NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

CHÚ GIẢI  BỘ PHÂN TÍCH

                                                                    Nguyên Tác Pāli:  Bhadantācariya Buddhaghosa
                                                
       Bản Anh Ngữ:  Bhikkhu Ñāṇamoli
                                               
        Bản Việt Ngữ:  Tỳ khưu Thiện Minh

PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG MƯỜI BẢY

PHÂN TÍCH CÁC TIỂU TÔNG
(Minor Bases)
(Khuddakavatthuvibhaṅga)

A . ĐẦU ĐỀ (Mātikā)

2312. [465] Giờ đây đến phần phân tích các Tiểu Tông (Minor Bases)[1] tiếp theo ngay sau đó, trước tiên ta nghiên cứu phần đầu đề và tiếp theo ngay sau đó là phần mô tả được thực hiện theo thứ tự các từ. Về điểm này, đây chính là phân định ranh giới đă được đề ra như sau:

2313. Trước tiên ngay từ đầu, có 73 (tiểu tông) bắt đầu với jātimado <345. 3> (“kiêu hănh về sanh chủng”) được tŕnh bày dưới dạng các đơn pháp. Sau đó là mười tám nhị pháp bắt đầu bằng kodho ca upanāho <346.25> (“sân hận và oán thù”). Lại có 35 tam pháp bắt đầu với các căn bất thiện (akusalamūla) <347.6>. Lại có mười bốn tứ pháp bắt đầu với tứ pháp về các lậu hoặc (āsava) <348.4>. Lại có mười lăm ngũ pháp bắt đầu với hạ phần kiết sử (orambhāgiya-saṃyojana) <348.22>. Có mười bốn lục pháp bắt đầu với căn tranh căi (vivādamūla) <349.1>. Lại có bảy thất pháp bắt đầu với các tuỳ miên (anusaya) <349.8>. Có tám bát pháp bắt đầu với các phiền năo sự (kilesavatthu) <349.12>. Chín cửu pháp bắt đầu với các hiềm khích sự (āghātavatthu) <349.17> có bảy thập pháp bắt đầu với các phiền năo sự (kilesavatthu) <349.22>. Sáu thập bát pháp bắt đầu với ajjhattikass’ upādāya aṭṭhārasa taṇhāvicaritāni <349.26> (“mười tám cách ái dục nương nội phần”). Như vậy toàn bộ số lượng gồm tám trăm lẻ một phiền năo [2] được đưa ra.

2314. Ở vị trí đầu tiên đây chính là cách phân định theo những ǵ được tŕnh bày.

B . MÔ TẢ (Niddesa)

(a) Các Đơn Pháp.

2315. Đến đây liên quan đến phần mô tả bắt đầu với các từ Tattha katamo Jātimado? <350.1> (“về điểm này, kiêu hảnh về sanh chủng mang ư nghĩa ǵ vậy?”) v.v... theo những ǵ đă được đưa ra trong lộ tŕnh, jātiṃ paṭicca <350.2> (“do bởi sanh chủng”) có nghĩa là tùy thuộc vào sanh chủng. Và ở đây ta có đặc tính định thời gian ở hiện tại (atthipaṭiccaṃ)[3] được giải thích. Chính v́ thế “khi sanh chủng xuất khởi” là ư nghĩa ở đây.

2316. Liên quan đến gottaṃ paṭicca <350.6> (“do bởi [ xuất khởi] từ gia tộc, v.v... phương pháp cũng hoàn toàn giống nhau.

2317. Mado <350.2> (“kiêu hảnh”) giống như một chất gây nghiện (madanaka); majjanā (“t́nh trạng gây nghiện”) là một cách gây nghiện (majjanākāra); majjitattaṃ (“đặc tính gây nghiện”) là trạng thái gây nghiện (majjitabhāva).

2318. Māno maññanā (“kiêu mạn, thái độ ngă mạn”) v.v... có ư nghĩa như đă khẳng định trong tập chú giải Dhammasaṅgaha (xin đọc Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Asl) 758)

2319. Ayaṃ vuccati <350.4> (“ta gọi điều này là”): khi sanh chủng xuất khởi như vậy, th́ kiêu mạn diễn ra như là một t́nh trạng gây nghiện tùy thuộc vào sanh đó ta gọi là “kiêu hảnh.” Điều này xuất hiện [dựa trên cơ sở] bốn đẳng cấp bắt đầu là (đẳng cấp) Sát Đế Lợi. V́ người nào sanh ra cũng tự cho ḿnh là kiêu mạn như vậy: “ Chẳng có người nào thuộc đẳng cấp Sát Đế Lợi giống như ta đâu; những người khác được sanh ra thuộc đẳng cấp Sát Đế Lợi xuất hiện trong cùng một thời gian như vậy. Nhưng ta thuộc đẳng cấp Sát Đế Lỵ xuất hiện trong ḍng tộc. Đối với các vị brahman.v.v... cũng như vậy.

2320. Và cũng liên quan đến cách mô tả về “kiêu hảnh, về gia tộc” (gottamada) v.v... ở đây ta nên hiểu theo những nghĩa này. [466] V́ một Sát Đế Lợi tự nuông chiều với tính kiêu mạn như vậy: “Ta thuộc gia tộc Koṇḍañña; ta thuộc gia tộc Ādicca” và một brahman tự kiêu mạn như sau: ta thuộc gia tộc Kassapa, ta thuộc gia tộc Bhāradvāja”, và cả vessa và sudda từng người một cũng tỏ ra kiêu mạn về ḍng dơi gia đ́nh và gia tộc của chính ḿnh như vậy; và cả những người thuộc mười tám phường hội khác cũng tỏ ra kiêu mạn như : ‘Ta sanh ra trong phường hội này phường hội nọ.”

2321. Và liên quan đến “kiêu hảnh về sức khoẻ (ārogyamada) v.v... tính kiêu mạn nổi lên như là đặc tính kiêu hảnh như sau: Ta rất khoẻ mạnh; những thứ dân c̣n lại đều bệnh hoạn ốm yếu; ta chẳng bệnh tật ǵ ngay từ lúc c̣n uống sữa ḅ (mới sanh). Ta gọi là “kiêu hảnh về sức khỏe.” Tính kiêu mạn nổi lên như là một đặc tính kiêu hảnh như sau: “Ta c̣n trẻ khoẻ, những người khác giống như một cây mọc trên vách núi, nhưng ta c̣n đang trong giai đoạn đầu của “cuộc sống”, ta gọi đó là “kiêu hảnh về thanh niên” (yobbanamada). Tính kiêu mạn nổi lên như là một đặc tính kiêu hảnh như sau: Ta sống rất thọ, ta đang sống rất thọ và ta sẽ c̣n sống rất thọ, ta đă sống rất hạnh phúc; ta gọi đó là “ kiêu hảnh về cuộc sống (jīvitamada). Tính kiêu mạn nổi lên như là đặc tính kiêu hảnh như thế này: Ta là một trong số những người có tài sản lớn (giàu có), ta gọi đó là “kiêu hảnh về lợi lộc” (lābhamada). Tính kiêu mạn này nổi lên như thế này: “Bất kỳ điều ǵ các chúng sanh khác có thể chiếm được ta đều có cả; ta có được những nhu cầu thiết yếu về áo mặc, v.v... được may rất khéo và tốt nhất”, ta gọi đó là kiêu hảnh về quyền cao chức trọng (sakkāramada). Tính kiêu mạn đó nổi lên như thế này: Người ta đang tiến thành thương mại hóa ngay trên lưng các vị Tỳ khưu, họ không tỏ ḷng tôn kính [các vị đó nghĩ rằng: Đây là một vị ẩn sĩ nhưng họ lại tỏ ḷng tôn kính ngay khi vừa nh́n thấy ta; họ nghĩ ta phải được đối xử có trọng lượng như thể một chiếc dù làm bằng đá và khó ḷng tiến lại gần ta như thể một đám lửa to; ta gọi điều đó là kiêu hảnh nơi ḷng kính lễ.” (bahukāramada).

2322. Tính kiêu mạn nổi lên như một thứ kiêu hảnh như sau: “Khi người nào đó nêu lên một vấn đề ǵ, chỉ có sự lănh đạo của ta vấn đề mới được giải quyết (chijjati). Khi ra đi khất thực, các Tỳ khưu chỉ được làm thế, khi nào có ta dẫn đầu và họ (Tỳ khưu) phải vây quanh ta mà thôi”, ta gọi đó là “kiêu hảnh về sự tôn vinh” (purekkhāramada). Tính kiêu mạn đó nổi lên như thế này: “Trước tiên trong tư thế người đời ta có hàng trăm hàng ngàn đệ tử theo hầu, nhưng khi xuất gia sống cuộc sống vô gia cư, ta lại có hàng trăm hàng ngàn ẩn sĩ làm đệ tử ta. Những vị khác hầu như có rất ít người nhận làm đệ tử, ta vừa có một đám đồ đệ đông đảo và c̣n là một đám đệ tử tinh luỵên; ta gọi đó là “kiêu hảnh về đồ đệ” (parivāramada). Nhưng cho dù những của cải ta sở hữu (bhoga) được liệt kê vào số tài sản (lābha), tuy nhiên những tài sản này lại được liệt kê ngay trong lúc này giống như một kho dự trữ; chính v́ thế tính kiêu mạn này nổi lên giống như một kiêu hảnh như thế này: Các chúng sanh khác chẳng có đủ của cải ngay cả những nhu cầu cho chính ḿnh; nhưng sự giàu có của ta thật bao la vô hạn định; ta gọi đó là “kiêu hảnh nơi của cải.” (bhogamada).

2323. [467] Vaṇṇaṃ paṭicca <350.9> (“do màu da”): do màu da thân thể và màu sắc nơi các giới đức. Tính kiêu mạn nổi lên như là đặc tính kiêu hảnh như thế này: “Các chúng sanh c̣n lại có màu da xấu xí khó coi, nhưng ta rất xinh xắn và dễ thương. Các chúng sanh c̣n lại chẳng có chút giới đức cũng như tiếng tăm ǵ,[4] cũng chẳng nổi tiếng chút nào cả, nhưng danh tiếng của ta thật quá rơ ràng cả nơi chư thiên lẫn nơi con người. Như vậy: đó là vị Trưởng Lăo đó (là ta) có đa văn, là người có giới đức, là người đă cống hiến hết ḷng cho việc kiến tạo các ân đức đầu đà,ta gọi điều này là kiêu hảnh do màu da” (vaṇṇamada).

2324. Tính kiêu mạn nổi lên như một kiêu hảnh như thế này: “Hạng người c̣n lại có trí quá thấp kém, nhưng ta có trí đa văn”, ta gọi điều này là “kiêu hảnh về học vấn” (sutamada). Tính kiêu mạn nổi lên như là một kiêu hảnh như thế này: “Những hạng người c̣n lại có trí thông minh rất thấp , nhưng trí thông minh của ta thật vô giới hạn.” Ta gọi đây là kiêu hảnh về biện tài” (paṭibhānamada). Tính kiêu mạn đó nổi lên như là một kiêu hảnh như thế này: ‘Ta có trí về nhiều thứ đêm trường[5]; ta biết rơ cách phân chia ngày cũng như đêm và các cḥm sao và thời điểm được coi như ḍng dơi của Đức Phật này, Đức Phật nọ sẽ xuất hiện; ḍng dơi của vị hoàng thượng này nhà vua kia; lịch sử của quốc gia này quốc gia nọ,[6] lịch sử của làng mạc này làng mạc kia” ta gọi đây là kiêu hảnh về lăo thành” (rattaññumada). Tính kiêu mạn nổi lên như là một kiêu hảnh như thế này: Các vị Tỳ khưu c̣n lại đă trở thành khất sĩ không liên tục, nhưng ta tự “bẩm sanh” (có nghĩa là, tự nhiên) đă là một vị khất thực tài ba; ta gọi đây là tính kiêu hảnh của một vị khất thực” (piṇḍapāṭikamada). Tính kiêu mạn nổi lên giống như một kiêu hảnh như thế này: ‘Các chúng sanh c̣n lại bị coi khinh, khinh miệt; nhưng c̣n ta[7], ta chẳng bị ai khinh miệt bao giờ, ta gọi đây là kiêu hảnh về danh dự.” (anavaññātamada). Tính kiêu mạn đó nổi lên như thế này: ‘Thái độ của các chúng sanh c̣n lại thật khó chịu, c̣n thái độ của ta hoàn toàn dễ chịu.” Ta gọi đây là “kiêu hảnh về oai nghi” (iriyāpathamada). Tính kiêu mạn này nổi lên giống như một kiêu hảnh như thế này: Những chúng sanh khác giống như những con quạ cụt cánh; nhưng ta lại rất thành công và đầy quyền lực, hoặc như thế nầy: Bất kỳ công việc nào ta thực hiện đều dẫn đến thành công cả; ta gọi đây là “kiêu hảnh nơi thành công” (iddhimada.)

2325. “Tiếng tăm” (yasa) được liệt kê bằng bao gồm cả “các đồ đệ” (parivāra). Nhưng trong ví dụ này tiếng tăm lại được coi như tính kiêu mạn v́ có nhiều cổ động viên. Việc giải thích ở đây được áp dụng cho cả những cận sự nam và cho cả các vị xuất gia sống đời vô gia cư. Đối với một người thường dân làm thủ lănh một hội phường nào đó trong số mười tám hội [nghĩ rằng:] “Ta có thể cắt cử và thuyên chuyển bất kỳ ai một cách dễ dàng” và một số vị xuất gia đi tu trở thành Trưởng lăo nơi nào đó [cũng có suy nghĩ:] “Toàn bộ các vị Tỳ khưu đều phải thực hiện chỉ thị của ta; ta là thủ lănh. Tính kiêu mạn đó nổi lên giống như một kiêu hảnh như vậy ta gọi là kiêu hảnh nơi tiếng tăm “danh tiếng”. (yasamada).

2326. Tính kiêu mạn nổi lên giống như một kiêu hảnh như thế này: “Các vị Tỳ khưu c̣n lại có ác hạnh; nhưng ta lại có giới hạnh”, ta gọi đây là kiêu hảnh về giới đức (sīlamada). Tính kiêu mạn nổi lên giống như một kiêu hảnh như sau: Các chúng sanh c̣n lại không có nhất hành tâm trong một thời gian không lâu bằng thời gian “con gà uống nước”; nhưng ta th́ không, ta có khả năng nhập cận hành định và an chỉ định kéo dài vô tận [468] ta gọi đây là “kiêu hảnh về thiền định” (jhānamada). Tính kiêu mạn đó nổi lên giống như một kiêu hảnh như thế này: ‘Các chúng sanh khác chẳng có nghề nghiệp ǵ cả, nhưng ta lại có nghề nghiệp đàng hoàng, ta gọi điều này là kiêu hảnh nơi ngành nghề sinh sống (sippamada). Tính kiêu mạn nổi lên giống như một kiêu hảnh như thế này: Các chúng sanh khác th́ lùn tịt, c̣n ta cao ráo bảnh trai, ta gọi điều này là tính kiêu hảnh nơi quá tŕnh phát triển (ārohanamada). Tính kiêu mạn nổi lên như một kiêu hảnh như thế này: Các chúng sanh khác hoặc quá cao hay thấp quá, nhưng ta th́ hoàn toàn cân đối trông tựa như thân cây chuối vậy, ta gọi điều này là kiêu hảnh nơi số đo thân h́nh người (pariṇāhamada). Tính kiêu mạn nổi lên giống như một kiêu hảnh như thế này: Thân h́nh các bá tánh c̣n lại hoàn toàn mất cân đối, chẳng có h́nh thù ǵ cả, nhưng thân h́nh của ta rất dễ coi và dịu dàng, ta gọi điều này là tính kiêu hảnh nơi thân h́nh (saṇṭhānamada). Tính kiêu mạn nổi lên giống như một kiêu hảnh như thế này: Thân h́nh các chúng sanh c̣n lại th́ đầy lỗi phạm, nhưng thân thể của ta chẳng t́m đâu ra ngay cả chỉ một cọng tóc cũng không thể chê vào đâu được, ta gọi đây là tính kiêu hảnh nơi đặc tính vẹn toàn (pāripūrimada).

2327. Sau khi đă đưa ra ư nghĩa bằng cách giải thích rất nhiều ví dụ điển h́nh nhằm giải thích tính kiêu mạn như là một căn bản. Giờ đây ngài lại nói như sau Tattha katamo mado? <350.17> (“về điểm này, kiêu hảnh là ǵ vậy?”) v.v... chỉ bằng cách chứng tỏ tính kiêu mạn không tạo căn bản, điều đó sẽ trở nên rơ ràng.

2328. Trong phần mô tả từ Pamāda <350.21> (“tính dễ duôi”), cittassa vossaggo <350.23> (“tính buông thả tâm”) đó là việc buông thả tâm mà không kiềm chế bằng chánh niệm (mindfulness) liên quan đến một số ví dụ điển h́nh ta vừa nêu trên. “Thiếu chánh niệm” chính là ư nghĩa ở đây. Vossaggānuppadānaṃ (“duy tŕ tính cẩu thả”) = vossaggassa anuppadānaṃ; “luôn luôn chịu thua” là ư nghĩa muốn nói đến ở đây.

2329. Asakkaccakiriyatā <250.24> (“bất cẩn trong hành động”) là hành động bất cẩn thông qua hành động không cẩn thận hoặc về phía con người [hành động] hoặc cả trong thực hiện công việc được giao cho, trong tu tập những pháp thiện bắt đầu bằng thực hiện bố thí. Một pháp liên tục (satata) chính là đặc tính kiên tŕ (sātacca); một pháp không liên tục chính là đặc tính bất kiên định vậy asātaccakiriyatā <350.25> (“bất kiên định trong hành động=na sātaccakiriyatā”). Anaṭṭhitakiriyatā (không hoàn tất trong hành động) = anaṭṭhitakaraṇaṃ. Giống như một con tắc kè bông thực hiện được một khoảng cách ngắn và lại dừng lại một chút và không tiến tới liên tục, tuy nhiên chính v́ thế cứ một người mỗi ngày thực hiện một của bố thí hay cúng lễ một lần hay lắng nghe pháp hay thực hiện công việc một sa môn và thực hiện liên tục trong một thời gian dài và không theo đuổi liên tục như vậy, ta gọi hành vi đó là “hành vi chưa hoàn tất”. Olīnavuttitā (“thói quen tŕ trệ”): Tức là thói quen chậm chạp do thiếu tính hoạt bát ta gọi là hành động liên tục. Nikkhittachandatā <350.26> (loại bỏ tính ước vọng”): pháp diệt trừ mất tính ước vọng do cố gắng liên quan đến các hành vi thiện. Nikkhittadhuratā (“loại bỏ trách nhịêm của chính chúng ta”) loại bỏ trách nhiệm cố gắng “rút lui không tập trung tâm” chính là ư nghĩa muốn nói đến ở đây. [469]

2330. Anadhiṭṭhānaṃ <350.27> (“không quyết tâm”): thiếu cương quyết trong việc thực hiện những điều thiện. Ananuyogo (“không tận t́nh”)= ananuyuñjanaṃ. Pamādo (“dễ duôi, lơ đễnh”) = pamajjanaṃ. Yo evarūpo pamādo (“loại cẩu thả như vậy chính là”): điều này chính là nhằm chứng tỏ chất lượng [hay tính dễ duôi nói chung] như thể không có kết thúc [khi ta giải thích điều này] bằng cách nêu ra ư nghĩa hay viết ra bằng từ. Đây chính là điều được đề cập đến; tính dể duôi lơ đễnh này đă được chứng tỏ cho thấy bắt đầu ngay từ lúc đầu [chương này] và tính dể duôi khác thuộc loại hành tướng này, được coi như hành vi lười biếng (pamajjanā) bằng cách là một trạng thái biếng nhác và được coi như là đặc tính chây lười (pamajjitatta) do hiện trạng lười biếng mà ra, ta gọi đây là “tính dể duôi” (pamāda). Nhưng trong phạm vi trạng thái dể duôi có trạng thái buông thả chánh niệm liên quan đến năm sợi dây dục lạc, ta nên hiểu như là hành tướng bỏ qua chánh niệm trong cùng một khía cạnh đó.[8]

2331. Trong phần mô tả về đặc tính cương ngạnh, thambho <350.31> (“đặc tính cương ngạnh”) có nghĩa là trở nên cứng (thaddha); ở đây ta thấy có việc cứng ḷng, giống như miếng vải do bột làm cho cứng lại, đó là điều được giải thích.[9] Pháp cứng rắn chính là thambhanā (“trở nên cứng nhắc”). Pháp cứng nhắc chính là thambhitattaṃ (“cứng cỏi”). Pháp của một người cứng nhắc ta gọi là kakkhaḷiyaṃ (“bướng bỉnh”). Hiện trạng một con người thô thiển chính là phārusiyaṃ <350.32> (“đặc tính thô thiển”). Hiện trạng tâm được giữ cho ngay thẳng, chính trực (uju) do không phù hợp với việc kính trọng đối với những người xứng được kính trọng như là chào hỏi v.v... lại là ujucittatā (“t́nh trạng cứng cỏi tâm tánh.”). hiện trạng của một người tỏ ra cứng nhắc và không mềm dẻo uyển chuyển lại là amudutā (“không nhu mỳ”). Ayaṃ vuccati “ta gọi đó là”): ta gọi điều này là cương ngạnh (thambho). Một con người có đặc tính này giống như một con măng xà nuốt được cả một chiếc lưỡi cày, hay giống như một chiếc ống bễ chứa đầy gió bên trong; khi chứng kiến một ngôi chùa hay các vị niên trưởng th́ con người này không thể cúi ḿnh để giữ lấy vị trí của ḿnh và ta nên hiểu điều này như là một hiện trạng tâm được bơm đầy khí bên trong như là đặc tính cá biệt vậy.

2332. Trong phần mô tả về đấu tranh, [10] sārambho <350.34> (“đấu tranh”) chính là nhờ hành vi tranh đua (Sārambhanā). Tranh đua bằng chống đối, chống lại (paṭippharitvā) chính là paṭisārambho (“cách đấu tranh chống lại”). Hiện trạng ganh đua là sārambhanā (“thái độ ganh đua”) một hành vi ganh đua nhờ điều đấu tranh chống lại, lại là paṭisārambhitattaṃ <350.35> (“việc tranh giành đối kháng lại”). Ayaṃ vuccati (“ta gọi đây là”) : ta gọi điều này là “đấu tranh”.

2333. Về trạng thái, ta có thể khẳng định rằng đấu tranh đó có trạng thái làm hơn người (karaṇuttariya) (đọc MA i 170). Người nào có được điều đó th́ làm mọi việc gấp hai lần hơn [bất kỳ người nào khác : với tư cách là một cận sự nam. Khi một căn hộ được một người sửa sang lại, một người khác có thể làm gấp đôi, người khác làm gấp bốn lần, người khác lại làm gấp tám lần, hoặc giả c̣n có người khác lại làm gấp mười sáu lần. Với tư cách là một người xuất gia đi tu, khi một người học hỏi một bộ Kinh Phật (nikāya), [nghĩ rằng:] Tôi sẽ không thua kém người đó. Người khác có thể học gấp hai lần, người khác gấp ba, người khác gấp bốn, người khác lại học gấp năm lần. Ta không được phép học một bộ Kinh Phật được thúc đẩy bằng ganh đua, [470] đó là khía cạnh bất thiện và cũng là con đường dẫn đến hoả ngục; tuy nhiên ở góc độ thiện, khi ta được cung cấp vé cho một phần phát chẩn thực phẩm, th́ cũng được phép cung cấp hai phần và khi ta được phép lănh hai phần th́ cũng được phép lănh đến bốn phần, và khi Bộ Kinh Phật được một vị Tỳ khưu khác học, th́ cũng được phép làm vượt hơn thế, giữ phần dừng lại. Đối với một người học và tụng hai bộ Kinh Phật, [nghĩ rằng: điều đó làm ta hài ḷng

2334. Trong phần mô tả về aticchatā <350.36> (“ước muốn thái quá”) v.v... thay v́ coi điều đó như trong tập chú giải[11] về kinh Ariyavaṃsa (A ii. 27; Chú Giải Tăng Chi Bộ iii. 45 tt) ư nghĩa của từ itarītara <350.37> (“bất kỳ”) hiểu theo nghĩa thua kém rất nhiều (lāmaka-lāmaka), ở đây ta ám chỉ đến một người không tri túc (asantuṭṭhassa) về bất kỳ điều ǵ có được kể từ y cà sa v.v... hoặc đối với một người đời thường không hài ḷng về bất kỳ điều ǵ người đó có được từ những cảnh sắc cho đến cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị và những cảnh xúc. Bhiyyokamyatā <350.37> (“ước muốn có nhiều hơn nữa”): ước muốn có được điều đặc biệt. Icchā <351.1> (“ước ao”) bằng cách ước muốn có được, hành động ước muốn lại là icchāgataṃ(“phạm vi ước ao”) hay là một trạng thái ước muốn, thái độ ước muốn thái quá về lợi lộc của chính ta là aticchatā (“ước muốn thái quá”). Rāgo (“tính tham lam”) v.v... có ư nghĩa như đă được khẳng định ở trên. Ayaṃ vuccati <351.2> (“ta gọi điều này là”) : ta gọi điều này là ước muốn thái quá. Atricchatā[12] là tên gọi cùng một thứ như vậy.

2335. Nhưng về trạng thái, không tri túc về tài sản của chính ḿnh và ước muốn của cải của tha nhân là trạng thái của ước muốn thái quá. V́ đối với một người có ước muốn thái quá (atricchapuggala), và ngay cả nếu như điều ǵ có được do chính tài sản của ḿnh lại dồi dào hơn, th́ h́nh như người đó vẫn cảm thấy khổ sở và ngay cả nếu như điều người khác có được lại khốn khổ như: cháo hoa hay cơm hay bánh được lấy ra cùng một đồ đựng h́nh như lại khốn khổ khi được để vào bát khất thực của chính người đó và tỏ ra hơn hẳn nếu lại được đặt vào bát khất thực của vị sư khác, nhưng cả những ai xuất gia đi tu và người đời thường lẫn súc vật đều có ước muốn thái quá này (atricchatā). Có một số chuyện kể về điểm này như sau.

2336. H́nh như có một nông gia kia đă mời ba mươi Tỳ khưu ni đến nhà và bố thí cho họ cơm và bánh ngot. Vị Trưởng lăo Tỳ khưu ni (saṅghatherī) lấy bánh đặt vào bát khất thực của từng Tỳ khưu ni một và chỉ sau đó ngài mới dùng phần của ḿnh được lănh.

2337. Cũng lại xảy ra là nhà vua thành Benares đi du ngoạn trong rừng cùng với hoàng hậu lại ăn thịt nướng trên than. Vừa nh́n thấy một kinarī[13](một người phụ nữ sống trong rừng) nhà vua liền bỏ hoàng hậu lại và đuổi theo nàng ta. Hoàng hậu quay trở về và nhập cung an dưỡng, tại đó hoàng hậu đă thực hiện một số việc sơ đẳng cho đề mục thiền hoàn tịnh (kasiṇa), hoàng hậu đă chứng đắc tám thiền chứng và năm thắng trí và khi hoàng hậu c̣n ngồi thiền th́ nàng nh́n thấy nhà vua tiến tới, Hoàng hậu liền bay bổng lên trời và ra đi nơi khác. Vị chư thiên là thần cây đă thốt lên đoạn kệ sau:

“ Ước muốn điều này điều kia (atr icchaṃ)
 trong ḷng tham ái cùng dục lậu
 hành vi đó đánh mất của chính ḿnh,
giống như t́m Canda Asitābhū lại để mất
(J ii 231; xin đọc thêm UdA 227)

[471] Vị chư thiên đă diễu cợt nhà vua như sau: Chỉ v́ muốn t́m kiếm nàng Canda lại bỏ mất công chúa Asitābhū. Chính v́ thế ước muốn điều này lại để mất chính ḿnh.

2338. C̣n nữa, vào thời Phật tổ Kassapa, có người con trai của một người phú hộ kia tên là Mittavindaka, ông là người không có đức tin và cũng chẳng tin tưởng vào điều ǵ cả. Khi mẹ cậu gọi lại bảo chàng mà rằng: ‘Con yêu, hăy giữ ngày bát quan trai và đi chùa và hăy chăm chú nghe Pháp cả đêm rồi mẹ sẽ cho con một ngàn đồng [tiền bạc]. Cậu ta thực hiện các bát quan trai do ḷng tham muốn tiền bạc và cậu ta đă đến một thiền viện, đang khi suy tính trong ḷng là nơi đó chẳng có ǵ là ghê gớm đáng sợ cả. Cậu nằm dài xuống dưới bục thuyết pháp, sau khi đă ngủ tại đó suốt đêm, cậu về nhà vào buổi sáng tinh sương, mẹ cậu đă nấu cháo và đem đến cho cậu ăn. Cậu con trai nhận một ngàn đồng tiền bạc và húp hết tô cháo. Thế rồi cậu ta lại nghĩ cách kiếm thêm tiền và muốn ra đi biển một chuyến. Mẹ cậu nói: Con yêu, gia đ́nh ta có đủ số tiền lên đến bốn mươi Kotis. Đủ rồi! Hăy bỏ ư định ra đi!” cậu ta không thèm nghe theo lời người mẹ và quyết ra đi. Mẹ cậu đứng ngay trước mặt cậu ta. Thế rồi cậu tỏ ra tức bực với mẹ nghĩ rằng: ‘Mẹ đang cản mũi kỳ đà con đó.” Thế rồi chàng đá mẹ một cú khiến mẹ nằm sóng xoài trên sàn nhà và ra đi. Mẹ chàng đứng dậy và nói: ‘Con trai ơi, liệu con có tin[14] rằng nơi con tới đó có đem lại hạnh phúc cho con không mà con lại ra đi sau khi đă thực hiện một hành vi nghiệp như vậy với người mẹ ḿnh là ta đây?’ Khi cậu con trai đă xuống tàu và ra khơi. Vào ngày thứ bảy th́ tàu không thể tiếp tục cuộc hành tŕnh được nữa. Thế rồi những người trên tàu nói: ‘Chắc phải có một người xấu đang đi trên tàu của chúng ta thôi. Hăy bắt thăm xem trúng ai.” Khi bắt thăm, cậu con trai bắt trúng đến ba lần, những người trên tàu đưa cho cậu ta một chiếc mảng và quẳng cậu xuống biển. Cậu ta giạt vào một ḥn đảo và sau khi cậu ta đă hưởng vui thú với các vị thần tại một toà nhà sang trọng (vemānika-peti). Các yêu quái liền đứng trước cậu ta. Sau khi hai lần nh́n thấy quá nhiều châu báu trong kho cậu ta lại lên đường và cuối cùng nh́n thấy một người đội một bánh xe sắt (razor?). Đối với cậu th́ bánh xe sắt xuất hiện giống như một đoá hoa sen. Chàng liền nói với hắn ta: Hỡi ông bạn, hăy cho ta đóa hoa nhà ngươi đang đeo làm đồ trang sức’; đây không phải là hoa sen đâu thưa ngài, đây là một con dao cạo, chàng liền nói: Nhà ngươi đánh lừa ta hả! Ta chưa bao giờ nh́n thấy một đóa sen hay sao? chàng tiếp tục nói: ‘Nhà ngươi không muốn cho ta đóa hoa sen đó làm đồ trang sức, sau khi đă bôi bẩn bằng đôi dép màu đỏ (sandal) phải không?’ [Thế rồi người kia nghĩ rằng:] “người này đă thực hiện một hành vi nghiệp giống như điều ta đă làm và lại muốn cảm nghiệm quả chăng.” Rồi chư thiên lên tiếng nói rằng: ‘Thôi được rồi!’ [472] Người đó đặt bánh xe sắt lên đầu Mittavindaka rồi bỏ trốn. Chính v́ nhận ra được ư nghĩa câu chuyện mà đạo Sư (Đức Phật) đă thốt lên đoạn kệ sau đây:

Được bốn lại tăng lên tám.
Và tám trở thành mười sáu.
Rồi mười sáu lại muốn ba hai
Chàng nhận bánh xe do quá ước ao.
Nên bánh xe đă quay tṛn trên đầu
Của con người do ước muốn thái quá
 (J. I 414, iii 207, iv 4; Chú Giải Trường Bộ Kinh (DA) iii 996; Chú Giải Tăng Chi Bộ I 120; UdA 227).

2339. Có một người khác do ước muốn thái quá[15] đă rời khỏi địa phương ḿnh và đi đến một nơi rất xa. Tại trú xứ mới người đó đă bị đánh đập và đă phải bỏ chạy. Chàng chạy vào trú xứ của một vị sa môn và sau khi đă thực hiện bát quan trai, chàng ta liền nằm xuống, khi vị sa môn hỏi: ‘Nhà ngươi đă làm ǵ nào?’ Chàng ta trả lời bằng đoạn kệ như sau:

Do ước muốn thái quá ta khinh miệt trú xứ của ta.
Rồi bỏ đi và đến vùng Malaka
[16]
Cư dân tuôn ra từ ngôi làng cư trú.
Túm được ta, dùng gậy gộc họ đánh ta túi bụi
Bể cả đầu và rướm máu chân tay
Ta trở lại trú xứ nơi ta ở cũ
Do vậy ta đă giữ bát quan trai
Hầu tránh rơi vào ước muốn thái quá.
(J. iv. 331)

2340. Trong phần mô tả về mahicchatā <351.3> (“đa dục”). ”ngài ước muốn những điều to lớn” hay “ ước muốn của ngài to lớn” chính là “một người có ước ao vĩ đại” (mahiccho), hiện trạng của ngài chính là “đặc tính ham muốn nhiều” (mahicchatā). Nhưng xét về trạng thái, việc tầm cầu những hành tướng phi hữu và thiếu trí về một lượng đúng đắn trong việc chấp nhận và sử dụng là trạng thái của đa dục. Giống như một người bán hàng rong, cầm những món hàng trang điểm với tay của ḿnh, đặt tay trên đùi và cân nhắc điều ǵ thích hợp được để vào đó. Ngài nói với đám đông đang dơi mắt nh́n ngài: “Hỡi bạn thân yêu, hăy lấy điều này, điều nọ”, dùng miệng mà chia ra từng phần.” Tuy nhiên một người có tham muốn thái quá thường cổ vũ đám đông để họ biết giới đức của ḿnh hay những học vấn hay ân đức đầu đà (ngay cả nếu như những ân đức này lại vô cùng ít ỏi). Ngay sau khi đă lưu lại trong rừng trong một thời gian ngắn và sau khi đă động viên, sau khi những đồ thiết yếu đă được chở đến hàng xe thay v́ nói: “Đủ rồi!”. Ngài đă nhận tất cả. V́ có ba điều không thể nào lấp đầy đó là: dầu đổ vào lửa, nước đổ xuống đại dương, và ước muốn có nhiều đồ thiết yếu của ta vậy.

Một đám cháy lớn, một đại dương và con người ước ao quá nhiều. Cho dù biết bao nhiêu đồ thiết yếu được mang tới, song chẳng bao giờ lấp đầy được cả ba[17].

[473] Đối với một con người ước muốn quá nhiều không thể chấp nhận số lượng quá ít ngay cả từ phía mẹ ḿnh đă hạ sanh ra chính ḿnh. Hơn thế nữa biết bao nhiêu cho vừa nơi những người hỗ trợ cho người đó. Về vấn đề này có nhiều chuyện kể như sau.

2341. H́nh như một vị Tỳ khưu trẻ tuổi rất thích ăn bánh nướng. Sau khi đă thẩm tra thái độ của ngài, mẹ của ngài suy nghĩ: “Nếu con trai ta nhận ra được chỉ nên nhận một số lượng vừa đủ thôi, ta sẽ đem bánh ngọt đến cho con ta đủ dùng trong ba tháng liền và người mẹ liền thử con trai đúng vào Kỳ Nhập Kiết Hạ. Trước tiên người mẹ mang đến cho con trai một chiếc bánh ngọt; khi ăn hết chiếc bánh đó, một chiếc thứ hai được đem đến; khi chiếc thứ hai được dùng hết, một chiếc thứ ba lại được mang đến; thay v́ nói: “đủ rồi” Tỳ khưu lại ăn hết. Khi người mẹ khám phá ra rằng con trai của ḿnh không biết được mức độ thế nào là đủ, bà mẹ liền nghĩ: ‘Chỉ trong ngày hôm nay toàn bộ số bánh cho ba tháng con trai ta đă ăn hết. Và kể từ ngày thứ hai trở đi người mẹ đă không mang đến cho Tỳ khưu một chiếc bánh nào nữa.

2342. Hơn nữa, khi nhà vua Tissa đang thực hiện bố thí cho Tăng đoàn các vị Tỳ khưu tại Cetiyapabbata lương thực hàng ngày. Những cư dân trong vùng đó nói rằng: “Tâu bệ hạ, tại sao bệ hạ lại chỉ chọn có một nơi duy nhất? Tại sao bệ hạ không bố thí cho một nơi nào khác? Chính v́ thế vào ngày hôm sau nhà vua đă đem của bố thí tối đa đến cho thành phố Anurādhapura. Chẳng có bất kỳ vị Tỳ khưu nào nhận ra số lượng lương thực đủ dùng cả. Một vài người dân phải bỏ đi một số vật thực cứng hay mềm các vị đó đă nhận. Vào ngày hôm sau nhà vua cho mời Tăng đoàn các vị Tỳ khưu tại Cetiyapabbatta đến và khi các ngài đă tề tựu đông đủ tại hoàng cung nhà vua lên tiếng nói: “Hăy đưa bát khất thực cho trẫm” họ nói: ‘Tâu bệ hạ, điều bệ hạ truyền đă được thực hiện y lời, họ sẽ được nhận đồ khất thực Tỳ khưu tuỳ theo khả năng, và chẳng có bất kỳ vị Tỳ khưu nào đưa bát khất thực ra cho nhà vua. Tất cả các vị đó chỉ được nhận một số lượng vừa đủ. Sau đó nhà vua nói: ‘Các ngài thấy đó, các Tỳ khưu trong Tăng đoàn của ngài chẳng có vị nào biết số lượng lương thực đủ dùng cho chính ḿnh. Ngày hôm qua chẳng c̣n chút đồ nào c̣n lại cả, ngày hôm nay số lượng được bố thí cũng không nhiều lắm, nhưng cũng chẳng c̣n ǵ sót lại, nhà vua rất hài ḷng với các vị Tỳ khưu biết rơ lượng thực phẩm vừa đủ cho họ và ghét cay ghét đắng các vị khác không có chút hiểu biết ǵ về số lượng lương thực đủ dùng cho chính ḿnh.

2343. Trong phần mô tả về pāpicchatā <351.8> (“ác dục”) liên quan đến assaddho samāno saddho ti maṃ jano jānātu <351.9> (“do thiếu niềm tin[ngài ước rằng:] mong rằng dân chúng biết ḷng trung tín của ta”) v.v... một người ước muốn thái quá muốn được ǵ? Một người thiếu niềm tin chỉ muốn chứng tỏ khía cạnh ḿnh có ḷng tin mà thôi. Một người có ác hạnh.v.v... chỉ muốn chứng tỏ cho người khác thấy khía cạnh ḿnh có giới hạnh mà thôi v.v... Bằng cách nào vậy? Thoạt tiên, một người không có niềm tin, vào ngày đại lễ [18] khi đại chúng kéo đến chùa đông đủ, liền lấy chổi đi quét khắp nơi trong chùa. Ngài đổ rác và thu gom cho sạch sẽ; khi ngài nhận ra đại chúng đă nh́n thấy ngài làm như vậy rồi, ngài liền lên sân thượng và cũng tại đó, ngài cũng quét và đổ rác đi. Ngài san bằng các lối đi, lau ghế ngồi và rẩy nước lên cây Bồ Đề. Khi đại chúng đă chứng kiến thấy ngài làm như vậy, họ nghĩ: ‘Chắc hẳn không c̣n vị Tỳ khưu nào lại chăm sóc chùa giỏi hơn vị Tỳ khưu này th́ phải, chỉ có ḿnh ngài chăm sóc ngôi chùa mà thôi, ngài ắt phải là một vị niên trưởng đầy niềm tin; khi đến giờ ra về, họ đă mời ngài đến nhà dùng bữa và ra đi.

2344. [474] Cũng vậy có một vị với ác hạnh tiến lại gặp một vị thuộc nằm ḷng Tạng kinh trước sự hiện diện của các thí chủ cho nhà chùa và hỏi rằng: “ Khi tôi đang đi th́ con ḅ khiếp sợ và v́ đàn ḅ bỏ chạy trốn[19] như vậy gây đổ vỡ rất nhiều, khi tôi quét chùa, cỏ bị găy và v́ di chuyển lên xuống th́ gây cho nhiều sinh vật nhỏ phải chết. V́ tôi nhổ nước miếng bất cẩn, thế nên nước miếng rơi xuống cỏ, điều đó là ǵ vậy? Khi được báo cho biết: “Hỡi chư huynh, chẳng có lỗi ǵ nếu ta không cố ư, không chủ tâm và không hay biết khi làm điều đó, vị Tỳ khưu đó lên tiếng: Thưa ngài Trưởng lăo kính mến, đối với tôi điều đó th́ vô cùng nghiêm trọng, hăy cứu xét cẩn thận điều này. Nghe thấy như vậy, dân chúng nghĩ: “Người thánh đức này thật quá thận trọng, làm sao người này có thể làm điều ǵ tồi tệ được? Chẳng c̣n ai có giới hạnh tốt hơn Tỳ khưu này nữa đâu. Thế rồi dân chúng tin vào ngài và tỏ ḷng kính lễ ngài.

2345. Lại có người rất ít học thức ngồi giữa những thí chủ của ḿnh nói rằng: Các vị này vị nọ đă thuộc nằm ḷng Tam Tạng, các vị nọ vị kia lại am tường bốn Bộ Kinh tất cả họ đều là đồ đệ của ta. Chính nhờ có ta hướng dẫn họ đă học hỏi được những Bộ Kinh đó. Dân chúng suy nghĩ: “ Chẳng c̣n ai có kiến thức nhiều hơn vị Tỳ khưu này nữa và cũng dưới sự chỉ đạo của ngài nên những người này người nọ mới thông thạo pháp luật, và họ tin tưởng ở ngài và tỏ ḷng khâm phục ngài hết mực.

2346. Lại có người thích xuất hiện trước công chúng. Vào một ngày lễ lớn người đó lấy một chiếc ghế dài cùng với nệm thiền và ngài đă ngồi thiền suốt ngày dưới gốc cây trong khuôn viên ngôi chùa. Công chúng nh́n thấy và hỏi nhau: “ Vị Trưởng Lăo nào thế kia? V́ con cái của người giả h́nh th́ cũng giả h́nh[20] nốt, chính v́ thế đồ đệ của ngài lên tiếng nói: Vào thời điểm đó vị Trưởng lăo không ngồi thiền tại đó; ngài thường đi lại trong chỗ dành riêng cho ngài vào ban ngày trong khuôn viên chùa. Sau khi đă trải qua suốt ban ngày tại đó, Ngài đă lau mạng nhện bám trên trán ngài, và lấy ghế, ngài đă đến ngồi thiền ngay trước cửa căn pḥng riêng của ḿnh. Dân chúng lên tiếng nói rằng: “Thưa Trưởng lăo đáng kính, ngài đi đâu thế? Chúng tôi đến mà chẳng nh́n thấy ngài đâu cả? Ngài cho họ biết, ngài rất thích tĩnh mịch như thế này: “Hỡi cận sự nam, nội phần bên trong chùa quá đông người, đó là nơi dành cho các Sa di đi kinh hành và hành thiền. Chúng ta đến ngồi thiền tại nơi dành riêng cho chúng ta ngồi thiền vào ban ngày trong khuôn viên hành thiền rộng tới sáu mươi sải tay.’

2347. Lại có người ưa nhàn rỗi ngồi giữa các thí chủ mà nói rằng: ‘Hỡi chư vị cận sự nam, các ngươi có nh́n thấy ngôi sao xẹc kia không? Họ nói: “Thưa ngài Trưởng lăo đáng kính, chúng tôi chẳng nh́n thấy ǵ hết”, và khi được hỏi: “Vào lúc mấy giờ ạ? Ngài trả lời: “Vào thời điểm chúng tôi hành thiền đi lên đi xuống. Và ngài lại hỏi: “Các ngươi có nghe thấy tiếng động đất chưa?” Họ thưa lại, thưa Ngài Trưởng lăo kính mến, chúng tôi chưa từng nghe thấy bao giờ.” Khi được hỏi lại: “Vào lúc mấy giờ ạ? Ngài trả lời: Vào giữa canh nhất đó là lúc chúng tôi cất thiền đệm lên giá đỡ. Và ngài lại đưa ra câu hỏi: Có một luồng sáng chói, các ngươi có nh́n thấy chưa? Và khi họ hỏi lại ngài: Vào lúc mấy giờ ạ? Thưa Ngài Trưởng lăo kính mến. Ngài đáp lại: Vào thời điểm chúng tôi rời khỏi nơi hành thiền [475] dân chúng lại nghĩ: ngài Trưởng lăo của chúng ta đă hành thiền suốt ba canh đêm tại địa điểm hành thiền, chẳng có người nào nghị lực bằng ngài” Và họ đă tin vào ngài và kính lễ ngài.

2348. Laị có người kia hay thất niệm (hay quên) đang ngồi giữa nhóm các thí chủ và nói: Vào thời điểm đó ta đang nghiền ngẫm Trường Bộ Kinh; vào thời điểm này thời điểm nọ là Trung Bộ Kinh (Majjhima) Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyuttaka), Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttanikaya). Đang khi đó ta không cần phải nh́n vào sách, bất luận khi nào ta muốn, th́ bản văn xuất hiện trên môi miệng ta. Nhưng các vị Tỳ khưu khác kêu gộp gộp giống như cừu con, dân chúng nghĩ: “ Chẳng có vị nào lại nhập niệm chăm chú được như thiền sư của chúng ta, và họ đă tin vào ngài và tỏ ḷng kính lễ ngài.

2349. Lại có người không tập trung tư tưởng được đă đặt câu hỏi với thiền sư về các tập chú giải trước sự hiện diện của những thí chủ của ḿnh: “Làm sao có thể tu tập đề mục thiền kasiṇa? Vào giai đoạn nào th́ tướng xuất hiện? Vào thời điểm nào có cận hành định ? Vào thời điểm nào là giai đoạn an chỉ định ? Có bao nhiêu chi trong sơ thiền (Jhana)? Ở bậc hai, bậc ba,bậc bốn? Ngài mỉm cười khi thấy dân chúng giải thích theo như họ đă được học hỏi nơi ngài. Và khi dân chúng lên tiếng: “Hỡi chư huynh, chẳng phải vậy sao?” nói rằng: ‘Thưa Trưởng lăo kính mến, chẳng phải vậy sao.” ngài liền gợi ư nhẹ nhàng về việc ngài đă chứng đắc thiền chứng. Dân chúng liền nghĩ: Thiền sư là người đă chứng đắc thiền chứng và họ tin tưởng ở ngài và tỏ ḷng kính lễ ngài.

2350. Và lại có người v́ thiếu trí tuệ đang ngồi giữa các thí chủ của ḿnh và cho họ thấy ngài có học thông hiểu rộng bằng cách nói như sau: Khi ta đang nghiền ngẫm Trung Bộ Kinh (Majjhima) th́ có ba loại hư tưởng[21] ta đă đạt đến thánh đạo đó bằng những sức mạnh thần thông. Khả năng thông thạo kinh phật không khó khăn ǵ đối với ta cả. Nhưng người nào không chăm chú đọc Kinh và niệm [22] Phật th́ không được giải thoát khỏi đau khổ. Chính v́ thế chúng ta đă không chuyên tâm vào khả năng thông hiểu Kinh Phật nữa, v.v... nhưng người nào đă nói như vậy quả thật đă xúc phạm vào giáo pháp. Chẳng c̣n nguời nào lớn hơn (mahācora) người này nữa, v́ chẳng có thực chất nào cho thấy một người không thạo Kinh Phật lại không được giải thoát khỏi đau khổ cả.

2351. Và lại có người không đoạn tận các phiền năo, nh́n thấy những đứa trẻ trong làng [và hỏi chúng: “Cha mẹ các con nói về thầy ra sao?” Cha mẹ chúng con bảo thầy là một vị A-la-hán, thưa ngài Trưởng lăo đáng kính. Ngài nói: ‘Những chủ họ đó không thể sai lầm được; như vậy ngài làm ra vẻ ngài là một người đă đoạn tận mọi lậu hoặc nơi ngài.

2352. Và ở đây ta nên hiểu là một vị “A-la-hán trong b́nh” (cāṭi-arahanta), vị “A-la-hán cành cây” (pāroha-arahanta) v.v... Giống như một kẻ hay dùng mưu gian có một chiếc b́nh chôn trong pḥng của ḿnh. Vào thời điểm dân chúng kéo đến ngài đi vào trong pḥng, dân chúng hỏi: Ngài Trưởng Lăo đi đâu rồi? Khi được trả lời: Ngài vào pḥng của ngài rồi, họ liền kéo vào trong pḥng và kiếm ngài; không t́m thấy ngài, họ lại ra ngoài trở lại [478] và nói: Vị Trưởng lăo không ở trong pḥng; họ lại vào trong pḥng trở lại. Vị Trưởng lăo ra khỏi chiếc b́nh và ngồi trên giường. Và thế rồi khi người ta báo cho ngài: Trước đó chúng tôi đă đi t́m ngài song không nh́n thấy ngài, thưa ngài Trưởng lăo kính mến, và chúng tôi đă ra ngoài, ngài đi đâu vậy?” Ngài nói: “ Các vị Tỳ khưu có thể đi bất kỳ nơi nào họ muốn tới. Với những lời lẽ như trên h́nh như ngài muốn tỏ ra cho thấy ngài là người đă đoạn tận mọi lậu hoặc.

2353. Hay dùng một mưu gian khác lại cư trú tại một chiếc lều lá trên ngọn đồi và đàng sau chiếc lều lá đó có một cây kacchaka mọc trên vách đá. Một trong số các cành cây đó mọc vươn dài ra và đạt tới tận phần đất bên kia vách đá. Dân chúng đi ngang qua con đường đó và mời ngài: “Xin ngài cầm lấy bát khất thực và y cà sa.” Ngài liền trèo xuống khỏi cành cây và tự xuất hiện nơi cổng làng. Bởi vậy, khi dân chúng đi theo sau ngài lên tiếng hỏi ngài: Ngài tới từ con đường nào vậy, thưa ngài Trưởng lăo đáng kính? Ngài trả lời: thật không thích hợp để đặt câu hỏi các vị Tỳ khưu đi theo con đường nào mà tới đây được; các ngài có thể tới từ bất kỳ chỗ nào các ngài muốn.” Như vậy với những lời lẽ này, ngài làm ra vẻ đang trong t́nh trạng của những người đă đoạn tận mọi lậu hoặc. Nhưng một số người có tài tinh tế hơn (viddhakaṇṇa) đă nhận rơ người chủ mưu đó và nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ bắt gặp được ngài.’ Một ngày kia nh́n thấy ngài đang trèo từ cành cây tụt xuống. Người đó liền chặt phần cành đàng trước ngài chỉ chừa lại một phần ít [không chặt]. Nghĩ rằng leo xuống cành cây này, ngài sẽ té và sẽ làm bể bát khất thực làm bằng đất xét nung. Biết ḿnh đă bị lộ tẩy, người đó bỏ trốn mất.

2354. T́nh trạng một người ước muốn điều bất thiện là pāpicchatā <351.8> (“những ác dục”). Nhưng liên quan đến trạng thái ta nên hiểu như là trạng thái ác dục đó và làm ra vẻ ta có được những ân đức mà những người đó không thể có được và không có kiến thức về số lượng đúng đắn trong việc chấp nhận của bố thí.

2355. Trong phần mô tả về siṅga[23] <351.21> (“nham hiểm”), siṅga <351.22> (“nham hiểm”; nghĩa đen là “có sừng”) hiểu theo nghĩa có thể xuyên thủng qua (vijjhana). Đó chính là tên đặt cho phiền năo nham hiểm ta hay gọi là xảo quyệt. Hiện trạng xảo quyệt chính là siṅgāratā (“tính quỷ quyệt”) hay có thể là một hiện trạng quỷ quyệt. Hiện trạng của kẻ nào trở nên khôn lanh ta gọi là caturatā (“tinh quái”); cũng giống như cāturiya. Parikkhattatā (“xảo trá”) là hiện trạng một người ngồi gọn lỏn đây là tên gọi hiện trạng duyên dáng của một người nào đó như được nhốt kỹ tại một nơi có rành hào[24] bao quanh. Các từ khác chỉ là từ đồng nghĩa (pārīkkhattiya) với từ này mà thôi. Như vậy với toàn bộ các từ này tính tinh ranh được coi như là những phiền năo đă được diễn giải.

2356. Trong phần mô tả về tintiṇa <351.24> (“sự chiếm hữu”) tintiṇa <351.25> (“tính chiếm hữu”) chính là việc gây siểm nịnh (khīyana). Hiện trạng đang chiếm hữu lại là tintiṇāyanā (“đang bị chiếm hữu”) hiện trạng của một người nào đó đang được phú bẩm cho với đặc tính chiếm hữu, là người tham gia (ayita) vào việc chiếm hữu chính là tintiṇāyitattaṃ (“hiện trạng do tính chiếm hữu ảnh hưởng”). Hiện trạng của người nào tỏ ra ham lợi (lolupabhāva) lại là loluppa (“tính tham lợi”) hai chữ khác là cách mô tả trạng thái và hiện trạng này. [477] Pucchañjikatā <351.26> (“run lập cập”) là một thói quen hạ đẳng rung lắc và rung rẩy khi chiếm được điều ǵ đó hay không chiếm được. Sādhukamyatā (“muốn những điều tốt đẹp”) chính là chờ đợi mong mỏi những điều cao siêu. Như vậy thông qua toàn bộ các từ này hiện trạng gây siểm nịnh như là một phiền năo được diễn tả như sau: “Điều này của bạn, điều này của tôi”, giống như tiếng sủa của con chó đang chụp lấy bát cháo trong máng ăn nh́n thấy một con chó khác đang ŕnh rập.

2357. Trong phần mô tả cāpalya <351.28> (“chưng diện”)[25] việc trang điểm một chiếc y cà sa một cách ấn tượng và lố lăng nực cười là cīvaramaṇḍanā <351.29> (“trang điểm, làm đẹp y cà sa”) việc làm đẹp bát khất thực bằng cách phết lên đó một lớp phủ ngoài có màu sắc ngọc quí là pattamaṇḍanā (“làm đẹp bát khất thực”), làm đẹp chỗ ở của ḿnh với tranh ảnh, v.v... làsenāsanamaṇḍanā (“làm đẹp (trang điểm) nơi trú ngụ”). Imassa vā pūtikāyassa (“với thân xác thối tha này”): về thân nhân loại này, giống hệt như một con chó rừng ngay cả trước ngày sanh có một ngày, người ta vẫn gọi là “con chó rừng già” (“jarasigāla), và cây leo galoci, ngay cả khi thân h́nh to lớn bằng bắp chân, vẫn chỉ được gọi là “cây leo thối rữa” (pūtilatā), chính v́ thế thân xác con người ta, ngay cả được cẩn vàng ṿng óng ả, cũng vẫn chỉ là một “thân xác hay thối rữa”. Trang điểm thân xác này với các trang phục g&#