đề mục. Lại có người dùng tác ư đề mục đất hoàn tịnh... có người tác ư đề mục bạch hoàn tịnh. Đây cũng những tác ư hết sức đa dạng. Có kẻ lại lấy dục liên quan đến đề mục đất hoàn tịnh... kẻ khác liên quan đến đề mục bạch hoàn tịnh; đây chính là những dục hết sức đa dạng, có kẻ lấy bổn nguyện cho đề mục đất hoàn tịnh, có kẻ cho đề mục bạch hoàn tịnh, đây là những bổn nguyện đa dạng, có kẻ quyết định nhờ đề mục đất hoàn tịnh (kasiṇa)... có thể lại lấy đề mục bạch hoàn tịnh (kasiṇa). Đây lại là những quyết tâm rất đa dạng, có kẻ lấy hoài bảo đề mục đất hoàn tịnh (kasiṇa) ... kẻ khác lại lấy tuệ để xác định đề mục đất hoàn tịnh (kasiṇa), đây chính là những tuệ hết sức đa dạng vậy. 2587. Về vấn đề này, và tác ư được giải thích như là giai đoạn ưu tiên (pubbabhāga); dục, bổn nguyện, quyết định và hoài bảo lại thích hợp với cả hai nơi an chỉ định lẫn nơi cận hành định. Nhưng tuệ lại được giải thích là bị pha trộn với cả đặc tính hiệp thế lẫn đặc tính siêu thế. 2588. Asaññasattānaṃ <425.23> (“nơi các chúng sanh vô tưởng”): nơi những chúng sanh không có tưởng. Đối với một số, sau khi đă xuất gia lai gia nhập vào ngoại đạo xứ và nhận ra lỗi phạm nơi tâm do tham dục, sân hận và si mê tuỳ thuộc vào tâm thức, người đó tưởng tượng rằng: “hiện trạng vô tưởng là tốt, đây chính là níp bàn nơi hiện hữu hiện tại” [521] và họ đă tạo ra cách ly tham cho tưởng, và tu luyện chứng đắc thiền chứng thứ năm cho hợp với điều đó. Họ bị đầu thai tại đó vào sát na họ tái đầu thai th́ chỉ có sắc uẩn được tái sanh. Nếu người đó sanh ngồi, người đó chỉ ngồi mà thôi, nếu người đó sanh nằm, th́ chỉ nằm mà thôi, họ tồn tại cả năm trăm đại kiếp giống như những bức tượng vẽ; vào ngày cuối cùng th́ sắc thân tan biến, tưởng về dục giới lại nổi lên, thông qua việc khởi sanh của tưởng đó tại nơi đây nơi cơi này các vị chư thiên đó nhận thấy (paññāyanti) họ đă thoát khỏi sắc thân đó. 2589. “Về kết quả dồi dào” (vipulā phalā) là ư nghĩa của từ vehapphalā (“các chư thiên Quảng quả”. Các ngài không để mất (na hāyanti) sự phồn vinh của chính ḿnh, chính v́ thế ta gọi các ngài là (“các chư thiên vô phiền thiên Aviha). Các ngài không tra tấn (tappenti) bất kỳ chúng sanh nào cả, chính v́ thế ta gọi các ngài là atappā (“các chư thiên Vô nhiệt thiên”) dễ thương, bảnh bao, dễ chịu. Thế nên ta gọi các ngài là sudassā <425.30> (“các vị Thiện kiến thiên”). Các ngài có cái nh́n thấu đáo [101] mọi sự trên đời này, chính v́ thế ta gọi các ngài là sudassī (“các vị chư thiên Thiện hiện thiên”). Các ngài là bậc thầy về mặt các giới đức và về cách hiện hữu phồn vinh. Các ngài không thua kém ai về mặt này, chính v́ thế các ngài được gọi là akaniṭṭhā <425.34> (“các vị chư thiên Sắc cứu cánh”). Ākāsānañcāyatanupagā (“các vị chư thiên thuộc cơi Không vô biên xứ”) = ākāsānañcāyatanūpagatā. Điều c̣n lại cũng giống như vậy. 2590. Chính v́ thế đối với sáu loại [chư thiên] thuộc cơi dục giới và chín loại thuộc cơi Phạm Thiên, và năm loại thuộc Cơi tịnh cư và bốn cơi vô sắc giới cùng với các chúng sanh vô tưởng cũng như các vị “chư thiên Quảng quả thiên” làm thành 26 cơi chư thiên cùng với cơi nhân loại làm thành 27 cơi tất cả. 2591. Về điểm này, Đấng Toàn Giác, khi đă xác định được tuổi thọ các chư thiên và nhân loại, lại không xác định tuổi thọ nơi bốn khổ cảnh hoặc của các địa thần. Tại sao lại có điều này? Trước tiên, liên quan đến địa ngục. Ta chỉ có thể dùng nghiệp để đo lường [địa ngục] mà thôi;[102] cho đến khi nào nghiệp chưa được sử dụng cạn kiệt th́ nghiệp không hề tan biến mất. Cũng giống như vậy đối với khổ cảnh. Cũng chỉ có nghiệp là thước đo đối với các vị chư thiên nơi cơi địa cầu. Khi phải đầu thai tại đó. Chỉ có một số ít tồn tại đủ bảy ngày, một số tồn tại được hai tuần lễ, một số được một tháng, và cũng có một số tồn tại được cả một đại kiếp. 2592. Về điểm này, trong số các chúng sanh lại có các vị Nhập Lưu đang sống trong cuộc sống thế tục và họ có thể đạt đến thánh quả Nhất Lai, thánh quả Bất Lai và A-la-hán. Trong số những vị này, th́ các vị Nhập Lưu v.v... tồn tại cho đến khi nào tuổi thọ của họ c̣n tồn tại; nhưng những vị nào đă đoạn tận các lậu hoặc, hoặc đă đạt đến tịch diệt níp bàn hay xuất gia đi tu. Tại sao vậy? Bậc A-la-hán là phẩm hạnh tột đỉnh; tướng cận sự nam thuộc hiện trạng hạ cấp; liên quan đến đặc tính hạ cấp của chúng sanh th́ chúng sanh không thể hỗ trợ cho các phẩm hạnh tột đỉnh được; chính v́ thế họ ước ao đạt đến tịch diệt níp bàn hay họ ước ao xuất gia đi tu. Nhưng các chư thiên thuộc cơi địa cầu th́ tồn tại cho đến khi nào cuộc sống của họ vẫn kéo dài ngay cả sau khi đă đạt đến bậc A-la-hán. 2593. Trong số sáu loại chư thiên thuộc cơi dục giới, các vị Nhập Lưu và các vị Nhất Lai tồn tại cho đến khi nào thọ mạng của họ vẫn c̣n tồn tại. Điều thích hợp đối với một vị Bất Lai là đạt đến được sắc hữu và đối với các vị đă đoạn tận các lậu hoặc là chứng đắc tịch diệt níp bàn. [522]. Tại sao vậy? v́ họ không có nơi nào để lưu lại trên thế gian này [103]. 2594. Tất cả những ai thuộc cơi sắc giới và vô sắc giới đều lưu lại đó cho đến khi nào thọ mệnh của họ vẫn tồn tại. Về điểm này, các vị Nhập Lưu và các vị Nhất Lai được đầu thai nơi cơi sắc giới lại không quay trở lại cơi đó nữa; họ đă chứng đắc tịch diệt níp bàn tại đó và ta gọi họ là các vị “Bất Lai Thiền Định” (jhāna-anāgāmin). 2595. Nhưng điều ǵ quyết định [việc tái sanh] cho những ai đă chứng đắc được bát thiền chứng? Thiền định Jhana là điều quen thuộc nhất, chỉ nhờ có nhập thiền định đó đă trở thành quá quen thuộc mà ngài được tái sanh; nhưng khi toàn bộ đă trở nên quen thuộc th́ điều ǵ quyết định đây? Đó là bổn nguyện, ngài được tái sanh nơi nào ngài khao khát được tái sanh. Khi nào chẳng c̣n bổn nguyện th́ điều ǵ quyết định đây? Đó là thiền chứng họ duy tŕ được vào thời điểm tử. Nếu không có thiền chứng nào vào thời điểm tử, th́ điều ǵ quyết định đây? đó là thiền chứng phi tưởng phi phi tưởng sẽ quyết định v́ chắc chắn ngài sẽ tái sanh nơi cơi phi tưởng phi phi tưởng.[104] 2596. Đối với các vị thánh đệ tử được tái sanh nơi chín cơi Phạm Thiên th́ tái sanh cũng hiện hữu tại đó và tái sanh thuộc hạng cao cấp, chẳng có tái sanh hạ cấp đâu, nhưng những người phàm phu có tái sanh ở cơi đó th́ có cao có thấp. Đối với các vị thánh đệ tử được tái sanh nơi năm cơi tịnh cư và nơi bốn cơi vô sắc giới cũng có tái sanh ở đó và tái sanh lại được nâng cao. Một vị Bất Lai tái sanh nơi cơi sơ thiền, sau khi đă tự thanh tịnh chính ḿnh nơi chín cơi Phạm Thiên, vị đó sẽ chứng đắc tịch diệt hoàn toàn khi ngài đă đạt đến tột đỉnh. Ba cơi các vị chư thiên đó là cơi chư thiên Quảng quả, các chư thiên Sắc cứu cánh, và các chư thiên thuộc cơi phi tưởng phi phi tưởng; và được gọi là những hữu tột đỉnh.(seṭṭhabhava)[105] các vị Bất Lai chỉ tái sanh ở ba cơi đó không thể tiến cao hơn cũng không hạ thấp hơn được, các vị ấy chứng đắc viên tịch hoàn toàn nơi các ngài sống. Đây chính là phương pháp chung cho điều này vậy[106]. 7. Chương thứ bảy 2597. Trong chương bảy, ta nên hiểu pháp cần phải thắng tri (abhiññeyyatā) khớp với thắng trí phân biệt những thực tính tướng (salakkhaṇapariggāhika)[107]. Pháp cần phải biến tri (pariññeyyatā) ăn khớp với những đạt tri nơi liễu tri đạt tri, thẩm đạt tri, và cả trừ đạt tri. (ñāta-tīraṇa-pahānapariññā)[108] và ta nên hiểu điều đó theo như hiểu biết toàn bộ những ǵ thuộc biến tri và thẩm đạt tri. Trong các đoạn như rūpakkhandho abhiññeyyo pariññeyyo na pahātabbo. <426.22> (“sắc uẩn cần phải thắng tri, cần phải biến tri, không cần phải đoạn trừ.”) và điều này nên được hiểu là cần phải biến tri về đoạn trừ như trong các đoạn sau Samudayasaccaṃ abhiññeyyaṃ pariññeyyaṃ pahātabbaṃ <426.37> (“tập đế cần phải thắng tri, cần phải biến tri và cần phải đoạn trừ.”) 8. Chương thứ tám 2598. Trong chương tám, pháp hữu tri cảnh và bất tri cảnh nên được hiểu theo như nhăn thức, v.v... đang có sắc xứ v.v... làm đối tượng. 9. Chương thứ chín 2599. Ư nghĩa chương thứ chín cũng đă quá rơ ràng. 10. Chương thứ mười. 2600. Cũng như vậy trong chương thứ mười, [điều ǵ cần đề cập đến] đă được đề cập đến toàn bộ nơi nhiều vị trí khác nhau trong chương câu hỏi. Kết thúc phần diễn giảng về phân tích pháp tâm. LỜI BẠT
2601. [523] Bận rộn thuyết giảng Vi Diệu Pháp THÔNG TIN THÊM 2602. Tập chú giải Vibhaṅga (Bộ phân tích) được gọi là “Xua Tan Si” do vị Trưởng lăo được trang bị với đức tin tuyệt đối và thanh tịnh, có trí thông minh và tinh tấn phi thường biên soạn. Ngài chính là nơi hội tụ đủ mọi ân đức chính trực và khả ái v.v... do ngài đă miệt mài tu luyện giới hạnh, ngài có khả năng t́m ṭi, nghiên cứu sâu rộng và thăm ḍ đến tận đáy các quan điểm về chủ thuyết của chính ḿnh và của tha nhân. Ngài đắc thủ đặc tính sắc bén trí tuệ. Ngài mạnh mẽ nơi trí không sai lầm nơi giáo pháp của Đức Thế Tôn như đă được phân chia thành Ba Tạng cùng với đầy đủ những chú giải kèm theo. Một vị chú giải vĩ đại, [524] được phú cho giọng nói ngọt ngào và thánh đức xuất phát từ niềm hạnh phúc được tạo ra do thông thạo luật ngữ pháp, một diễn giả chỉ phát biểu những điều thích hợp, một diễn giả không ai sánh kịp, một nhà kệ vĩ đại, một đồ trang điểm cho ḍng họ các vị Truởng Lăo đang trú ngụ tại Đại Thiền Viện và là người đang làm sáng toả ánh hào quang nơi ḍng dơi các vị Trưởng Lăo với giác ngộ vô tỳ vết nơi các pháp siêu nhân đă được trang điểm với các phẩm chất gồm sáu loại thắng trí và các loại trí phân định một người có dồi dào trí tuệ được thanh tịnh kỹ càng. Và ngài mang tên là Buddhaghosa do các vị đáng kính ban tặng. 2603. Mong rằng điều đó tiếp tục chứng tỏ
Đến đây kết thúc tập Chú Giải “Xua Tan Si Ám”
-ooOoo-
[96] Mt. phát hiện ra luận cứ này mâu thuẫn với Vbh 419 trong đó các chúng sanh vô tưởng (asaññasatta) được coi như chỉ thuộc về hai căn mà thôi: sắc xứ và pháp xứ. Anut. đáp lại “ ngay cả nếu như sắc xứ nơi các chúng sanh vô tưởng không phải là đối tượng cho họ v́ không có mắt cũng như đối với các chúng sanh thuộc cơi hạ cấp v́ chúng hết sức tinh tế. Ay vậy mà điều đó cũng vẫn là một đối tượng dành cho nhăn xứ nơi các trú xứ của chư thiên Quảng quả là người có cùng cấp bậc và cũng dành cho các cơi Tịnh cư thiên, là những người thuộc vị trí thượng hạng. – chính v́ thế [sắc xứ] chắc chắn thực thi các nhiệm vụ thuộc xứ v.v... ” và lại tham khảo trở lại phần thảo luận được nhắc đến trong n. 58 đoạn §736 ở trên [LSC] [97] được giải thích là yasmā với Ce 1932 đối với E e lại ghi là tasmā [LSC] [98] không thấy ghi trong tự điển Pāli-Anh (PED) nhưng xin đọc ammaṇa. (Mṭ catudoṇaṃ amboṇaṃ; chadoṇan ti eke [ LSC] [99] Tự điển Pāli-Anh (PED) nhầm Yamarja, là vua cơi âm ti (xin đọc thêm chú giải về Trung Bộ Kinh 130) liên quan đến từ Ymadevaloka. Vị hoàng đế của cơi đó ta gọi là Diêm Vương (Yāma); nhưng không có tương quan ǵ nơi các vị vua này cả. [100]. Cp. MA I 35 [101] Mṭ: với tuệ nhăn và với nhục nhăn và thiên nhăn [LSC] [102] Mṭ cho rằng điều này có nghĩa là cách phân chia thành thọ mạng của abbuda v.v... do nghiệp mà tạo nên. Anuṭ lại có một đoạn dài ghi rằng: “Họ nói rằng thọ mệnh của các vị chư thiên Tứ thiênVương là một ngày một đêm nơi cơi Sañjīva. Ba mươi đêm giống như một đêm kiểu đó làm thành một tháng. Một năm có mười hai tháng theo kiểu một tháng như vậy. năm trăm năm như thế là tuổi thọ nơi cơi Sañjīva. Tuổi thọ các vị chư thiên nơi cơi Tam Thập Tam Thiên giống như một ngày một đêm nơi cơi Kāḷasutta. .... .v.v... Một ngàn năm kiểu một năm như vậy là tuổi thọ nơi cơi Kāḷasutta. Tuổi thọ của các chư thiên Dạ Ma là một ngày một đêm nơi cơi Saṅghāta... v.v... Ḥai ngàn năm kiểu một năm như vậy là tuổi thọ nơi cơi Saṅghāta. Tuổi thọ các chư thiên cơi trời Đâu Xuất là một ngày một đêm nơi cơi Roruva... v.v.... Bốn ngàn năm kiểu một năm như vậy là tuổi thọ nơi cơi Roruva. Tuổi thọ các chư thiên Hoá lạc là một ngày và một đêm nơi cơi Mahāroruva... v.v... tám ngàn năm kiểu một năm như vậy là tuổi thọ nơi cơi Mahāroruva. Tuổi thọ các chư thiên Tha hoá tự tạilà một ngày và một đêm nơi cơi Tāpana.. .v.v... Mười sáu ngàn năm kiểu một năm như vậy lại là tuổi thọ nơi cơi Tāpana.. .v.v... .Tuổi thọ nơi cơi Mahātāpana vào khoảng một nửa Antarakappa và tuổi thọ nơi cơi địa ngục A Tỳ (Avici) là một anatarakappa. Ta nên hiểu là chỉ có nghiệp là mức độ được đề cập đến, hiểu biết rằng. Chính v́ với cái chết theo ư muốn (adhimutta) của các chư thiên, nhờ sức mạnh tương tự nơi hành vi công đức th́ cũng xảy ra cái chết trong khoảng thời gian đó, điều đó thực sự là như vậy, cách phân chia thành tuổi thọ của một abbuda v.v... th́ thích hợp hơn.” [LSC] [103] Mṭ cho rằng: Ư nghĩa ở đây là bỏi v́ không nơi nào khác hơn là nơi đă đầy thú vui dục lạc và các đoàn nữ thần được tái sanh tại đó luôn luôn chăm sóc cẩn thận” [LSC] [104] Ce 1932 giải thích là: jhānalābhī anāgāmino [LSC] [105] Anuṭ lần lượt đề cập đến tên dành cho ba cơi hiện hữu tột đỉnh dành cho các chúng sanh b́nh thường (các chư thiên Quảng quả thiên. Hiện hữu tột đỉnh dành cho các vị thánh nhân chư thiên cơi Sắc cứu cánh thiên. Hiện hữu tột đỉnh dành cho toàn bộ những vị thuộc cơi phi tưởng phi phi tưởng) [LSC] [106] Mṭ thảo luận về đoạn này dưới ánh sáng của đoạn Yam ii 375-6, đề cập đến tái sanh nơi cơi vô sắc giới của những ai chỉ với năm hay ba anusayas có nghĩa là, những vị thánh nhân, và gợi ư là điều này không áp dụng cho các vị chư thiên Quảng quả thiên, v.v... nói cách khác tác phẩm cũng gợi ư rằng những chú giải trong tập aṭṭhakathā đặc biệt ám chỉ đến thánh đệ tử là người chưa thể diệt trừ sắc ái (rūparāga) có nghĩa là, các vị Nhập Lưu và các vị Nhất Lai và vị nào được tái sanh nơi cơi Phạm Thiên. Bộ Song Đối được ám chỉ đến trường hợp của người nào tu luỵên thánh đạo nơi cơi Phạm Thiên và trấn áp sắc ái nhờ nhập thiền vô sắc giới. [LSC] [107] Mṭ : những thực tính tướng: phân biệt được những đặc tính chung và đặc biệt (visesa) bằng cách khởi sự với “sắc pháp có đặc tính tiêu hoại (ruppana); xúc có đặc tính đụng chạm.” xin đọc thêm anuṭ và Thanh Tịnh Đạo 606tt. [LSC] [108] Mṭ giải thích “liễu tri đạt tri” giống như kiến thanh tịnh. Và đoạn nghi thanh tịnh, “thẩm đạt tri” được coi như là thanh tịnh được thực hiện cho đến khi đạt đến thuận thứ tri và trừ đạt tri” chính là tuỳ quán về sinh diệt cho đến khi đạt đến thánh đạo. Cp. Bản dịch Thanh Tịnh Đạo tr. 705 và 812 [LSC]
|
|