NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

CHÚ GIẢI  BỘ PHÂN TÍCH

                                                                    Nguyên Tác Pāli:  Bhadantācariya Buddhaghosa
                                                
       Bản Anh Ngữ:  Bhikkhu Ñāṇamoli
                                               
        Bản Việt Ngữ:  Tỳ khưu Thiện Minh

PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG MƯỜI HAI

PHÂN TÍCH CÁC TẦNG THIỀN.
(Jhānavibhaṅga)

A. CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO KINH TẠNG

(a) Mẫu đề (Mātikā)

1585. Giờ đây trong phần phân tích các tầng thiền = Jhānas) tiếp ngay sau đó, lộ tŕnh này được đưa ra trước toàn bộ chương phân tích theo Kinh Tạng. Về điểm này, từ idha <244.1> (“ở đây”) là thứ tự ám chỉ giáo pháp là niềm hỗ trợ cho người nào đă thực hiện thành công điều phải làm trong giai đoạn chuẩn bị và đă tạo ra thiền dưới mọi khía cạnh và để phủ nhận một pháp như vậy trong bất kỳ giáo pháp nào khác. Về điều này có lời nói rằng: Hỡi chư vị Tỳ khưu, chỉ ở đây mới có sa môn đầu tiên, ở đây là sa môn thứ hai, ở đây sa môn thứ ba và ở đây sa môn thứ tư. Trong giáo pháp khác chẳng có bất kỳ sa môn nào[43] (D ii. 151; Trung Bộ Kinh i. 63; A ii. 238).

1586. Bhikhu (“một vị tỳ khưu”) chỉ rơ cho thấy một người đă tạo ra được những loại tầng thiền đó. Pātimokkhasaṃ varasaṃ vuto (thu thúc theo giới bổn): đây là điều ám chỉ cho thấy ngài đă thiết lập được thu thúc nơi giới bổn. Viharati (“cư trú”) đây là điều ám chỉ [ngài có phẩm chất] cư trú theo những ǵ thêm vào đó. Ācāragocarasampanno (“phẩm hạnh thích hợp với hành xử của ngài”) đây là điều cho thấy những pháp thiện cho việc thu thúc theo giới bổn, thu thúc đă nói đến ở trên và tính chất tận tâm của ngài đối với tầng thiền sẽ được đề cập tới dưới đây. Aṇumattesu vajjesu bhayadassāvi (“nhận ra nỗi sợ hăi nơi lỗi phạm nhỏ nhất”); đây là điều cho thấy ngài không có khuynh hướng vi phạm giới bổn thu thúc. Samādāya <244.3>(“bằng cách thực hiện”): điều này cho thấy việc ngài thực hiện tu tập các điều học không chút dè dặt. Sikkhati (“ngài tự tu học”) điều này cho thấy ngài đắc thủ các điều học. Sikkhāpadesu (“các điều học”) : điều này cho thấy những ǵ ngài quyết tâm tu luyện.

1587. Indriyesu (“thuộc các căn”): điều này cho thấy cảnh giới ngài canh giữ các môn; chúng cũng cho biết đây chính là lănh vực được bảo vệ nữa. Guttadvāro (“canh giữ các môn... được bảo vệ kỹ lưỡng”) : điều này cho thấy pháp ngài bảo vệ nơi các môn như thế nào. Bhojane mattaññū <244.4> (“biết tiết độ ăn uống.”): điều này cho thấy sự hài ḷng của ngài và các phẩm chất khác. Pubbarattāpararattaṃ jāgariyānuyogaṃ anuyutto. (“chuyên tâm tu luyện tỉnh giác đêm này qua đêm khác”): điều này cho thấy ngài là người thực hiện tu tập.[44] [324] Sātaccaṃ nepakkaṃ (“với ḷng dè dặt, cẩn thận.”) điều này cho thấy hiện trạng bền đỗ của ngài thông qua tinh tấn đă được thiết lập cùng với trí tuệ. Bodhipakkhikānaṃ[45] dhammānaṃ bhāvanānuyogam anuyutto <244.5> (“chuyên tâm tu luyện để phát triển các pháp bồ đề phần”) : điều này cho thấy việc luyện tập của ngài đang được chia phần thấu nhập (nibbedha-bhāgiya)

1588. So abhikkante... pe... tuṇhībhāve sampajānakārī hoti <244.6> (“ngài đang tu tập tỉnh giác bằng cách đi tới... giữ thinh lặng”) : điều này cho thấy ngài được trang bị thiền niệm ở khắp nơi và có tỉnh giác. So vivittaṃ senāsanaṃ bhajati <244.12> (“ngài năng lui tới nơi cư trú viễn ly”): điều này cho thấy ngài có được một nơi cư trú thích hợp[46].Araññaṃ... pe... paṭisallāṇasāruppaṃ (cánh rừng là nơi... thích hợp để quán tưởng”): điều này cho thấy lợi ích cho ngài biết bao được thoát khỏi mọi hiểm nguy nơi những loại nơi cư trú khác nhau.

1589. So araññagato vā <244.16> (“sau khi ngài đă đi đến khu rừng”): điều này cho thấy ngài đă được phú cho một nơi cư trú thuộc loại đă nói đến ở trên. Nisīdati (“ngài ngồi xuống hành thiền”): điều này cho thấy oai nghi của ngài thích hợp với công việc tu luyện. Parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā <244.18> (“ sau khi đă đặt niệm ngay trước mặt của ngài”): điều này chứng tỏ cho thấy việc khởi sự công việc của ngài.

1590. So abhijjhaṃ loke pahāya < 244.19> (“sau khi đă từ bỏ tham ái ở đời”): điều ngài cho thấy việc từ bỏ các pháp cái bằng cách tu tập đề mục thiền định. Khi ngài đă từ bỏ mọi pháp cái, [các từ] vivicc’eva kāmehi (“ly dục”) v.v... điều này cho thấy ngài đang xuất khởi thiền định rất thành công.

1591. Hơn thế nữa, “ở đây một vị Tỳ khưu” có nghĩa là một vị Tỳ khưu đă xuất khởi thiền định Jhana nơi giáo pháp này. Giờ đây, v́ một vị Tỳ kheo phải được thanh tịnh bằng bốn loại giới xuất khởi thiền định jhana, chính v́ thế với các từ “thu thúc theo giới bổn” ngài chứng tỏ cho thấy đặc tính thanh tịnh nơi giới của những ai đang tu tập thu thúc theo giới bổn. “Với phẩm hạnh thích hợp tại hành xứ của ngài”, v.v... ngài chỉ ra cho thấy giới nuôi mạng thanh tịnh. “Ngài tự tu học bằng cách thực hiện các điều học” v.v... ngài tỏ cho thấy giả định nếu không duy tŕ được hai loại giới này.. bằng cách “giữ ǵn cẩn thận các căn môn.” Ngài chỉ cho thấy giới thu thúc các căn, bằng cách ngài biết tiết độ ăn uống. Ngài cho thấy giới dựa trên những nhu cầu thiết yếu hàng ngày là như thế nào.

1592. Bằng cách, “ngay từ đầu cho đến lúc đêm tàn”, v.v... ngài cho thấy các pháp giúp phát triển thiền Jhana nơi những ai đă thiết lập được các niệm đó. Bằng cách, “đang khi đi tới”, v.v... ngài cho thấy việc tu luyện niệm và tu tập tỉnh giác liên quan đến việc không để giảm sút tu tập những pháp đó và không lẫn lộn các đề mục thiền. Bằng cách, “một nơi cư trú viễn ly”, v.v... ngài cho thấy việc chọn lựa một nơi cư trú thích hợp cho việc tu học. [325] bằng cách, “đi vào rừng” v.v... ngài cho thấy cả những oai nghi thích hợp cho thiền Jhana đối với những ai đi tới nơi cư trú đó và việc bắt đầu thực hiện tu luyện thiền Jhana là như thế nào. Bằng cách, “sau khi đă từ bỏ tham ái”. v.v... ngài cho thấy việc từ bỏ các pháp đối nghịch lại với thiền định Jhana bằng cách bắt đầu phát triển thiền Jhana. Bằng cách “sau khi đă loại bỏ năm pháp cái” v.v... ngài cho thấy thứ tự khởi xuất nơi ngài toàn bộ các loại thiền định Jhana và như vậy ngài có thể từ bỏ những pháp đối kháng lại với mỗi loại thiền Jhana này.

(b). Tiết đoạn mô tả.

1593. Giờ đây idhā ti imissā diṭṭhiyā <245.27> (“ở đây, theo quan điềm này”), v.v... được bắt đầu để cho thấy lộ tŕnh như đă được đề ra bằng cách phân tích lộ tŕnh này một cách liên tục.

1594. Về điểm này, thông qua mười cách diễn tả bắt đầu với imissā diṭṭhiyā (“theo quan điểm này”), v.v... điều này chính là giáo Pháp của Đức Phật Toàn Tri... được gọi là tam học, đă được giải thích ở trên. Về điểm đó, do chính Đức Thế Tôn, tức Đức Phật, đă nhận ra (diṭṭha), thế nên ta gọi là chánh kiến (diṭṭhi), do việc ngài tỏ ra khoan dung tha thứ (khamana), thế nên ta gọi điều đó là ḷng khoan dung (khanti), do việc ngài lựa chọn (ruccana) thế nên ta gọi đó là việc lựa chọn, (ruccana) chính là sự lựa chọn (ruci); do việc coi đó là (gahaṇa) ta gọi điều này là niềm tin (ādāya); đây là giới bổn (dhamma) hiểu theo nghĩa thực tính (sabhāva)[47] luật (vinaya) hiểu theo nghĩa là điều ǵ đó cần được tu học, pháp và luật do cả hai điều trên; đây là từ (pāvacana) hiểu theo nghĩa được công bố, được loan báo (pavutta); đây là phạm hạnh (brahmacariya) hiểu theo nghĩa đức hạnh hoàn hảo nhất (seṭṭhacariya); đây chính là giáo pháp của vị đạo sư (Satthusāsana) do việc ngài ban phát lời giáo huấn cho chúng sanh. (anusiṭṭhidāna).

1595. Chính v́ thế liên quan đến cách diễn tả bắt đầu với imissā diṭṭhiyā (“theo quan điểm này”) ta nên hiểu ư nghĩa như sau: “Theo quan điểm của Đức Phật, nơi việc chịu đựng này của Đức Phật, nơi cách lựa chọn của Đức Phật, nơi niền tin của Đức Phật, nơi pháp của Đức Phật, nơi luật của Đức Phật, nơi pháp và luật của Đức Phật, có liên quan như sau: Và những pháp này, này Gotamī, nhờ đó mà chúng ta có thể biết được như sau: “ Những pháp này dẫn ta đến tham dục, chứ không dẫn đến ly tham; chúng dẫn ta đến hệ phược, chứ không giải thoát ta khỏi hệ phược, chúng dẫn ta đến tích lũy, chớ không bất tích tập,[48] chúng dẫn ta đến chấp thủ, chứ không dẫn đến xả ly, chúng dẫn ta đến ước muốn to lớn, chớ không thiểu dục, chúng dẫn đến bất măn thay v́ đến hài ḷng, chúng dẫn ta đến tập thể, thay v́ sống ẩn dật, chúng dẫn ta đến chây lười, thay v́ cố gắng, chúng dẫn ta đến khó nuôi, thay v́ giúp ta dễ nuôi.” Hỡi này Gotamī, ngài có thể nhớ lại mà không dè dặt đây không phải là pháp, đây chẳng phải là luật, đây cũng chẳng phải là giáo pháp của vị đạo sư. Và hỡi Gotamī, điều này chắc hẳn ngài đă biết rơ: “Chúng chẳng dẫn đến ly tham, chẳng phải là tham dục... chúng sẽ giúp ta dễ nuôi, không phải chỉ dẫn đến khó nuôi,” Ngài có thể nhớ lại, hỡi Gotamī, mà không cần phải quá dè dặt. Đây chính là pháp, đây chính là luật, đây chính là giáo pháp của vị Sa môn vậy.” (A. iv. 280 –1; Vin ii. 258-9; xin đọc thêm A. iv. 143). Với những lời Đức Phật nói ra như vậy, [326] nơi chính phạm hạnh của ngài, nơi chính giáo pháp của vị Phật tổ này.

1596. Hơn thế nữa, toàn bộ Giáo Pháp này được gọi là Tam học, do chính Đức Phật đă khám phá ra, do Ngài đă có được chánh kiến làm nhân duyên, do Ngài đă có được chánh kiến làm điềm báo trước, đó chính là “chánh kiến”; nhờ vào lượng dung thứ của Đức Thế Tôn, đó chính là “Ḷng khoan dung”; nhờ vào việc lựa chọn của Ngài, đó chính là “việc chọn lựa”; nhờ vào việc coi đó là điều chính trực, đó chính là “niềm tin” đă giữ cho (dhāreti) người thực hiện điều đó khỏi xa vào đọa xứ. Như vậy đây chính là pháp (dhamma); nó cũng diệt trừ đi (vineti) việc tham dự vào các phiền toái. Như vậy đây chính là luật (vinaya); đây là pháp và đây cũng lại là luật. Như vậy đây chính là pháp và luật vậy.

1597. Đây là việc từ bỏ (vinaya) những pháp (dhamma) bất thiện bằng những pháp thiện, Như vậy đây chính là pháp luật (dhamma-vinaya); chính v́ thế có lời nói rằng: “ Và những pháp đó (dhammā) hỡi Gotamī, ngài đă biết quá tường tận. Những sự việc này dẫn đến ly tham, không c̣n tham dục nữa... ” Chắc ngài hẳn c̣n nhớ không chút dè dặt, ôi Gotamī, đây chính là giáo pháp của Đức Thế Tôn (satthusāsana). Hoặc giả đây là luật (vinaya), do pháp đem lại (dhamma), chớ không do roi vọt, v.v... như vậy đây chính là pháp và Luật vậy (dhamma-vinaya).

1598. Và đây có lời nói rằng:
Có người tu luyện bằng roi vọt
Bằng gậy thúc cũng như cả roi da;
Vị hiền triết vĩ đại thuần hóa Long vương
Mà chẳng dùng đến gậy hay vũ khí nào cả.
 (Vin. ii 196; xin đọc M. ii 105 = Thag 878)

cũng giống vậy:

“ Kẻ nào lấy pháp luật dẫn đường
đâu phải gặp ghen tương trên đường đi?
  ( S. i. 127; Vin I 43)

1599. Hay luật (vinaya) thế cho Pháp (dhamma) cũng chính là pháp luật vậy v́ luật này (vinaya) nhằm mục đích trả lại pháp không chê trách vào đâu được (dhamma), không nhằm lợi ích[49] của dục hữu. Chính v́ thế Đức Thế Tôn diễn giải chi tiết như sau: Hỡi chư vị Tỳ khưu, ta chẳng sống cuộc đời phạm hạnh này nhằm lừa dối tha nhân (A. ii. 26; It. 28; 29) Vị Trưởng Lăo Puṇṇa cũng có nói: “ Hỡi chư huynh kính mến, điều này nhằm dẫn những vị nào sống phạm hạnh nương nhờ vào giáo Pháp của Đức Thế Tôn đạt đến đoạn diệt hoàn toàn nhờ không c̣n có chấp thủ nữa” (M. I 148; 150; S iv. 48).

1600. Hoặc cũng nhằm dẫn dắt họ (nayati) đạt đến [pháp] nghiêm tịnh (visiṭṭha)[50], như vậy chính là luật (vinaya); việc dẫn dắt ra khỏi (vinaya) pháp (dhamma) chính lại là pháp luật (dhammavinaya); v́ giới luật này dẫn ta ra khỏi pháp ṿng luân hồi hay khỏi ṿng sầu khổ đọa xứ v.v... và dẫn đến pháp níp bàn nghiêm túc.[51]

1601. Hay cũng chính nhờ luật (vinaya) nơi pháp (dhamma), chứ không do kẻ tạo lối qua sông qua suối[52]. Như vậy chính là pháp luật (dhammavinaya); V́ Đức Thế Tôn chính là Giới luật (dhammabhūta) và đây chính là luật của Ngài vậy (vinaya).

1602. Hoặc giả v́ đây chỉ là những pháp (dhamma) ta phải trực tiếp thắng tri, biểu tri, đoạn trừ, phát triển và thực chứng. Chính v́ thế đây chính là luật. (vinaya) có liên quan đến các pháp đó (dhammesu). Chẳng phải v́ có liên quan đến chúng sanh hay bản ngă. Như vậy đây chính là pháp luật (dhamma-vinaya).

1603. Do phải truyền đạt (vacana) cho người khác ư nghĩa và từ ngữ, v.v... đây là các từ (vacana) căn bản (padhāna)[53]; như vậy đây chính là lời (pavacana); từ pavacana cũng đồng nghĩa với từ pāvacana. Do đặc tính trổi vượt hơn hẳn mọi cách sống. Quả thực đây là một cuộc sống phạm hạnh (brahmacariya). [327] Đây chính là giáo pháp của Đức Thế Tôn, bậc thầy của mọi chư thiên lẫn các nhân loại. Như vây đây chính là giáo Pháp của vị đạo sư (satthusāsana); hay đây chính là giáo pháp bậc thầy, chính là giáo pháp của vị Thiện Thệ. V́ [theo trích đoạn sau đây]: Hỡi Ananda, pháp và luật ta giảng dạy cho nhà ngươi, sẽ trở thành thầy dạy cho ngươi thay cho ta (D. ii. 154) Chính pháp và luật lại được gọi là thầy dạy. Ta nên hiểu ư nghĩa của các từ này theo cách như trên. Nhưng v́ chỉ nơi giáo pháp này mà ta mới có thể phát hiện ra được một vị Tỳ khưu đă tạo ra được thiền Jhana dưới mọi góc độ, chẳng c̣n ở nơi nào khác nữa. Chính v́ thế mà ta nên hiểu rằng ở nơi này nơi khác ân đức này được thể hiện nơi các từ “nhờ vào điều này” (imissā) nơi điều này” (imasmiṃ). Đây là ư nghĩa cách mô tả từ “ở đây” (idha) ta thấy đề ra trong lộ tŕnh diễn giải vậy.[54]

1604. Trong phần mô tả từ Bhikkhu <245.32> (“vị Tỳ khưu”). Samaññāya (“do chức vụ”) có nghĩa là nhờ vào một khái niệm, nhờ cách gọi. V́ chính nhờ vào cách gọi tên mà ta có thể biết người đó là một Tỳ khưu. Cũng giống vậy khi trong một lời mời và các vị Tỳ khưu giống như vậy được tính tới. Kể các thầy Sa di họ nói “một trăm vị” hay “một ngàn vị Tỳ khưu.”

1605. Paṭiññāya (“bằng công bố”): bằng chính lời tuyên bố của người đó; v́ chính nhờ vào lời tuyên bố mà ta biết được người đó là một Tỳ khưu. Nguồn gốc từ này được t́m thấy trong các đoạn như: “ ‘Ai ḱa? Chính ta đây, một vị Tỳ khưu. Thưa chư huynh. Nhưng là v́ điều này đă do chính vị Trưởng Lăo Ananda nói ra, v́ thế đây là một lời tuyên bố đúng đắn; nhưng vào ban đêm; và trong trường hợp những kẻ nào có phẩm hạnh bất thiện; khi ta hỏi người nào đó tu từ phía đối nghịch trở lại “ai đó?” với một lời tuyên bố sai trái và không thật họ có thể trả lời, “chúng ta là Tỳ khưu.”

1606. Bhikkhati <245.33> (“người đó khất thực xin”): người đó đi xin. (yācati); bất kỳ ai đi t́m và kiếm của bố thí (bhikkhā), cho dù có được hay không, tức khắc người đó là một Tỳ khưu v́ người đó đă đi khất thực (bhikkhati).

1607. Bhikkhako [55] (“một kẻ ăn xin”): từ này được nhấn mạnh với một tiếp đầu ngữ; ư nghĩa là người đó là một Tỳ khưu nhờ có đặc tính xin ăn. (bhikkhana).

1608. Bhikkhācariyaṃ ajjhupagato <245.34> (“người đó đă đồng ư đi khất thực”): Ta gọi người đó “đă thuận thực hiện khất thực và được Chư Phật đồng ư, v.v... V́ bất kỳ ai từ bỏ tài sản riêng cho dù to hay nhỏ và từ bỏ cuộc sống gia đ́nh và xuất gia, gia nhập cuộc sống vô gia cư. Bỏ lại đàng sau cuộc sống chủ nông trại, chủ chăn nuôi bằng cách chấp nhận một dấu hiệu (liṅga; có nghĩa là, [cuộc sống] một người vô gia cư). Là người đă đồng ư đi khất thực và như vậy được gọi là Tỳ khưu; hoặc giả người đó chỉ sử dụng thức ăn được đem đến (kājabhatta) chùa v́ cuộc sống của các vị đó phụ thuộc vào người khác, là người đă đồng ư thực hiện các chuyến khất thực và như vậy được gọi là Tỳ khưu. Hoặc Tỳ khưu phụ thuộc vào thực phẩm bao gồm những ǵ được đặt vào bát khất thực (piṇḍiyālopa) v́ do xuất phát từ sức mạnh xuất gia, ngài đă tự nguyện đi khất thực và như vậy Ngài là Tỳ khưu.

1609. Ngài mặc những bộ y kém (bhinna) giá trị, nháp nhúa và có màu sắc không đẹp, như vậy Ngài là bhinnapaṭadhāro (“người mặc y kém phẩm chất”). Về điểm này, ta nên hiểu quần áo có phẩm chất tồi tàn như quần áo được cắt bằng dao. V́ một miếng vải đáng giá một ngàn quan tiền [coins] mà được cắt bằng dao [328] thành những đồ lặt vặt ta sẽ làm hư miếng vải. Chẳng c̣n đáng giá phân nửa giá trị miếng vải nữa. Ta nên hiểu làm hư bộ đồ khi sờ vào có nghĩa là bộ đồ được may bằng chỉ không cẩn thận sờ vào không mịn tay. Ta nên hiểu việc làm hư màu sắc của miếng vải tức là được may với những vết chỉ cẩu thả, v.v... đối với một bộ đồ nghiêm chỉnh bị hư ở phần màu sắc do công đoạn may với những đường chỉ cẩu thả thô kệch, v.v... và với những vết đốm và những giọt mồ hôi rơi vào và cuối cùng nước nhuộm trở thành loang lổ và tạo ra nhiều màu sắc kỳ quặc; làm mất đi màu nguyên thủy. V́ việc may một bộ y có thể bị hư theo ba cách vừa nêu trên, thế nên Ngài là người mặc bộ y đă hư là v́ vậy. Như vậy Ngài là Tỳ khưu. Hoặc giả chỉ đơn giản do mặc những bộ y hoại sắc (kāsāva) rất khác biệt so với một người b́nh thường, thế nên Ngài là người mặc bộ y kém phẩm chất, chính v́ thế Ngài là một vị Tỳ khưu.

1610. Bhindati pāpake akusale dhamme ti bhikkhu <245.35> (“ngài đă phá tan những bất thiện, như vậy Ngài là vị Tỳ khưu.”) : với thánh đạo nhập lưu Ngài diệt trừ được ngũ phiền năo; như vậy Ngài là vị Tỳ khưu. Với thánh đạo nhất lai; Ngài diệt trừ được tứ phiền năo; với thánh đạo bất lai Ngài diệt trừ được tứ phiền năo và với thánh đạo A-la-hán Ngài diệt trừ được bát phiền năo, như vậy Ngài là vị Tỳ khưu. Đến điểm này bốn cách được thiết lập nơi thánh đạo (maggaṭṭha) đă làm rơ.

1611. Bhinnattā <245.36> (“do diệt trừ”) : nhờ điều này mà bốn điều được thiết lập nơi thánh quả [ đă chỉ ra cho thấy]. V́ Đấng nhập lưu được thiết lập [như vậy] sau khi đă diệt trừ được ngũ phiền năo với thánh đạo nhập lưu; vị nhất lai [sau khi đă diệt trừ] được tứ phiền năo với thánh đạo nhất lai. Vị bất lai sau khi đă diệt trừ được tứ phiền năo với thánh đạo bất lai. Vị A-la-hán được thiết lập như vậy sau khi đă diệt trừ đủ bát phiền năo với thánh đạo A-la-hán. Như vậy cả bốn vị đă được thiết lập trong thánh quả được gọi và vị Tỳ khưu v́ do đặc tính diệt trừ được các pháp ác, và những điều bất thiện.

1612. Odhiso kilesānaṃ pahānā <246.1> (“với đoạn trừ các phiền năo liên quan đến hạn lượng của ḿnh”) : ở đây có hai loại hạn lượng (odhi) đó là: thánh đạo hạn lượng (maggodhi) và phiền năo hạn lượng (kilesodhi) (xin đọc MA i. 172tt); hạn lượng (odhi) là một ranh giới (sīmā) hay là một hạn chế (mariyāda). Về điểm này, vị nhập lưu là vị Tỳ khưu với đoạn trừ các phiền năo do hạn lượng theo như thánh đạo hạn lượng. V́ các phiền năo được đoạn trừ nơi người đó theo như giới hạn do các phương tiện nơi một trong số bốn thánh đạo, chứ không do toàn bộ bốn thánh đạo. Chính v́ thế cùng với vị nhất lai và vị bất lai, vị nhập lưu cũng là vị Tỳ khưu với đoạn trừ được các phiền năo do hạn lượng theo như phiền năo hạn lượng. V́ các phiền năo được đoạn trừ nơi người đó chỉ theo hạn lượng phiền năo được đoạn trừ mà thôi, chứ không do toàn bộ [các phiền năo].

1613. Nhưng vị A-la-hán lại là anodhiso kilesānaṃ pahānā bhikkhu (“một vị Tỳ khưu với đoạn trừ các phiền năo vô hạn lượng”). Do nơi vị Tỳ khưu này các phiền năo được đoạn trừ là vô hạn lượng do bốn thánh đạo, vô hạn lượng đối với thánh đạo duy nhất và chúng được đoạn trừ vô hạn lượng trong số các phiền năo được đoạn trừ. V́ chẳng có bất kỳ một ranh giới duy nhất nào bao gồm các phiền năo c̣n lại. Như vậy Ngài là vị Tỳ khưu do việc đoạn trừ các phiền năo vô hạn lượng bằng cả hai cách.

1614. Sekkho <246.2> (“ một người hữu học”): cùng với một phàm nhân được kính trọng, bảy bậc thánh đang theo đuổi công việc luyện tập ba tam học ta gọi là Bậc hữu học (trainer= người c̣n đang luyện tâm) ta nên hiểu bất kỳ vị hữu học nào trong số họ cũng được coi như là vị Tỳ khưu. [329] Vị nào không c̣n tu luyện là asekkho (“bậc vô học”); người này đă thiết lập được nơi thánh quả cao nhất, sau khi đă vượt qua những ǵ cần phải được tu luỵên. V́ chẳng c̣n điều ǵ cần phải được tu luyện vượt trội hơn thế nữa. Vị nào đă đoạn tận được hết các lậu hoặc, được là bậc vô học. Loại c̣n lại nơi vị Tỳ khưu b́nh thường chẳng được tu luyện tam học, cũng như không đứng vững sau khi đă được tu luyện. Như vậy người đó là nevasekkha-nāsekkho (“chẳng phải là người hữu học cũng chẳng phải là người vô học.”)

1615. Do đă đạt đến được và đă thiết lập được tột đỉnh giới, tột đỉnh định, tột đỉnh tuệ, tột đỉnh giải thoát. Ngài là một aggo bhikkhu <246.3> (“vị Tỳ khưu đạt đến tột đỉnh ”). Bhadro (“ bậc hiền thiện”): một người không bao giờ làm điều bất thiện. V́ một phàm nhân được kính trọng v.v... được coi như là bhadro bhikkhu (“ vị hiền thiện cũng chính là vị Tỳ khưu”) do có được ân đức giới, định, tuệ, giải thoát và tri kiến giải thoát, cho đến khi họ trở thành các vị A-la-hán.

1616. Maṇdo bhikkhu <246.4> (“một người gồm tinh hoa cũng là vị Tỳ khưu”): một vị Tỳ khưu thanh tịnh; ư nghĩa ở đây là, giống như chất kem bơ chưa bị thối rữa và vẫn c̣n thanh tịnh (vippasanna). Sāro (“vị nào có được tinh chất của pháp”): do có được cùng một loại tinh chất giới. v.v... giống như một tấm áo màu xanh nhờ có tính chất của màu xanh đó. Ta nên hiểu Ngài như là sāro bhikkhu (“người có tinh chất là vị Tỳ khưu”); hoặc do pháp được thoát khỏi nhựa cây phiền năo, chỉ có vị nào đă đoạn tận được hết các lậu hoặc mới được hiểu như là sāro (“lơi cây”) mà thôi.

1617. Và về điểm này, trong ba ví dụ điển h́nh, cụ thể là: “phá bỏ được những pháp ác, bất thiện. Như vậy Ngài là vị Tỳ khưu”14 “cộng với đoạn trừ các phiền năo tuỳ thuộc vào hạn lượng, Ngài là vị Tỳ khưu” và “vị hữu học cũng là vị Tỳ khưu.” Ta đă diễn giải được bảy hạng người hữu học. Trong năm ví dụ điển h́nh, cụ thể là, “Do phá bỏ được những pháp ác bất thiện, Ngài được coi là vị Tỳ khưu”,14 với đoạn trừ các phiền năo vô hạn lượng, Ngài là vị Tỳ khưu”, “ Bậc vô học là vị Tỳ khưu”, “ vị đă đạt đến tột đỉnh là vị Tỳ khưu”, vị với đặc tính tinh hoa là vị Tỳ khưu,” chỉ có vị nào đă đoạn tận được hết các lậu hoặc nơi ḿnh mới được giải thích như vậy mà thôi. Trong nguyên nhân “phi hữu học phi vô học”, th́ chỉ có phàm nhân được đề cập. Trong các ví dụ điển h́nh c̣n lại, cụ thể là, toàn bộ những phàm nhân được kính trọng, ta diễn giải được bảy loại người hữu học và vô học.

1618. Sau khi đă diễn giải được vị Tỳ khưu nhờ tính đặc trưng biểu thị (samaññā), v.v... giờ đây Ngài cho biết thêm samaggena saṅghena <246.4> (“nhờ việc thống nhất ư kiến nơi Tăng Đoàn”) v.v... để chỉ cho thấy sau khi Ngài đă được chấp nhận vào [Tăng đoàn] (upasampadā). Về điểm này, samaggena saṅghena (“nhờ việc thống nhất ư kiến nơi Tăng Đoàn”) có nghĩa là sau khi Tăng Đoàn đă đi đến thống nhất về một hành sự duy nhất, do sự xuất hiện của nhiều vị Tỳ khưu, liên quan đến hành sự, trong hành sự được nhóm ít nhất gồm năm vị phải hành sự. Do liên quan đến việc đồng ư chọn những vị nào xứng được đồng ư đă được quyết định và v́ không có bất kỳ phản đối nào nơi những người hiện hữu. Ñatti-catutthena <246.5> (“điều đă trở thành tuyên ngôn vào lần thông báo thứ tư.”): được thực hiện với ba lần thông báo và một lần tuyên ngôn. Kammena (“bằng một hành sự”): thông qua một hành sự đúng theo giới bổn. [330] Akuppena (“không thể đảo ngược được”) : sau khi đă đạt đến hành sự vững vàng và không loại trừ. Do đă thành công trên căn bản, tuyên ngôn, thông báo, ranh giới sīma và tăng đoàn. Ṭhānārahena (“đúng v́ lư do”): đúng nguyên nhân sau đây (kāraṇa) đúng theo giáo Pháp của đạo sư.

1619. Upasampanno (“được tu lên bậc trên”): gia nhập được vào (samāpanno) pháp cao hơn (uparibhāva); đi đến quyết định là ư nghĩa ở đây. V́ pháp của vị Tỳ khưu là pháp cao hơn và Upasampanno (“được tu lên bậc trên”) được công bố sau khi đă gia nhập vào pháp đó thông qua hành sự đă được nói đến ở trên. Liên quan đến tám loại tu lên bậc trên, cụ thể là. “tu lên bậc trên bằng thiện lai Tỳ khưu, tu lên bậc trên bằng cách qui y, tu lên bậc trên bằng cách nhận được những lời giáo huấn, tu lên bậc trên sau khi đă trả lời những câu hỏi, tu lên bậc trên bằng cách nhận những trọng pháp, tu lên bậc trên do một đặc phái viên, tu lên bậc trên do tám vị tụng kinh và tu lên bậc trên do một hành sự đă được tuyên ngôn đến lần thứ tư, chỉ có ba việc cụ thể là: được tu lên bậc trên do một hành sự có tuyên ngôn lần thứ tư, tu lên bậc trên do một đặc phái viên và tu lên bậc trên do tám vị đọc tụng. Những người khác chỉ vào thời Đức Thế Tôn c̣n sống. Trong số những hạng người được tu lên bậc trên trong ví dụ điển h́nh này th́ chỉ có việc tu lên bậc trên do một hành sự được tuyên ngôn lần thứ tư được ám chỉ ở đây mà thôi.

1620. Trong phần chú giải việc thu thúc giới bổn. Pātimokkhaṃ <246.7> đây là giới điều học; v́ việc này giải thoát (mokkheti) người nào tuân giữ bảo vệ giải thoát này, người đó thoát khỏi (mocayati) đau khổ nơi các đọa xứ. v.v... Chính v́ thế ta gọi là Pātimokkha Sīlaṃ patiṭṭhā (“an trú giới bổn”) v.v... đều là các từ đồng nghĩa cả.

1621. Về điểm này, liên quan đến từ Sīlaṃ (“giới”) chắc chắn đây là từ đồng nghĩa với từ Pātimokkha tiếp theo sau cùng với giới này vào cuối việc tuyên ngôn đó. (kammavācā). Ngay từ bản chất điều này đă là như vậy, ta nên hiểu giới này như là các pháp bao gồm những cố ư.v.v... nơi một người kiêng không sát sanh,v.v... hay người nào đó chu tất được việc thực hiện các bổn phận của vị Tỳ khưu. Về điểm này ta thấy có lời nói trong luật Paṭisambhidā như sau: “giới là ǵ vậy?” có giới thuộc loại cố ư, lại có giới thuộc loại sở hữu tâm, có giới là thu thúc, giới như là không sai phạm.” (Ps. I 44)

1622. Về điểm này, giới là cố ư chính là cố ư nơi người nào đó kiêng cữ không sát sanh. v.v... hay chu tất được việc thực hiện bổn phận của ḿnh. Giới là sở hưữ tâm, chính là việc kiêng cữ (virati) nơi người nào đó kiêng không sát sanh. Hơn thế nữa, giới như là cố ư lại là bảy cố ư[câu hành với bảy loại đầu tiên] trong số mười nghiệp đạo (kammapatha) nơi người nào từ bỏ không sát sanh, v.v... giới được coi như là sở hưữ tâm chính là ba pháp c̣n lại bao gồm không tham ác, không sân ác, và chánh kiến như đă được khẳng định trong Đại Phẩm Tương ưng bộ kinh (Maha Vagga Saṃyutta) theo cách bắt đầu như sau: “Nhờ việc đoạn trừ tham ác người đó được giải thoát khỏi tham ác” (xin đọc Trung Bộ Kinh. i. 181)

1623. Giới được coi như là thu thúc: ở đây ta nên hiểu theo năm cách, cụ thể là thu thúc theo giới bổn, thu thúc với niệm.[331] thu thúc thông qua trí, thu thúc thông qua kiên nhẫn, thu thúc nhờ chánh tinh tấn. Các h́nh thái đa dạng khác được ghi trong tập chú giải Thanh Tịnh Đạo ( bản dịch Thanh Tịnh Đạo. 18; cũng xin đọc thêm MA. i. 62) giới được coi như là không sai phạm chính là việc không sai phạm thông qua những hành sự thân, khẩu của một người đang thực hiện công việc tu luyện giới.

1624. Và ở đây ta nên hiểu giới như là việc thu thúc và giới như là việc không sai phạm: là những giới hiểu theo nghĩa đen (nippariyāyato); giới là cố ư và giới là những giới hiểu theo nghĩa văn hoa (pariyāyato)[56].

1625. Nhưng v́ vị nào đă an trú (patiṭṭhāti) nơi giáo pháp các vị Tỳ khưu nhờ thu thúc giới bổn. Chính v́ thế ta gọi là patiṭṭhā (“việc an trú”) Hay vị Tỳ khưu t́m thấy hỗ trợ (patiṭṭhahati) ở đây; hay chỉ có những pháp thiện t́m được hỗ trợ ở đây mà thôi, đây là điều được an trú. Đây là ư nghĩa chúng ta nên hiểu như trong các Kinh Phật:

Nhờ an trú nơi giới, người có trí.
Khi vị Tỳ khưu, nhiệt tâm và cẩn thận
tu tập tâm và tuệ của ḿnh.
sẽ không c̣n dính líu phải pháp rối ren.
(S. i. 13; 165; Miln 34).

Cũng vậy: “Tâu bệ hạ, giới là nền tảng mọi pháp thiện” (xin đọc Miln 33) và: Tâu bệ hạ, người nào an trú được giới, toàn bộ những pháp thiện đều được phát triển vượt bậc. (Miln. 33) v.v...

1626. Chính là ādi (“khởi đầu”) hiểu theo nghĩa xuất khởi lần đầu tiên. Cũng có lời nói về vấn đề này như sau: Chính v́ thế, hỡi Uttiya, hăy thanh tịnh bước đầu những ǵ liên quan đến những điều thiện, những pháp thiện xuất khởi là ǵ vậy? Đó là giới được thanh tịnh[57] và có ư hướng thiện. (S. v. 166) v́ giống như những người kệ xây dựng thành phố[58]có ư muốn xây một thành phố trước tiên người đó phải dọn dẹp sạch sẽ cảnh quang thành phố trước đă, và sau đó đánh dấu thành phố bằng cách phân chia ra thành từng khu phố nhỏ, các giao lộ, công trường, v.v... chính v́ vậy thiền sinh ngay từ lúc đầu cũng phải dọn dẹp sạch sẽ giới, sau đó người đó mới thể hiện được chỉ, quán, thánh đạo, thánh quả và níp-bàn.

1627. Và cũng giống như người kệ nhuộm trước tiên phải giặt tấm vải trong ba loại thuốc nhuộm và khi miếng vải đă sạch sẽ người đó liền nhúng vào bất kỳ loại thuốc nhuộm tùy ư. Hay giống như một người kệ vẽ tài ba muốn vẽ một bức h́nh, ngay lúc đầu người đó phải thực hiện những công việc sơ khỏi trên bức tường và sau đó, người đó sẽ tạo ra bức h́nh cũng chính v́ thế thiền sinh vào giai đoạn sơ khởi sẽ dọn dẹp sạch sẽ giới của ḿnh và sau đó, người này mới thể hiện được những pháp tâm linh bắt đầu là chỉ và quán. Chính v́ thế giới được gọi là bước khởi đầu.

1628. Về điều này, do giống như một chiếc cẳng, được gọi là caraṇa (“chân”): chính v́ cẳng được gọi là (pāda) cũng được gọi là caraṇa. Và cũng chính v́ người có chân bị cắt cụt th́ người đó chẳng đi đến bất kỳ lộ tŕnh nào để đi đến chỗ này chỗ nọ nữa. Cho dù điều này một người vẫn c̣n đủ hai chân là điều b́nh thường. Chính v́ thế một khi giới nơi một người nào đó đă bị đứt, bị vi phạm và không hoàn tất được. [332] Việc tiến tới trí không đem lại kết quả là đi tới Níp-bàn được, chính v́ thế giới được ví như hai chân vậy.

1629. Về điểm này, do chế ngự (yamana) chính là saṃyamo <246.8> (“tự chế”); do chế ngự (saṃvaraṇa) lại là saṃvaro (“thu thúc”); và nhờ vào cả hai giới như “tự chế và giới” khi thu thúc được giải thích. Ư nghĩa của từ ở đây là: tự chế khỏi đi lạc ra ngoài bằng những việc sai phạm[59]. Như vậy saṃyamo (“tự chế”). Công việc này sẽ thu thúc, ngăn lối vào khỏi lỗi phạm. Như vậy đây chính là saṃvaro (“thu thúc”) vậy.

1630. Mukhaṃ (“điều tối tuyệt”): Điều tột đỉnh (uttama); hay trở thành một cái miệng (mukha). V́ giống như bốn loại đồ ăn được đưa vào miệng con người ta và trở nên phân tán ra toàn bộ tứ chi, chính v́ thế pháp thiện của hành giả thuộc bốn cơi cũng đi vào miệng người có giới và đem lại kết quả cho mục tiêu nhắm tới. Chính v́ thế ta gọi là mokkhaṃ. Điều đáng ngợi khen trước mặt mọi người được gọi là pāmokkhaṃ[60] (“điều chính yếu”); ta nên hiểu như là điều tột đỉnh tối thượng nền tảng chi phần. Đó là ư nghĩa cần lưu ư tới.

1631. Kusalānaṃ dhammānaṃ samāpattiyā (“ với việc thành tựu các pháp thiện”): ta nên hiểu là điều tột đỉnh, điều tốt nhất, yếu tố căn bản (nền tảng) và yếu tố chính để đạt đến thánh quả thiện nơi bốn cơi vậy.

1632. Kāyiko avītikkamo <264.10> (“không sai phạm bằng thân”) đó là ba thân thiện hạnh. Vācasiko (“bằng khẩu”) đó là bốn khẩu thiện hạnh. Kāyikavācasiko <246.11> (“thông qua thân và khẩu”) là cả hai loại này. Thông qua đặc tính này ngài vạch ra cho thấy toàn bộ được gồm trong giới với nuôi mạng là thứ tám vậy.

1633. Saṃvuto <246.10> (“thu thúc”) : đóng lại, với các căn được thu thúc có nghĩa là các căn đóng lại được. V́ giống như một căn nhà có cửa đóng lại (saṃvuta) ta gọi là nhà đóng kín cửa (saṃvutaṃ gehaṃ). Chính v́ thế ở đây người nào thu thúc được các căn của ḿnh (saṃvuta) ta gọi người đó là thu thúc các quyền. (saṃ vuta). pātimokkhasaṃvarena (“nhờ vào sự thu thúc giới bổn): hay nhờ sự thu thúc gọi là giới bổn. Upeto (“được trang bị với”) v.v... mang ư nghĩa như ta đă nói đến ở trên.[61]

1634. Với bảy từ bắt đầu với iriyati <246.15> (“cư xử”), ở đây được giải thích là ở một oai nghi của vị Tỳ khưu đang theo đuổi giới trong việc thu thúc giới bổn.[62]

1635. Trong phần mô tả về ācāragocara (“phẩm hạnh và hành xứ thích hợp”), cho dù Đức Phật mong muốn giải thích phẩm hạnh tốt của vị sa môn và hành xứ của vị sa môn, với những từ ācāragocarasampanno ti atthi ācāro atthi anācāro <246.17>(“có được phẩm hạnh và hành xứ thích hợp có cái gọi là phẩm hạnh thích hợp và cũng có cái gọi là phẩm hạnh không thích hợp.”) ngài trích các từ.

1636. Nhưng chính v́ khi một người rất quen thuộc đường đi, khi mô tả về đường đi lại nói rằng: “Bỏ bên trái, quẹo sang phải” và trước tiên người đó mô tả các nỗi hiểm nguy và con đường không đúng cần phải bỏ đi.[333] và sau đó ngài mô tả về con đường an toàn, thẳng thắn cần phải đi theo. Chính v́ thế v́ vậy Đấng pháp vương, giống như một người thành thạo đă mô tả con đường phải đi theo, trước tiên mô tả về phẩm chất không thích hợp, các Chư Phật hết thảy đều phải từ bỏ, và mong muốn được mô tả phẩm hạnh thích hợp sau đó, ngài nói rằng Tattha katamo anācāro ? <246.19> (“về điểm này, phẩm chất không thích hợp là ǵ vậy?”) v.v... V́ con đường con người b́nh thường mô tả có khi đúng có khi sai; nhưng con đường vị Như Lai mô tả th́ chắc chắn và không thể lầm lẫn được giống như một tiếng sét do Đế Thích (Indra) giáng xuống chỉ đi tới thành phố níp bàn mà thôi. Chính v́ thế có lời nói rằng: “ Hỡi Tissa, người nào thông thạo đường đi là từ dành để chỉ Vị Như Lai, Bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác (S. iii. 108)

1637. Hoặc giả đảm trách những pháp thiện là điều đúng nơi những ai đă từ bỏ những pháp bất thiện, giống như ta trang hoàng và sắp xếp những thứ như: ṿng hoa, hương nhang và thuốc cao nơi một người đă đoạn trừ hết những vết như mồ hôi và bụi bậm sau khi đă gội đầu, chính v́ thế trước tiên Ngài mô tả phẩm hạnh bất thiện cần phải được đoạn trừ, giống như vết nhơ mồ hôi và bụi bặm, và sau đó là ước muốn mô tả phẩm hạnh tốt, giống như trang hoàng, v.v... với ṿng hoa, hương nhang và thuốc cao, v.v... nơi một người đă đoạn trừ được hết vết nhơ mồ hôi và bụi bậm bám vào. Ngài nói Tattha katamo anācāro ? (“Về điểm này, đâu là phẩm hạnh không thích hợp?”) v.v...

1638. Về điểm này, Kāyiko vītikkamo <246.20> (“lỗi phạm qua thân”) có ba loại thân ác hạnh; vācasiko vītikkamo (“lỗi phạm qua khẩu”) có bốn loại khẩu ác hạnh: kāyikavācasiko vītikkamo (“lỗi phạm qua thân và khẩu”) là cả hai loại này. Như vậy ngài đă chỉ ra cho thấy lỗi phạm thuộc toàn bộ giới với nuôi mạng là thứ tám. Nhưng v́ người ta không chỉ cư xử một cách không thích hợp thông qua thân và khẩu thôi đâu, nhưng c̣n thông qua cả tâm nữa. Chính v́ thế ngài nói rằng: Sabbam pi dussīlyaṃ anācāro <246.21> (“cũng như vậy toàn bộ ác giới đều là phẩm hạnh không thích hợp vậy,” để chỉ rơ điều đó.

1639. Về điểm này, ngài nói thêm rằng: Idh’ ekacco veḷudānena <246.22> (“ở đây có người do bố thí bằng măng tre”) v.v... để cho thấy phẩm hạnh không thích hợp bằng cách phân loại nơi những trường hợp[63] đặc biệt. Về điểm này veḷudānena (“do bố thí bằng măng tre”) có nghĩa là do bố thí làm bằng măng là nguyên nhân chiếm hữu những đồ thiết yếu cho cuộc sống. V́ không được phép dâng cúng cho người ḿnh hỗ trợ măng tre trồng ở nhà hay đem từ rừng về cất giữ trong chùa [nghĩ rằng]: “như vậy họ sẽ bố thí cho tôi những đồ thiết yếu. V́ ai đó kiếm sống như vậy, th́ đă sống một cách không thích hợp bằng cuộc sống tà mạng vậy. Người đó sẽ nhận được những lời khiển trách tại đây và vào lúc này và cả trong cuộc sống mai hậu nữa. Người đó sẽ phải sa vào đọa xứ. Người nào lấy chính cây tre cá nhân của ḿnh để giúp đỡ cho những gia đ́nh th́ phạm phải lỗi phạm hành ác làm tha hóa các gia đ́nh đó. Người nào giúp đỡ người khác mà cố ư lấy cắp sẽ phải bị xử án theo giá trị của cải đó. Điều này cũng xảy ra giống như vậy đối với của cải thuộc về Tăng Đoàn.

1640. Nhưng nếu người đó lại bố thí do ḷng kiêu căng[64] xúi giục, [334] th́ lỗi phạm đến việc tài phán của cải có trị giá lớn.[65] Nhưng loại tre nào là tài sản có giá trị lớn và loại nào th́ không? Trước tiên, loại nào không trồng hay được mọc hoang dại. Chỉ có loại nào được trồng ở nơi do Tăng đoàn hạn lượng là tài sản có giá trị lớn mà thôi. Nhưng c̣n được xác định bằng kích thước nữa, kích thước chỉ bằng một ống thụt dầu th́ cũng đă là tài sản lớn rồi, nhỏ hơn kích thước đó th́ không. Nhưng nếu một vị Tỳ khưu cần đến một ống thụt dầu và một cây gậy th́ lại được phép, bằng cách làm một công việc công đức nào đó bù đắp lại (phātikamma) và công việc công đức bù đắp đó cũng chỉ được phép thực hiện khi nào có giá trị tương đương hay lớn hơn; nếu giá trị kém hơn th́ không được phép. Công việc bù đắp thuộc dạng công việc chân tay bao gồm: việc đơn giản là xách nước hoặc nhổ cỏ th́ không được phép. Chỉ được phép nếu như đó là một công việc cụ thể. Chính v́ thế những công việc được phép thực hiện để bù đắp là: công vét bùn từ đầm lên hay trải bùn đó thành bậc thang, hay san bằng những nơi không bằng phẳng.

1641. Khi vị nào lấy mà không thực hiện công việc bù đắp, th́ chỉ có thể sử dụng ngay tại nơi người đó cư ngụ mà thôi. Khi chuyển đi nơi khác, th́ vị đó phải giao lại cho Tăng đoàn hay đem trả lại mà đi. Nếu vị đó không cố ư lấy và ra đi, và khi đến nơi ở mới mà nhớ lại th́ phải đem trả lại chỗ cũ. Nếu có ǵ nguy hiểm xảy ra, người đó lại để lại tại một ngôi chùa nào đó trên đường đi và ra đi.

1642. Người nào đến thăm chùa và ngỏ lời xin măng tre: th́ vị Tỳ khưu chớ nên mạo hiểm mà cho bất kỳ ai, [nói rằng:] “Tre của Tăng Đoàn” nếu người đó tiếp tục yêu cầu hay c̣n đe dọa; th́ Tỳ khưu đó được phép nói: “Xin lấy và làm đôi việc công đức như là việc đền tội”. Và trong trường hợp này không diễn ra việc bố thí măng tre. Nếu để làm việc đền tội người đó để lại cho [Tăng Đoàn] một con dao hay một chiếc ŕu, v.v... hay bố thí thực phẩm để [Tăng Đoàn] sử dụng... th́ không được phép nhận của đền tội đó. Nhưng trong tập chú giải Luật có nói: Nếu người nào chặt tre và ra đi khi nhà của họ bị hỏa hoạn th́ không được ngăn cản chữa lửa.”

1643. Nếu có trận dịch làm hư hại cây tre[66] xuất hiện trong một cánh rừng tre thuộc quyền sở hữu của Tăng Đoàn, nếu như người ta không chặt đi tre sẽ hư hỏng hết. Tăng Đoàn phải sử lư như thế nào đây? Phải nói cho dân chúng biết khi đi khất thực. Nếu dân chúng không muốn chặt tre, ta nên báo cho họ biết: Các ngươi có thể lấy một nửa số tre đó. Nếu họ vẫn không muốn lấy, hăy nói với họ: “các ngươi có thể lấy hai phần.” Khi họ vẫn không muốn lấy, hăy nói cho họ: “Đồ đă bị huỷ hoại th́ nhà chùa chẳng dùng vào việc ǵ cả, các ngươi có thể bù đắp lại khi nào các ngươi có thời gian rảnh rỗi, hăy chặt tre và lấy đi. Điều đó chẳng phải là bố thí tre đâu và nếu có hỏa hoạn thiêu rụi rừng tre hay lũ lụt cuốn trôi hết th́ cũng được áp dụng cùng một luật lệ như vậy.

1644. Và liên quan đến cây rừng cũng nên áp dụng cùng một qui tŕnh như vậy. Nhưng nếu một cây gỗ có kích thước bằng một [bậu cửa nhà] th́ [được coi như là] tài sản có giá trị; chỉ được phép chặt cây của Tăng đoàn để làm chỗ ở cho Tăng đoàn mới không cần xin phép. [335] Nhưng với mục đích như ta đă bàn đến ở trên, ta chỉ được phép làm sau khi đă xin phép.

1645. Liệu có được phép chặt cây để làm chỗ ở cá nhân hay không? Không được phép làm như vậy; nhưng với danh nghĩa là việc làm chân tay. Để làm một chỗ ngủ trong một căn nhà th́ lại được phép. Một ngôi nhà thành ba nhà th́ cũng được phép. Nếu nếp nhà đó thuộc sở hữu cá nhân c̣n đất lại thuộc Tăng đoàn, th́ một phần tương tự như vậy cũng được thực hiện để làm một căn nhà; một nhà cho hai người cũng đư