|
CHÚ GIẢI BỘ PHÂN TÍCH
Nguyên
Tác Pāli: Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG MƯỜI BỐN
PHÂN TÍCH CÁC
HỌC GIỚI A. CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO VI DIỆU PHÁP (a). Mẫu đề (Mātikā) 1905. [381] Giờ đây đến chương phân tích các học giới được tŕnh bày tiếp ngay sau đó. Pañca ,285.1> (“năm”) là cách phân loại số học. Sikkhāpadāni (“các học giới”) : Các giới luật cần phải được tu luyện; “các phần tu luyện” là ư nghĩa muốn nói đến ở đây. Hơn thế nữa, tất cả các pháp thiện được truyền xuống đến chúng ta trên hết vẫn là các “học giới” (sikkhā) v́ chúng ta nên tu luyện các học giới này. Nhưng bất kỳ yếu tố nào trong số năm chi giới làm căn bản (pada) đối với các học giới đó, hiểu theo nghĩa là nền tảng; như vậy v́ là nền tảng cho việc tu học (sikkhānaṃ- padattā), chúng đă trở thành những học giới nền tảng vậy. 1906. Pāṇātipātā (“[kiêng] không sát sanh”) : thoát khỏi tấn công (atipāta) và sát hại cuộc sống các sanh vật (pāṇa); [kiêng khỏi] sát sanh là ư nghĩa ở đây. Veramaṇi (“tránh xa”) : việc kiêng cữ (virati). Adinnādānā <285.2>(“không lấy của cải ǵ không thuộc về ḿnh”) = adinassa ādānā: “ kiêng không lấy điều ǵ của người khác.”) là ư nghĩa muốn nói ở đây. Kāmesu (“liên quan đến dục vọng”): liên quan đến dục vọng được coi như là những vật dục. Micchācārā (“[kiềm chế] khỏi tà hạnh”): [kiềm chế] khỏi tà hạnh thông qua phiền năo dục. Musāvādā <285.3> (“[kiềm chế] khỏi vọng ngữ”): có nghĩa là kiêng không nói những lời bất trung thực. 1907. Surāmerayamajjappamādaṭṭhānā <285.4>“ [kiềm chế] những nguyên nhân tạo nên dễ duôi uống rượu và chất say”): ở đây từ surā (“rượu”) gồm năm loại: rượu bột ḿ (piṭṭha), rượu làm từ bánh (pūva), rượu làm bằng gạo (odāna), có pha men rượu trong đó (kiṇṇa-pakkhitta) và rượu chưng cất (sambhārasampayutta). Meraya (“rượu mạnh”) cũng có năm loại đồ uống lên men (āsava): đồ uống lên men từ hoa (pupphāsava), đồ uống từ quả lên men (phalāsava): đồ uống lên men từ mật mía (guḷāsava), đồ uống từ mật lên men (madhāsava) và được chưng cất. Cả hai loại đồ uống này đều là Majja (“những chất say”) hiểu theo nghĩa chúng tạo ra t́nh trạng say sưa. Ước muốn nhờ đó họ uống những thứ đó gọi là pamādaṭṭhāna (“nguyên nhân tạo ra tính dễ duôi”) v́ chúng chính là lư do để tính dễ duôi xuất hiện. Chính v́ thế “chúng xuất phát từ những nguyên nhân tạo ra tính dễ duôi có liên quan đến rượu và chất say” (surāmerayamajjamhi pamādaṭṭhānā). Đây chính là ư nghĩa đầu tiên trong việc liệt kê ra trong lộ tŕnh vậy. (b). Phân tích các từ. 1908. Nhưng theo cách phân tích các từ, yasmiṃ, samaye kāmāvacaraṃ <285.6> (“cơ hội nào tâm thiện dục giới”) v.v... toàn bộ đều rơ ràng do phương pháp đă được khẳng định ở trên (xin đọc chú giải Bộ Pháp Tụ (Asl) 54 tt). Nhưng không những chỉ có việc kiêng cữ mới là học giới mà thôi đâu mà cố ư cũng có thể là một học giới. Chính v́ thế c̣n có một phương pháp thứ hai nhằm làm rơ điều này và v́ một học giới không chỉ bao gồm hai pháp trên nhưng c̣n có năm mươi điều và c̣n hơn thế nữa liên quan. Chính v́ thế ta có phương pháp thứ ba được triển khai ở đây. 1909. Về điểm này, học giới có hai loại, học giới hiểu theo nghĩa văn hoa bóng bẩy (pariyāya) và học giới hiểu theo nghĩa đen (nippariyāya). Về điểm này, kiêng =virati) chính là học giới hiểu theo nghĩa đen. Được truyền xuống cho chúng ta trong Kinh Phật Pāli như là [382] “kiêng không sát sanh” đây không phải là cố ư và người nào đó kiêng cữ, tránh xa không phạm phải điều này, điều nọ chỉ là việc kiêng cữ mà thôi, chẳng xuất phát từ cố ư. Nhưng ngài lại diễn giải bằng cách đem vào cố ư; cũng giống vậy các pháp c̣n lại liên quan với cố ư; v́ chính cố ư thù địch vào thời điểm ta phạm lỗi ta goị là phẩm ác hạnh (dussīlya). Chính v́ thế [cố ư] được khẳng định ở đây chính là thiên giới (susīlya) vậy ngay cả vào thời điểm kiêng cữ diễn ra, xúc. v.v... cũng được liệt kê vào loại này v́ có liên quan tới việc kiêng cữ này. (c). Định nghĩa. 1910. Giờ đây nhằm mục đích truyền cảm hứng trí tuệ về các học giới này, một định nghĩa bắt đầu với “không sát sanh” nên được hiểu là (1) một pháp (dhammato). (2) là một phần (koṭṭhāsato), (3) là đối tượng (ārammaṇato), (4) là thọ (vedanāto), (5) là căn nhân (mūlato) (6) là nghiệp(kammato), (7) là điều đáng khiển trách (sāvajjato) và (8) là các phương tiện (payogato). 1911.Về điểm này, (1) là “các pháp” năm học giới này bắt đầu với “không sát sanh”chỉ là các pháp cố ư mà thôi. 1912. (2) “Là một phần” chúng là năm pháp hành nghiệp đạo (kamma-patha). 1913. (3) “Là đối tượng” sát sanh lấy mạng quyền làm đối tượng. Trộm cắp lại lấy các chúng sanh hay các pháp hành làm đối tượng. Tà dâm lấy phụ nữ và đàn ông làm đối tượng[1]. vọng ngữ lấy chúng sanh làm đối tượng hay các pháp hành làm đối tượng. Uống rượu lấy các pháp hành (formation) làm đối tượng 1914.(4) “Là thọ”. Sát sanh có thọ khổ, trộm cắp lại có ba thọ; có thọ thích thú nơi người lấy vật ǵ không phải là của ḿnh, lại cười và hài ḷng; vào thời điểm hoảng sợ th́ có thọ khổ; nơi người nào lấy của người khác với thọ xả hay phi khổ phi lạc. Tà dâm có thọ lạc hay thọ phi khổ phi lạc. Vọng ngữ có ba thọ giống như những thọ trong khi trộm cắp. Uống rượu cũng có thọ lạc và thọ xả. 1915. (5) “Là căn nhân” sát sanh lấy sân và si làm căn nhân. Trộm cắp đôi khi lấy tham và si làm căn nguyên, đôi khi lấy sân si làm căn nhân. Tà dâm lại lấy tham và si làm căn nhân. Vọng ngữ đôi khi lấy tham và si làm căn nhân và đôi khi lại lấy sân và si làm căn nhân. Uống rượu lấy tham và si làm căn nhân. 1916. (6) “Là nghiệp”. Vọng ngữ ở đây là khẩu nghiệp chướng; điều c̣n lại chỉ là thân nghiệp mà thôi. 1917. (7) “Đáng chê trách”. Sát sanh đáng khiển trách hơn, giống như trộm của người khác và điều c̣n lại. Khác biệt giữa những vấn đề này đă được chứng minh ở trên ( chú giải Bộ Pháp Tụ (Asl).97 tt)[2]. Nhưng đây lại là một phương pháp khác: V́ người nào giết một con kiến nhỏ là bị khiển trách ít hơn; người nào giết một con vật lớn hơn th́ bị khiển trách nhiều hơn. Cũng vậy người nào giết một con chim nhỏ hơn th́ bị khiển trách ít hơn là người giết một con lớn hơn, bị khiển trách nhiều hơn nếu giết con giông măo, giết con thỏ rừng lại bị khiển trách nặng hơn. Giết con hươu th́ bị khiển trách nặng hơn là giết con thỏ, giết con ḅ th́ bị khiển trách nặng hơn là giết con hươu, giết con ngựa th́ đáng khiển trách hơn là giết con ḅ; người nào giết con voi th́ c̣n bị khiển trách nặng hơn thế. Hơn thế nữa [383] người nào giết một người có ác hạnh th́ đáng khiển trách hơn là giết một con voi, đáng khiển trách hơn thế nếu giết một người có hạnh tu như con ḅ gorupasilaka[3] giết một người t́m đến qui y Phật th́ đáng khiển trách hơn. Nhưng nếu giết một người tuân giữ năm học giới th́ đáng khiển trách hơn là giết một người chỉ mới qui y Phật.; bị khiển trách nhiều hơn thế nếu giết thầy Sa di. Và bị khiển trách nhiều hơn thế, nếu giết một vị Tỳ khưu b́nh thường và bị khiển trách nhiều hơn thế, nếu lại giết một vị Nhập Lưu, đáng khiển trách hơn thế, nếu lại giết phải một vị Nhất Lai, bị khiển trách nhiều hơn thế nếu giết một vị Bất Lai. Người nào giết một người đă đoạn tận mọi lậu hoặc lại đáng khiển trách hơn thế rất nhiều. 1918. Trộm cắp, lại thuộc về một người có ác hạnh, th́ đáng khiển trách ít hơn là lấy của một người có thiện hạnh; đáng khiển trách hơn nếu lấy của một vị đă qui y Phật; đáng khiển trách hơn nếu lấy của người đang tu luyện ngũ học giới; đáng khiển trách hơn nếu lấy của một thầy Sa di... lấy của một vị Tỳ khưu b́nh thường... của một vị Nhập Lưu... của một vị Nhất Lai... của một vị Bất Lai... [lấy của một người đă đoạn tận các lậu hoặc th́ lại đáng khiển trách hơn thế rất nhiều. 1919. Tà dâm th́ ít khiển trách hơn nếu sai phạm lỗi với một người đàn bà có ác hạnh; đáng khiển trách hơn thế nếu phạm lỗi với người có hạnh tu như con ḅ gorūpasīlaka; đáng khiển trách hơn thế, nếu phạm lỗi với người quy y Phật, lại đáng khiển trách hơn thế nếu phạm lỗi với người đang tu luyện ngũ học giới... đáng khiển trách hơn thế nếu phạm lỗi với một Sa di ni... .với Tỳ khưu ni b́nh thường th́ đang khiển trách hơn thế, phạm lỗi với một nữ Nhập Lưu th́ đáng khiển trách hơn thế, phạm lỗi với một nữ Nhất Lai th́ đáng khiển trách hơn thế ... phạm lỗi với một nữ Bất Lai lại đáng khiển trách hơn thế rất nhiều... tà dâm như lỗi phạm với một phụ nữ đă đoạn tận các lậu hoặc th́ tất nhiên sẽ đáng khiển trách hơn thế rất nhiều. 1920. Vọng ngữ trong lời nói sai quấy nhằm mục đích chiếm được nhiều hơn một đồng xu fa-đinh th́ đáng khiển trách ít hơn; nhiều hơn thế, nếu nhằm mục đích chiếm được hai đồng xu fa-đinh; đáng khiển trách hơn nếu nhằm mục tiêu chiếm được một nửa đồng māsaka... đáng khiển trách hơn nếu nhằm mục tiêu chiếm được một đồng māsaka... đáng khiển trách hơn nếu nhằm mục tiêu chiếm lấy năm đồng māsaka... đáng khiển trách hơn nếu nhằm mục tiêu chiếm được một nửa đồng kahāpaṇa... nói dối nhằm mục đích chiếm được một đồng kahāpaṇa... nói dối nhằm mục đích chiếm lấy một số tài sản vô giá th́ lại đáng khiển trách hơn thế và đáng khiển trách hơn thế rất nhiều, nếu việc nói dối đó nhằm tạo ra chia rẽ Tăng Đoàn. 1921. Uống rượu trong việc uống rượu nếu chỉ uống một lượng (pasata) nhỏ th́ đáng khiển trách ít hơn; nếu uống nhiều chung đầy th́ đáng khiển trách nhiều hơn. Nhưng điều đó tạo ra bất ổn nơi thân nơi kẻ nào uống nhiều. Nếu tạo ra việc tàn phá cả một làng, tàn phá cả một thị trấn th́ đáng khiển trách hơn thế rất nhiều. 1922. Liên quan đến việc sát sanh. Ai sát sanh người đă đoạn tận mọi lậu hoặc th́ đáng khiển trách hơn. Liên quan trộm cắp chính là lấy đi những ǵ thuộc người nào đă đoạn tận các lậu hoặc th́ đáng khiển trách hơn; c̣n về tà dâm, đó chính là lỗi phạm với một vị Tỳ khưu ni là người đă đoạn tận các lậu hoặc th́ đáng khiển trách hơn thế rất nhiều. C̣n về vọng ngữ cũng như uống rượu, chính là điều tạo ra bất ổn nơi thân xác người nào sau khi đă uống quá nhiều, lại quấy phá cả một ngôi làng hay một thị trấn th́ đáng khiển trách hơn rất nhiều. Nhưng người đáng khiển trách hơn cả là người với những lời nói dối của ḿnh đă gây chia rẽ nơi Tăng Đoàn, v́ đó là điều đáng sợ nhất và tạo ra vạ phạt phải thiêu huỷ trong hoả ngục kéo dài đến hàng ngàn kiếp (kappa). 1923. (8) “Làm phương tiện”: sát sanh bằng chính tay ḿnh và bằng cách ra lệnh. Cũng giống như vậy nếu trộm cắp do chính tay ḿnh thực hiện hay theo lệnh của người khác. Tà dâm, vọng ngữ và uống rượu chỉ bằng chính hành động của ḿnh mà thôi. 1924.[384] Sau khi đă biết rơ định nghĩa “sát sanh” v.v... liên quan đến pháp. v.v... định nghĩa việc “kiêng tránh không sát sanh”, v.v... nên được hiểu liên quan đến (1) một pháp (dhammato) (2) liên quan đến một phần (koṭṭhāsato) (3) liên quan đến đối tượng (ārammaṇato) (4) liên quan đến thọ (vedanāto), (5) liên quan đến căn nhân (mūlato), (6) liên quan đến nghiệp (kammato), (7) liên quan đến việc phá bỏ ( khaṇḍato), (8) liên quan đến việc thực hiện (samādānato) và (9) liên quan đến những phương tiện (payogato) là như thế nào. 1925. Về điểm này, (1) “Liên quan đến pháp”: năm cố ư liên tiếp nhau khớp với giới hiểu theo nghĩa trừu tượng lại chính là các pháp đó.[4] 1926. (2) “Liên quan đến phần”: chính là năm nghiệp đạo. 1927. (3) “Liên quan đến đối tượng”: kiêng không sát sanh. Sau khi đă biến mạng quyền của tha nhân làm đối tượng, kiêng khỏi cố ư (volition) thù nghịch với chính ḿnh, với điều c̣n lại th́ phương pháp hoàn toàn giống nhau. Đối với tất cả những vấn đề này, sau khi đă biến căn bản làm đối tượng lỗi phạm. Chỉ kiêng khỏi cố ư mà thôi. 1928. (4) “Liên quan đến thọ”: Tất cả hoặc là thọ lạc hay thọ xả mà thôi. 1929. (5) “Liên quan đến căn nhân”: nơi người nào kiêng cữ bằng những phương cách tâm tương ưng với trí th́ không có tham, sân và si làm căn nhân; nơi người nào kiêng cữ bằng những phương tiện không tương ưng với trí họ cũng có vô tham, vô sân làm căn nhân. 1930. (6) “Liên quan đến nghiệp”: ở đây chỉ có kiêng cữ khỏi vọng ngữ là khẩu nghiệp mà thôi. Điều c̣n lại là thân nghiệp. 1931. (7) “Liên quan đến lỗi phạm”: chỉ có người đời th́ điều đó mới đứt, hoại đi; điều c̣n lại không thể hoại đi được. Tại sao thế? V́ người đời thường có giới nhất thời; họ thọ tŕ bất kỳ học giới nào có thể ǵn giữ. Nhưng đối với các thầy Sa-di, một khi đă lỗi phạm th́ toàn bộ đều hư hỏng hết; không những chỉ có ngũ giới này mà thôi, nhưng c̣n toàn bộ các học giới khác (thập giới) đối với giới cũng bị hư hỏng hết. Nhưng lỗi phạm của họ lại là những cơ sở để thực hiện sửa chữa. Khi những sửa chữa được thực hiện bằng cách nói rằng: “Tôi không hành động theo cách này cách nọ trở lại nữa” giới đă được thực hiện. 1932.(5) “Liên quan đến việc thực hiện” chúng được thực hiện do cả người nào quyết tâm như sau: ‘Tôi nhất quyết tu luyện ngũ giới ” và cả những người nào thực hiện các học giới này một cách riêng rẽ; và khi ngồi xuống trước mặt người khác th́ các học giới đó cũng được thực hiện do người nào thực hiện nói rằng: tôi thực hiện ngũ giới thuộc giới và cả những ai thực hiện từng học giới riêng rẽ. 1933. (9). Liên quan đến các phương tiện: ta nên hiểu là toàn bộ đều ảnh hưởng trực tiếp đến chính chúng ta liên quan đến các phương tiện này. (d) Phần tu luyện 1934. Giờ đây để vạch ra cho thấy những loại học giới đó bằng cách phân tích thành từng phần[5] trong đó ngũ giới đă được khẳng định. Phần tu học này bắt đầu như sau Katame dhammā sikkhā? <290.36> (“những pháp nào được coi như là việc tu học?”) [385] Về điểm này, v́ toàn bộ các pháp thiện thuộc bốn cơi đều là các việc tu học cả, v́ chúng ta phải tu học các pháp này. Chính v́ thế yasmiṃ samaye kāmāvacaraṃ <290.33> (“vào dịp nào có tâm thiện cơi dục giới?”) v.v.. được đề cập tới để chỉ ra những việc tu học này; về điểm này, ta nên hiểu ư nghĩa bằng cách t́m hiểu thêm chi tiết trong Kinh Phật Pāli theo cách thức đă được khẳng định ở trên trong chương Tâm xuất khởi (Cittuppādakaṇṇda) [trong tác phẩm Dhammasaṅgani]. Tuy nhiên ở đây chỉ đưa ra tiêu đề mà thôi. Kết thúc chương phân tích theo Vi Diệu Pháp B. PHẦN VẤN ĐÁP 1935. Trong phần vấn đáp th́ những học giới là thiện .v.v..nên được hiểu theo Kinh Phật Pāli. 1936. Nhưng liên quan đến Tam đề cảnh, th́ những học giới ở đây được khẳng định như là “lấy chúng sanh làm đối tượng” v́ chúng chỉ biến các hành (formation) chúng sanh làm đối tượng mà thôi, và v́ toàn bộ những ǵ được mô tả bằng các từ ám chỉ việc thu thúc thực sự hiện hữu. Chính v́ thế chúng được coi như là có cảnh hy thiểu và một cảnh hiện tại. Nhưng v́ toàn bộ đặc tính ngoại phần của căn bản được kiêng tránh. Chính v́ thế ta nên hiểu toàn bộ các pháp đó có một cảnh ngoại phần. 1937. Nhưng trong phần phân tích các học giới, cả trong chương phân tích theo Vi Diệu Pháp lẫn trong phần vấn đáp đều do Đức Phật diễn giảng dưới góc độ hiệp thế mà thôi và cả hai phương pháp này, v́ mang đặc tính hiệp thế chỉ là một duy nhất mà thôi. Như vậy phần phân tích các học giới cũng được thuyết pháp bằng cách phân tích theo hai chu kỳ mà thôi. Kết thúc phần phân tích học giới.
-ooOoo- [1] Mt. chỉ ra cho thấy v́ ngũ học giới chỉ có một cảnh hy thiểu. những người nào được cho là lấy chúng sanh, đàn ba, đàn ông làm đối tượng, trong thực tế phải có các hành formations được coi như dưới các khía cạnh chúng sanh. v.v.. làm đối tượng [LSC] [2] xin đọc thêm MA I 198 tt. [ và xin đọc chú giải về Trung Bộ Kinh kinh số 9 trong phần nói về “chánh tri”. Bản dịch Bhikkhu Soma, Hội xuất bản Phật giáo” Kandy (Ny) [3] Mt: cho là “hiền thiện tự nhiên” (pakatibhaddo) [Ny] [4] xin đọc § 1909. [LSC] [5] Mṭ. cho rằng: koṭṭhāsabhāvenā ti vuttaṃ; patiṭṭhānabhāvenā ti pana vattabbaṃ - “bằng cách phân chia ra từng phần” đă được đề cập tới. Nhưng ta nên nói là “thông qua nền móng th́ hơn”, Anuṭ không b́nh luận ǵ về điểm này [LSC] |
|