|
CHÚ GIẢI BỘ PHÂN TÍCH
Nguyên
Tác Pāli: Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG BA
PHÂN TÍCH CÁC
GIỚI A . CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO KINH TẠNG. 265. [55] Giờ đây tiếp theo sau việc phân tích các giới cho thấy chương phân tích trong ba lục đề (sestad) bằng cách gộp toàn bộ các giới thành sáu nhóm, Ngài cho biết: Cha dhātuyo <82. 1> (“lục giới”) v.v... Ở đây, cha (“sáu”) là cách phân chia số học; dhātuyo (“giới”) và cách mô tả các pháp được phân chia như vậy. (a). Lục đề đầu tiên. 266. Liên quan đến paṭhavīdhātu (“địa giới”), ư nghĩa của giới này chính là “tự nhiên” (sabhāva); và ư nghĩa của tự nhiên ở đây là (rỗng không) (suñña); và ư nghĩa của rỗng không ở đây là không có chúng sanh (nissatta). Như vậy đây là đại (giới) chỉ thuộc về đất mà thôi hiểu theo nghĩa là tự nhiên, rỗng không chứ không phải là chúng sanh do đó là địa giới. Và cũng giống vậy liên quan đến thủy giới. v.v... Ở đây ư nghĩa nên được hiểu như vậy bằng cách nắm rơ kết cấu nơi các câu văn viết theo văn phong kiểu này. 267. Paṭhavīdhātu (“địa giới”) yếu tố cứng (patiṭṭhāna). Āpodhātu (“thủy giới”) là yếu tố kết dính (ābandhana). Tejodhātu (“hỏa giới”) là yếu tố nấu chín (chín mùi) (paripācana). Vāyodhātu (“phong giới”) là yếu tố trương phồng (vitthambhana)[87] ākāsadhātu <82.2> (“không giới”) là yếu tố không thể đụng chạm tới được (asamphuṭṭha) Viññāṇadhātu (“ thức giới”) là yếu tố nhận thức (vijānana). Địa hay địa giới 268. (1) Paṭhavīdhātu dv’ayaṃ[88] <82.4”) (“địa giới gồm hai loại”) paṭhavīdhātu dve ayaṃ; ư nghĩa ở đây là địa giới này không những chỉ có một loại, nhưng lại chia ra làm hai loại nội phần và ngoại phần và trở thành hai giới, chính v́ thế Ngài cho biết: Atthi ajjhattikā atthi bāhirā (“có giới bên ngoài và bên trong”) ở đây, ajjhattikā (“bên trong hay nội phần”) được gộp chung nơi tương tục tính của chúng sanh, bản chất nội phần của chính chúng ta; bāhirā (“ngoại phần”) cũng được gộp chung lại trong tương tục tính với các hành, không liên quan ǵ đến các quyền cả. Ajjhattaṃ paccattaṃ. <82.6> (“nội phần, cá nhân”) cả hai chỉ là các từ dành cho “phần nội phần của chính chúng ta”. 269. Giờ đây để có thể chỉ rơ theo quan điểm các trạng thái bản chất các cứng đó. Ngài phán: kakkhaḷam v.v... ở đây kakkhaḷam (“cứng”) có nghĩa là rắn chắc, Kharigataṃ,[89] (“thô, cứng”) có nghĩa là thô kệch, xù x́. Trạng thái cứng rắn của điều ǵ đó được gọi là kakkhaḷattaṃ (“rắn chắc”) kakkhaḷabhāvo (“trạng thái cứng rắn”) có nghĩa là bản chất cứng rắn. 270. Ajjhattaṃ upādiṇṇaṃ (“nội phần do thủ”): điều ǵ được thành do thủ và được gọi là của chính ta, của cá nhân, thuộc nội phần. “thành do thủ” là tên gọi dành cho tám pháp[90] thân. V́ tám pháp thân có thể hay không thể do nghiệp sở sanh. Và liên quan đến điều đó ta có thành do thủ. Như vậy Ngài nói: ajjhattaṃ upādiṇṇaṃ. Tuy nhiên để có thể chỉ ra do được lấy, nắm lấy, cầm lấy, là toàn bộ pháp thành do thủ. 271. Giờ đây để chỉ rơ cho thấy cùng một địa giới đó nhờ vào các xứ, ta có seyyathīdaṃ kesā lomā <82.7> (“có nghĩa là, tóc trên đầu, lông trên ḿnh”), v.v... được đề cập tới. Ở đây seyyathīdaṃ (“có nghĩa là”) một tiểu từ , ư nghĩa của tiểu từ này là: điều ǵ được cho là địa giới nội phần? Hay điều ǵ đó mà ta gọi là nội phần, các nhân, cứng rắn? kesā lomā (“tóc trên đầu, lông trên ḿnh”) v.v... là điều chỉ rơ ra các loại được gọi là địa giới do thuộc về các xứ đó. Đây là điều Ngài đă nói: tóc trên đầu chính v́ thuộc cá nhân, thành do thủ, lại thuộc tám pháp thân, trạng thái là cứng rắn, là một phần đặc biệt của cơ thể. Tóc trên đầu. v.v.v..nhưng ở đây, bằng cách thêm vào óc đă được truyền xuống trong bản văn Paṭisambhidāmagga nhưng không được khẳng định ở đây, nên [chúng ta nói]: óc có đặc tính nội phần, thành do thủ. Thuộc về tám pháp thân, trạng thái là cứng rắn, lại là một phần đặc biệt của cơ thể chúng ta. 272. Phần dưới, liên quan đến Pitta <83.6> (“mật”), v.v... trong phần diễn giải về āpodhātu (“thủy giới”) ,v.v... ta có thể áp dụng cùng một phương như trên. 273. Ta chỉ ra được điều ǵ nhờ những đặc tính kể trên? Đem đến cho tác ư về các giới (dhātumanasikāra). Nhưng một người ước ao đạt đến thiện cao nhất, th́ cần phải thực hiện điều ǵ, cụ thể là Bậc A-la-hán, thiết lập thiền quán nhờ việc thực hiện tác ư các giới chăng? Tứ thanh tịnh giới cần phải được tu luyện. Đối với người nào có được giới thành công trong việc phát triển đề mục thiền (chủ đề thiền). Hệ thống tu luyện này nên được hiểu theo phương pháp đă được khẳng định trong Thanh Tịnh Đạo (Vis.tr. 353tt). Nhưng sau khi đă thiết lập được giới th́ người nào đă tu luyện được giới phải cắt đứt mười trở ngại ban đầu; phương pháp nhằm cắt đứt [mười trở ngại này] đă được khẳng định trong tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Vis. tr. 90 tt) chủ đề thiền phải được học hỏi nghiên cứu do những người đă cắt đứt được các trở ngại trên. Cũng vậy đối với bảy thiện xảo học hỏi (xin đọc Vis.tr. 241) và mười thiện xảo tác ư.(xin đọc Vis.tr. 234) nên cần đến một thiền sư đang giảng dạy các chủ đề thiền để giải thích. Cũng vậy chủ đề thiền phải được loại bỏ hết mọi khó khăn và người đệ tử phải làm quen với chủ đề thiền đó bằng cách tụng chủ đề này trong nhiều cơ hội trước sự hiện diện của vị thiền sư của ḿnh. V́ điều này đă được đề cập đến trong bản diễn giải: “Nơi một Chư vị Tỳ Khưu mới bước vào hành thiền và muốn thoát khỏi lăo và tử. Thật đáng mong ước có được bảy thiện xảo học hỏi nghiên cứu. Và cũng có khả năng khéo tác ư trong mười cách nhập thiền.” 274. Ở đây (1) [bằng miệng (lời)] (2) bằng tâm, (3) màu sắc, (4) bằng h́nh dạng, (5) bằng phương hướng, (6) bằng địa điểm, (7) bằng loại bỏ (Vis. tr. 241) chính nhờ vào bảy cách thiện xảo học hỏi này liên quan đến tác ư những giới được coi như là những chủ đề thiền thật đáng ước ao biết nhường nào, (i) về tiến hành, (ii) không quá nhanh, (iii) không quá chậm, (iv) tránh phân tâm, [57](v) thắng vượt một khái niệm, (vi) giải thoát tiệm tiến, (vii) trạng thái, (viii-x) và ba bài Kinh. Chính trong mười cách này mà khéo tác ư là điều đáng ước ao. Cả hai vấn đề này sẽ được giải thích sau đây dưới tiêu đề phân tích về Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhānavibhaṅga) (xin đọc ở dưới đây, §1060 tt) 275. Nhưng kẻ nào đă học hỏi được những chủ đề thiền theo cách này nên tác ư đến những chủ đề thiền. Xa lánh tám điều lỗi phạm về nơi cư trú như đă được khẳng định trong Thanh Tịnh Đạo.Và cư trú trong nơi trú ngụ có được năm yếu tố. Chính người đó có được năm chi tinh cần, vị này phải thực hiện như vậy vào lúc đi khất thực trở về. Sau khi dùng bữa và trở lại địa điểm ẩn cư. Và sau khi đă tác ư được từng thể liên quan đến tóc trên đầu, v.v... theo màu sắc, h́nh dáng, phương hướng, và phân định. Cuối cùng người đó nên kiểm soát việc tác ư đó như sau: 276. Điều được gọi là “tóc trên đầu” mọc lên bên trong da (camma) bao phủ hộp sọ. Ở đây, chính v́ khi cỏ kuntha mọc trên đỉnh một tổ kiến, th́ đỉnh tổ kiến đó cũng không biết được: “có cỏ kuntha lại mọc trên đồi”. kể cả cỏ kuntha cũng không biết: chúng ḿnh đang mọc trên đỉnh ngọn đồi chính v́ thế lớp da bên trong che phủ trên hộp sọ cũng không biết: “tóc đang mọc trên tôi,” kể cả tóc cũng không biết: chúng ta đang mọc trên lớp da đang bao phủ trên đầu, những điều này đều trống rỗng không có quan tâm hổ tương và quán xét lại . Chính v́ thế điều được gọi là tóc trên đầu chỉ là một thể riêng của thân xác, không có cố ư, vô kư, trống rỗng, không phải là chúng sanh, vậy nên chỉ là địa giới cứng nhắc. 277. Lomā (“lông trên ḿnh”) mọc trên phần da che phủ thân thể. Ở đây cũng giống như loại cỏ dabba mọc trên một băi trống trong làng. Băi đất trống trong ngôi làng chẳng biết được: có cỏ dabba mọc trên tôi, cả cỏ dabba cũng không hề biết: Chúng ta đang mọc trên chỗ đất trống trong ngôi làng trống trơn. Cũng chính v́ thế lớp nội biểu b́ bao phủ toàn bộ thân xác cũng chẳng biết được: “Có lông trên người đang mọc trên tôi.” kể cả lông trên ḿnh cũng chẳng biết được: Chúng ta đang mọc trên lớp biểu b́ bao phủ cả thân xác đó. Những điều trên không có mối quan tâm hỗ tương với nhau. [58]và quán xét lại, thế nên, cái ta gọi là lông trên ḿnh chỉ là một thể riêng của thân xác, không có cố ư vô kư, rỗng không, chẳng phải là chúng sanh, song chỉ là địa giới cứng nhắc. 278. Nakhā (“móng tay - móng chân) mọc ở đầu ngón tay [và đầu ngón chân][91] Ở đây, khi mấy đứa trẻ nghịch ngợm lấy tăm đâm thủng trái madhuka, cái tăm đâu có biết: “Nhân quả madhuka đang nằm trên chúng ta”, ngay cả nhân qủa madhuka cũng không hay biết: “Chúng ta đang nằm trên chiếc tăm.” Cũng vậy đầu ngón tay ngón chân không hay biết ǵ: có móng chân móng tay mọc ở phần đầu chúng ta. Cả móng (tay, chân) cũng không hay biết: chúng ta đang mọc trên đầu ngón tay đầu ngón chân. Những điều này thiếu quan tâm lẫn nhau, và không quán xét lại [58] Như vậy điều ta gọi là móng (chân móng tay) chỉ là một thể riêng nơi thân xác chúng ta. Không có cố ư, vô kư, trống rỗng, không phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc. 279. Dantā (“răng”) mọc trên xương hàm. Ở đây chính v́, khi người kệ xây dựng các cây cột trên các hộc đá gắn chúng lại bằng một loại xi-măng (silesa).[92] Các hộc đá đó không hay biết: “người ta đă dựng các cây cột trên chúng ta”. Kể cả các cây cột cũng không hay biết: người ta đă dựng chúng ta trên các hôc đá đó, chính v́ thế xương hàm chẳng hay biết: có răng mọc trên chúng ta, cũng vậy răng không hay biết ǵ: “Chúng ta đang mọc trên xương hàm.” Những thể này thiếu quan tâm đến nhau, và không biết quán xét lại. Chính v́ thế điều được gọi là răng chỉ là một thể riêng trên thân xác chúng ta, hoàn toàn vô cố ư, vô kư và rỗng không, chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc. 280. Taco (“da”) được thấy bao phủ toàn bộ thân xác. Ở đây, chính v́, khi một cây đờn luưt lớn được bọc trong một chiếc vỏ bọc da ḅ được làm mềm với nước ẩm, cây đờn luưt chẳng hề biết được: tôi được bọc trong một chiếc vỏ bao làm bằng da ḅ ướt. Cũng vậy chiếc vỏ da ḅ ướt cũng chẳng hay biết: tôi đang bao bọc cây đờn luưt. Chính v́ thế thân xác cũng không hay biết : có lớp da bao phủ toàn thân tôi. Cũng vậy da cũng không biết: “Tôi đang bao bọc thân xác của một con người.” Những thể này không hề có mối quan tâm lẫn nhau và cũng chẳng biết quán xét. Chính v́ thế điều ta gọi là da chỉ là một thể riêng trên thân xác này, hoàn toàn vô ư, vô kư, trống rỗng không phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc. 281. Maṃsaṃ (“thịt”) Được thấy trát đem vào một chiếc khung xương gồm rất nhiều xương trên cơ thể. Ở đó, giống như khi người ta trát một lớp đất sét dầy trên tường, bức tường không hay biết ǵ: Người ta trét trên tôi một lớp đất sét dầy, cũng thế lớp đất sét dầy cũng không hay biết ǵ: người ta trét tôi lên bức tường. Cũng vậy khung xương chẳng hay biết ǵ: người ta trét đầy thịt gồm 900 miếng thịt lên tôi, thịt cũng chẳng hay biết: người ta trét tôi lên trên khung xương. Những thể này không có mối quan tâm lẫn nhau và cũng chẳng biết quán xét ǵ cả. Chính v́ thế cái ta gọi là thịt chỉ là một thể riêng của cơ thể ta, hoàn toàn vô ư, vô kư, trống rỗng, không phải là chúng sanh mà chỉ là địa giới cứng nhắc. 282. Nahārū (“gân”) Ta thấy gân xuất hiện bên trong thân xác nối các khúc xương lại với nhau. Ở đây, chính v́ khi các cành lá liễu và cành khô được các cây leo cột lại với nhau, cành liễu cũng như cành cây khô không hề biết: “ có các cây leo đă cột chặt chúng ta lại với nhau”, cũng vậy các cây leo không hay biết: chúng ta đang cột chặt cành liễu và các cành khô lại với nhau. Cũng vậy xương không hay biết ǵ: có các sợi gân đang cột chúng ta lại với nhau. Những sợi gân cũng vậy chẳng hay biết: chúng ta đang cột những khúc xương lại với nhau. Những thể này thiếu mối quan tâm [59]lẫn nhau và cũng chẳng hề biết quán xét ǵ cả. Chính v́ thế điều ta gọi là gân chỉ là một thể riêng trong cơ thể này, hoàn toàn vô ư, hoàn toàn vô kư, trống rỗng, không phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc. 283. Aṭṭhi (“xương”) liên quan đến xương, ta thấy xương gót chống đỡ cho xương mắt cá, xương mắt cá chống đỡ cho xương ống chân; xương ống chống đỡ cho xương đùi; xương đùi chống đỡ cho xương chậu, xương chậu chống đỡ cho xương sống, xương sống chống đỡ xương cổ, xương cổ chống đỡ xương đầu, xương đầu tựa trên xương cổ; xương cổ tựa trên xương sống; xương sống tựa trên xương châụ; xương chậu tựa trên xương đùi, xương đùi tựa trên xương ống, xương ống tựa trên xương mắt cá, xương mắt cá tựa trên xương gót. Ở đây, giống hệt khi gạch gỗ và phân ḅ được xây lên.[93] Những ǵ ở dưới đâu có biết: chúng ta đang chống đỡ những ǵ được xây ở trên. Cũng thế những ǵ ở trên chẳng hề biết: mỗi chúng ta đang tựa trên những ǵ được xây ở dưới. Cũng vậy xương gót đâu có biết: ḿnh đang chống đỡ cho xương mắt cá đâu, cả xương mắt cá cũng vậy chẳng hề biết: ḿnh đang chống đỡ xương ống, cả xương ống cũng không biết: ḿnh đang chống đỡ cho xương đùi, cả xương đùi cũng không biết: ḿnh đang chống đỡ cho xương chậu, cả xương chậu cũng không hay biết: ḿnh đang chống đỡ cho xương sống, cả xương sống cũng không biết: ḿnh đang chống đỡ cho xương cổ, cả xương cổ cũng không biết: ḿnh đang chống đỡ cho xương đầu, cả xương đầu cũng không hay biết: ḿnh đang tựa trên xương cổ, cả xương cổ cũng không hay biết: ḿnh đang tựa trên xương sống, cả xương sống cũng không biết: ḿnh tựa trên xương chậu, cả xương chậu cũng không biết: ḿnh đang tựa trên xương đùi, cả xương đùi cũng không biết: ḿnh đang tựa trên xương ống, cả xương ống cũng không biết: ḿnh đang tựa trên xương mắt cá, và xương mắt cá cũng không biết: ḿnh đang tựa trên xương gót. Những thể này thiếu mối quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ cả, chính v́ thế cái ta gọi là xương chỉ là một thể riêng thấy trong cơ thể này. Không hề có cố ư vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc. 284. Aṭṭhimiñjaṃ (“tuỷ xương”) được thấy nằm bên trong đa số các xương. Ở đây, y hệt như khi các chồi tre, v.v... nằm trong đốt tre, v.v... [60] những đốt tre đâu có biết: chồi tre đang nằm trong chúng ta, cũng như các chồi tre, v.v... chẳng hay biết chúng ta đang nằm ở trong đốt tre, v.v... cũng chính v́ thế xương không hề hay biết: tủy đang nằm bên trong chúng ta, cũng như tủy xương chẳng hề biết ǵ: tôi đang nằm bên trong xương. Những thể này thiếu mối quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết, chính v́ thế ta gọi tủy xương chỉ là một thể riêng trong thân xác này, không hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rống chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc, 285. Vakkaṃ <82.9> (“cật hay thận”) được thấy nằm hai bên thịt tim. Được cột lại bằng những sợi gân chắc chắn, xuất phát từ một bên cổ[94] và sau khi đă đi xuống một quăng ngắn, liền chia làm hai. Ở đây giống như một cặp qủa xoài được cột chặt vào với cành, cành xoài đâu có biết: ta đă cột hai quả xoài lại với nhau, cũng vậy cặp xoài đó cũng chẳng biết: cành xoài đă cột chúng ta lại với nhau, cũng như vậy hai sợi gân côt chắc chắn đến thế đâu có biết : ta đă cột chặt hai quả cật lại với nhau, cũng vậy hai qủa cật chẳng hề biết: chúng ta được cột chặt lại với nhau bằng hai sợi gân chắc chắn. Những thể này thiếu mối quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết, chính v́ thế cái ta gọi là hai qủa cật chỉ là một thể riêng trong thân thể ta, không hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc, 286. Hadayaṃ (“tim”) được thấy nằm bên trong cơ thể gần giữa khung xương sườn. Ở đây cũng vậy một cục thịt nằm giữa khung một chiếc xe cũ, phần bên trong chiếc xe cũ đó không hề biết: một cục thịt được đặt gần phần giữa tôi, cũng vậy miếng thịt đó cũng chẳng hề hay biết: tôi đang ở phần giữa bên trong khung một chiếc xe cũ, chính v́ vậy phần bên trong khung xương sườn không hay biết: có một trái tim nằm gần khoảng giữa tôi, cũng thế trái tim không hay biết: tôi đang nằm gần giữa phần bên trong khung xương sườn. Những thể này thiếu mối quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế điều ta gọi là trái tim chỉ là một thể riêng của thân xác mà thôi, không hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc. 287. Yakanaṃ (“gan”) Gan nằm bên trong cơ thể gần phía bên phải, giữa hai vú. Ở đây, chính v́ hai cục thịt được gắn vào bên một b́nh nấu nước. Phía bên b́nh nước đó chẳng biết được: hai cục thịt được gắn vào tôi, cũng vậy hai cục thịt đó [61]cũng chẳng biết: chúng tôi được gắn vào phía bên chiếc b́nh nấu đó, cũng vậy phía bên phải ở phần giữa hai núm vú không hề biết: gan nằm gần tôi, gan cũng chẳng hề biết được: tôi đang nằm gần phía bên phải giữa hai núm vú. Những thể này thiếu mối quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế điều ta gọi là gan chỉ là một thể riêng trong cơ thể này, không có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc, 288. Liên quan đến kilomakaṃ (“cơ hoành”)[95] phần cơ hoành che dấu được thấy bao quanh tim và cật. Phần để lộ ra bao phủ phần thịt dưới làn da toàn thân thể. Ở đây, cũng giống như miếng thịt bọc trong miếng giẻ, miếng thịt không hay biết: tôi đang được gói bên trong miếng giẻ, cũng vậy, miếng giẻ không hề hay biết: tôi đang gói cục thịt bên trong tôi. Cũng như vậy tim, cật và thịt chẳng hay biết nơi toàn bộ cơ thể ta chẳng hay biết ǵ: các cơ hoành đang che phủ chúng ta, cả các cơ hoành cũng không hề hay biết: tôi đang bao bộc tim, cật và thịt nơi toàn bộ phần thân thể. Những thể này thiếu mỗi tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế cái ta gọi là cơ hoành chỉ là một thể riêng trong cơ thể này, không có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc, 289. Pihakaṃ (“lá lách”) ta thấy lá lách nằm gần phía trên bụng về phía bên trái tim. Ở đây cũng tương tự một cục phân ḅ nằm gần bên trên kho thóc th́ phần bên trên kho thóc không hề biết được: có một cục phân ḅ đang nằm gần tôi. Cũng như vậy cục phân ḅ chẳng hay biết: Tôi đang nằm ở phía bên trên kho thóc. Chính v́ thế phần trên bụng cũng không hay biết: có lá lách đang nằm gần bên tôi, cũng thế lá lách chẳng hay biết: tôi đang nằm ở phần trên bụng. Những thể này thiếu tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ cả. V́ vậy cái gọi là lá lách chỉ là một thể riêng nằm bên trong cơ thể ta, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng, cũng chẳng phải là một chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc, 290. Papphāsaṃ <82.10> (“phổi”) Phổi nằm bên trong cơ thể giữa hai núm vú. Treo bên trên tim và gan và phủ lấy cả hai. Ở điểm này, giống như có một tổ chim đang treo lơ lửng bên trong kho thóc cũ kỹ, phần bên trong kho thóc cổ lỗ đó không hề hay biết: có một tổ chim đang treo lơ lửng bên trong tôi, cũng vậy tổ chim đó cũng không hay biết: tôi đang được treo lơ lửng bên trong một kho thóc cũ kỹ. [62] Cũng như vậy phần bên trong cơ thể không hề biết: Phổi được treo lơ lửng bên trong tôi, cũng vậy hai lá phổi cũng chẳng hay biết: chúng tôi được treo lơ lửng bên trong một thân xác như vậy. Những thể này thiếu mất tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế những ǵ ta gọi là phổi chỉ là một thể riêng của cơ thể. Chẳng có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng cũng chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc, 291. Antaṃ (“Ruột già”) Ruột già được thấy nằm bên trong cơ thể trải dài từ cuối cổ[96] trở xuống cho tới (hậu môn) là chỗ bài tiết phân ra ngoài. Về điểm này, giống như xác con rắn săn chuột bị chặt đầu[97] nằm cuộn tṛn[98] và được đặt nằm gọn bên trong một máng nhào bột màu đỏ, chiếc máng màu đỏ không hay biết: xác con rắn chuột đặt nằm gọn bên trong tôi, cũng vậy xác con rắn săn chuột cũng không hay biết: tôi đang nằm bên trong chiếc máng màu đỏ. Cũng giống như vậy, phần bên trong cơ thể không hay biết: ruột già nằm gọn bên trong tôi: cũng thế ruột già cũng không hay biết: tôi nằm bên trong một cơ thể. Những thể này thiếu mất tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ cả. Cũng như vậy cái gọi là ruột già là một thể riêng trong cơ thể ta, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc, 292. Antaguṇaṃ (“ruột non”)[99]được t́m thấy nằm bên ở khoảng giữa 21 cuộn ruột già kết lại với nhau. Về điểm này, cũng giống như khi sợi dây thừng được may lại làm thành một cuộn dây lau chân, cuộn dây thừng lau chân chẳng hề biết: một sợi dây được may tôi lại với nhau, cũng vậy những sợi dây cũng không hay biết: chúng ta được may lại với nhau thành một cuộn dây lau chân. Cũng vậy ruột già không hay biết: ruột non lại thấy cột lại với tôi, cũng thế ruột non không hề biết: chúng ta được thấy cột chung lại với ruột già. Những thể này thiếu mất tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế cái được gọi là ruột già chỉ là một thể riêng nằm trong cơ thể này, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, mà chỉ là địa giới cứng nhắc, 293. Udariyaṃ (“đồ ăn”) những ǵ ta đă ăn, uống, nhai và nuốt đang nằm trong dạ dày. Ở đây, giống như những ǵ con chó nôn mửa ra nằm trong chiếc tô cho chó ăn, chiếc tô cho chó ăn đó không hay biết: đồ con chó nôn mửa ra đang nằm trong tôi, cũng như vậy đồ chó mửa ra cũng chẳng hay biết: tôi đang nằm gọn trong tô ăn cho chó ăn. Cũng như vậy dạ dày không hay biết: đồ ăn đang nằm gọn trong tôi, cũng như vậy đồ ăn cũng không hay: tôi đang nằm gọn bên trong dạ dày. Những thể này thiếu tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế cái gọi là đồ ăn nuốt xuống bụng chỉ là một thể riêng trong cơ thể này, thiếu cố ư (volition) vô kư, trống rỗng, không phải là chúng sanh. Hoàn toàn chỉ là địa giới cứng nhắc. 294. [63] Karīsaṃ (“phân”) ta thấy phân nằm bên trong ruột già, trông giống như một khúc tre dài khoảng tám đốt ngón tay và được gọi là chỗ đựng dành cho đồ ăn đă tiêu hóa. Về điểm này, giống như khi ta nhồi đất sét nâu vào trong một ống tre, khúc ống tre đó chẳng hề hay biết: đất xét màu nâu đang nằm trong tôi, cũng thế chất đất sét màu nâu cũng không hay: tôi đang nằm trong chỗ đựng đồ ăn đă tiêu hoá, chính v́ thế chỗ đựng đồ ăn tiêu hóa chẳng hề hay biết: có chất phân bên trong tôi, cũng thế chất phân chẳng hay biết: tôi đang nằm bên trong chổ đựng đồ ăn tiêu hoá. Những thể này thiếu mất tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế cái gọi là phân chỉ là một thể riêng nằm trong cơ thể, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, chỉ là địa giới cứng nhắc, 295. Matthaluṅgaṃ (“bộ năo hay óc”) Năo nằm bên trong hôp sọ. Ở đây, giống như khi một cục bột nhào đặt bên trong một vỏ quả bầu, vỏ trái bầu không hề hay biết: có một cục bột nhào đang nằm trong tôi, cũng vậy cục bột nhào cũng không hay biết: ta được đặt nằm trong vỏ quả bầu. Cũng vậy phần bên trong hộp sọ không hay biết: có năo nằm bên trong tôi, cũng thế nào cũng không hề hay biết: tôi đang nằm bên trong hộp sọ. Những thể này thiếu tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết, chính v́ thế cái được gọi là năo chỉ là một nằm trong cơ thể. Những thể này chẳng có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng, chẳng phải là chúng sanh, chỉ là địa giới cứng nhắc mà thôi. 296. Yaṃ vā pan’aññam pi (“hay bất kỳ thứ ǵ khác nữa”): Thông qua những ǵ vừa đề cập đến ở trên, Ngài muốn vạch rơ địa giới c̣n hiện hữu nơi ba thành phần sắc khác nữa bắt đầu với thủy giới, được gọi là “bất kỳ địa giới nào khác” tuỳ theo trạng thái của từng loại. 297. Phần mô tả về địa giới bên ngoài ta có, ayo <82.16> (“sắt”) là một loại kim loại màu đen. (kāḷaloha). Loha (“kim loại”) lại có bốn loại, cụ thể là: kim loại tự nhiên (jātiloha). (2) kim loại giả (vijātiloha), (3) kim loại nhân tạo (kittimaloha) và (4) Kim loại Pisāca (địa phương) 298. Ở điểm này, (1) có bảy loại kim loại tự nhiên đó là : sắt, bạc, vàng, thiếc, ch́, đồng, thủy ngân. (2) Kim loại giả là kim loại nāga (rồng) (nāgaloha) và kim loại nāsika. (3) Ba loại kim loại nhân tạo là đồng thau, hợp kim (vaṭṭaloha) một loại đồng thau khác nữa (arākūṭa). (4) Tám loại kim loại Pisāca gồm có: Kim loại Morakhata, Puthuka, Malinaka. Capalaka, Selaka, Aṭaka, Bhallaka và Dūsi[100]. Trong số này, chỉ có năm[101] loại kim loại tự nhiên được khẳng định một cách riêng rẽ trong Kinh Pāli. Nhưng tất cả những loại c̣n lại cộng với hai loại kim loại tự nhiên, cụ thể là: đồng và thuỷ ngân nên được hiểu ở đây được xếp vào loại kim loại mà thôi. 299. Tupi (“thiếc”) thiếc có màu trắng. Sīsaṃ (“ch́”) là loại thiếc có màu đen,[64] Sajjhaṃ (“bạc”) là loại kim loại bạc (rajata). Muttā (“ngọc”) là ngọc trai t́m thấy ở dưới biển. Maṇi (“đá quí”) trừ những loai đă được nói đến trong kinh Pāli như là khoáng chất lưu ly (veluriya) v.v... c̣n toàn bộ những ǵ được xếp vào loại nước (jati) và bóng láng (rasa) được xếp vào loại “đá quư”. Veḷuriyo (“lưu ly”) là một loại đá qúi có màu xanh giống như màu cây tre,[102] Saṅkho (“xà cừ”) là một loại vỏ ṣ. Silā (“cẩm thạch”) là toàn bộ những loại đá cẩm thạch bắt đầu với đá cẩm thạch màu đen, màu san hô. Rajataṃ (“bạc”) chính là kahāpana [đồng bạc cắc]. Jātarūpa (“vàng”) là một đồng cắc suvaṇṇa [ đồng vàng][103] Lohitaṅko (“đá ruby”) đó là một loại đá quí màu đỏ. Masāragallaṃ “ngọc mắt mèo”)[104] là một loại đá quí đa dạng khác. 300. Liên quan đến tiṇaṃ (“trang trí hoa lá cành”) v.v... những ǵ không gồm vào loại lơi cây (sāra) ngay cả trong trường hợp lá dừa, v.v... được gọi là tiṇaṃ (“tán lá”) loại nào được gồm vào loại lơi cây (sāra), ngay cả cành cây và nhánh cây con cũng được gọi là kaṭṭha <82.19> (“gỗ”). Sakkharā (“sỏi”): từ kích thước bằng một hạt đậu đến bằng một nắm tay th́ được gọi là sỏi nhưng những loại nhỏ hơn hạt đậu th́ gọi là cát. Kaṭhalaṃ (“gạch”) là bất kỳ loại gạch nào. Bhūmi (“đất”) chính là đất (earth). Pāsāṇo (“đá”) bắt đầu từ kích thước không thể cầm được trong ḷng bàn tay nhưng không đạt đến kích thước của một con voi th́ ta gọi là cục đá. Từ kích thước con voi trở lên được gọi là (pabbata) (“núi đá”) 301. Yaṃ vā pana (“hay bất kỳ điều ǵ khác”) qua câu này gồm bất kỳ loại địa giới nào được xếp vào loại cây thốt nốt và cây dừa, v.v... 302. Yā ca ajjhattikā paṭhavīdhātu yā ca bāhirā <82.23> (những ǵ thuộc loại địa giới nội phần và những ǵ thuộc ngoại phần): qua điểm này Ngài muốn chỉ rơ ra cho thấy hai loại địa giới cũng chỉ gộp lại thành một thứ duy nhất nhờ trạng thái hiểu theo nghĩa đặc tính cứng rắn. Thủy giới 303. (2) Trong phần mô tả về thủy giới, v.v... ta nên hiểu theo như cách đă được khẳng định ở trên, phần mô tả về thủy giới v.v... ta nên hiểu theo cách thức như đă khẳng định ở trên. 304. Liên quan đến āpo āpogataṃ <83.4> (“nước, cách tươm ướt”) v.v... āpo (“nước”) hiểu theo nghĩa kết lại (dính liền, một khối) với nhau; v́ đặc tính “đă hóa thành” với bản chất của nước đó chính là āpogataṃ (“cách tươm ướt”, nghĩa đen là “hóa thành nước”). Đó là sneha (“sự quếnh dẻo”) là do đặc tính chất lỏng; cũng v́ đă “hóa thành” bản chất chất lỏng đó mà nước trở thành snehagataṃ (“cách quến dẻo”) Bandhanattaṃ rūpassa <83.5> đặc tính (“kết dính của sắc”) là hiện trạng dính liền nơi sắc do đặc tính không tan vỡ ra (rời ra). 305. Cũng như pitaṃ semhaṃ <83.6> (“mật, đờm ”) v.v... nên nhớ là các đại dính kết với nhau theo màu sắc, h́nh dáng, phương hướng, vị trí và phân định ranh giới. [65] Ở điểm này, đây là phương pháp phải chấp nhận. 306. Liên quan đến những loại pitta (“mật”) loại mật không cố định, gắn kết với mạng quyền (khả năng duy tŕ cuộc sống) được coi như thấm nhập vào toàn bộ cơ thể, loại mật cố định chỉ thấy xuất hiện trong túi mật. Về điểm này, chính v́ khi dầu thấm vào chiếc bánh, chiếc bánh không hề hay biết: dầu đă thấm vào tôi, cũng vậy dầu cũng không hay biết: tôi đă thấm vào chiếc bánh, chính v́ thế cơ thể cũng không biết: mật không cố định đă thấm nhập vào tôi, cũng vậy mật không cố định không hề biết: tôi thấm toàn bộ cơ thể, và chính v́ khi bong bóng cây leo kosātakī không hay biết: nước mưa đă dồn đầy trong tôi, cũng thế nước mưa không hề biết: tôi đang ở đầy trong bong bóng cây leo kosātakī, cũng vậy bong bóng mật không hề biết:mật cố định ở trong tôi, và mật cố định cũng không hề biết:tôi đang ở trong bong bóng mật. Những thể này thiếu đặc tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết, chính v́ thế cái ta gọi là mật chỉ là một thể riêng trong cơ thể, chẳng có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, chỉ là thủy giới với đặc tính kết dính. 307. Semhaṃ (“đờm”) Ta thấy đờm nằm trên bề mặt dạ dày và khoảng độ một tô đầy, ở đầy giống như một hầm chứa phân có bề mặt váng bọt, hầm chứa phân đó chẳng hề biết: bề mặt váng bọt nổi bên trong tôi. Cũng vậy bề mặt nổi váng đó chẳng hề hay biết: tôi đang nổi lềnh bềnh bên trên bề mặt hầm chứa phân, cũng vậy bề mặt dạ dày không hề hay biết: có đờm nổi trên tôi, cũng vậy đờm chẳng biết ǵ: tôi đang nằm trên bề mặt dạ dày. Những thể này thiếu đặc tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết, chính v́ thế điều ta gọi là đờm chỉ là một thể riêng trong cơ thể, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, chỉ thuộc loại thủy giới với đặc tính kết dính. 308. Pubbo (“mủ”) không có địa điểm cố định, ta có thể bắt gặp mủ ở bất kỳ nơi nào có máu tụ đọng lại và śnh thối trên một phần cơ thể bị hư ,ở các vết thương do xốc cây, gai, bỏng do lửa tạo ra. Hay ở chỗ bị bỏng do nước sôi, mụn nhọt, v.v... xuất hiện. Ở điểm này, cũng giống như khi một cây rỉ nhựa ra do vết chặt bằng ŕu, dao, v.v... các phần của cây đó không hề hay biết: có nhựa trong tôi chảy ra, cũng vậy mủ cây chẳng hề hay biết: tôi đang có mặt tại nơi cây bị những vết ŕu chặt phải, chính v́ thế những phần cơ thể bị thương do những mănh vỡ, gai, v.v... [66] chẳng hề biết: có mủ chảy ra trong tôi, cũng vậy mủ chẳng biết được: tôi đang có mặt ở những chỗ đó. Những thể này thiếu tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế điều ta gọi là mủ chỉ là một thể riêng trong cơ thể, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, chỉ là một loại thuỷ giới với đặc tính kết dính. 309. Liên quan đến các (loại) lohitaṃ (“máu”), máu lưu động. Cũng giống như mật, được thâm nhập toàn cơ thể; máu tích lũy được thấy nơi phần dưới của phần gan dung lượng khoảng độ một bát, làm ướt cho thận, tim gan và phổi. Ở điểm này, theo định nghĩa máu lưu động giống như mật không cố định; nhưng giống như loại khác. Giống như nước đựng trong chiếc b́nh cổ làm ướt đáy b́nh và gốc cây ở phía dưới, đất và gốc cây ở phía dưới đâu có biết: có nước làm cho chúng ta bị ướt: cũng giống vậy nước chẳng hề biết: tôi đang làm ướt phần đất và gốc cây ở phía dưới, cũng như vậy phần phía dưới gan hay thận,v.v... cũng không biết: có máu chảy trong chúng tôi; hay chúng tôi đang có máu thấm ướt hết, cũng như máu không hề biết: tôi đang làm đầy phần dưới gan và thận, v.v... Những thể này thiếu đặc tính quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế điều ta gọi là máu chỉ là một thể riêng trong cơ thể. Chẳng có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, chỉ là một loại thủy giới có đặc tính kết dính. 310. Sedo (“mồ hôi”) được thấy lấp đầy các lỗ chân tóc trên đầu và lông trên cơ thể. Vào những lúc như khi nóng bức do lửa, và từ đó chảy ra thành giọt. Ở điểm này, cũng giống như khi các bó thân hoa huệ tây và các nhánh hoa sen được lôi ra khỏi nước, các lỗ trên thân cây huệ ,v.v... không hay biết: nước đang rỉ giọt ra. Cũng thế nước đang nhỏ giọt từ các lỗ trên thân bó hoa huệ, v.v... chẳng hay biết: tôi đang rỉ giọt từ những lỗ trên thân cây huệ và cây sen, v.v... cũng như vậy các lỗ chân tóc trên đầu và lỗ chân lông trên cơ thể, chẳng hề biết được: mồ hôi đang nhỏ thành giọt từ chỗ chúng tôi, cũng thế mồ hôi chẳng hay biết ǵ: tôi đang nhỏ thành giọt từ những lỗ chân tóc trên đầu và chân lông trên ḿnh. Những thể này chẳng có quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế điều được gọi là mồ hôi chỉ là một thể riêng trên cơ thể này, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng, chẳng phải là chúng sanh, chỉ là một loại thủy giới có đặc tính kết dính. 311. Medo (“mỡ”) là một lớp mỡ bôi trơn dầy được thấy tỏa khắp toàn cơ thể một người to béo khoẻ mạnh, và trên làn thịt chắc khoẻ, v.v... [67] nơi người gầy.Về điểm này, giống như khi có cục thịt được phủ bằng một miếng vải màu vàng, cục thịt không hay biết: miếng vải vàng đang cận kề với tôi. Cũng vậy cả miếng vải vàng không hay biết: tôi đang ở kế bên đống thịt, chính v́ vậy thịt trên toàn cơ thể hay trên chân cẳng, v.v... chẳng hay biết: mỡ đang tỏa khắp trên tôi, cũng giống vậy mỡ cũng không hề biết: tôi luôn hiện hữu kế bên thịt trên toàn bộ cơ thể, hay trên chân cẳng, v.v... Những thể này chẳng có quan tâm đặc biệt, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Cái được gọi là mỡ chỉ là một thể riêng thuộc cơ thể này, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh chỉ là một loại thủy giới có đặc tính kết dính. 312. Assu (“nước mắt”) (lệ). Khi được tạo ra thường thấy lấp đầy hốc mắt hay chảy ra ngoài thành giọt. Về điểm này, cũng như khi các hốc trên một cây dừa non được lấp đầy với nước. Các hốc cây trên đó chẳng biết: nước đang tích tụ trong chúng tôi; ngay cả nước trong các hốc cây dừa non cũng chẳng hay biết: tôi đang tràn đầy các hốc trên cây dừa non. Chính v́ thế các hốc mắt không hay biết: lệ đang dâng trào trong tôi. Cũng thế lệ không hay biết: chúng đang ở trong hốc mắt. Những thể này chẳng có quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế điều được gọi là lệ chỉ là một thể riêng trong cơ thể này mà thôi. Chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, chỉ là một loại thủy giới có đặc tính kết dính. 313. Vasā (“dầu da”) là một loại chất bôi trơn chảy ra trong ḷng và mu bàn tay, trên ḷng và mu bàn chân, trên sống mũi và trên trán trên đỉnh bả vai khi có lửa nóng, v.v... Về điểm này, giống như khi lớp bọt cơm [105] có dầu loang trên đó. Lớp bọt cơm không hay biết: có lớp dầu trải đều trên tôi, ngay cả dầu cũng chẳng rành: người ta trải tôi trên lớp bọt cơm. Chính v́ thế vị trí gồm ḷng bàn tay, v.v... chẳng hay biết: có dầu da trải ra trên tôi, cũng như vậy cả dầu da chẳng hay biết ǵ: tôi được trải trên những vị trí gồm ḷng bàn tay, v.v... Những thể này chẳng có quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế cái gọi là dầu da chỉ là một thể riêng của cơ thể này, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh chỉ là một loại thủy giới có đặc tính kết dính. 314. Kheḷo (“nước miếng”) được thấy trên bề mặt lưỡi sau khi đă chảy ra từ cả hai bên má. Khi có điều kiện thích hợp nước miếng chảy ra. Ở đây, cũng giống như khi có một lỗ hổng dưới ḍng sông có nước rỉ ra liên tục, trên mặt hố sâu đó không hề hay biết: nước rỉ ra trên tôi, cả nước cũng chẳng hay biết: tôi nằm trên bề mặt của một hố sâu. [68] cũng chính v́ thế bề mặt của lưỡi không hề biết: nước miếng đă chảy ra trên tôi từ hai bên má. Cả nước miếng cũng không hay biết: tôi đang ở trên bề mặt của một chiếc lưỡi. Những thể này chẳng có quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế cái ta gọi là nước miếng là một thể riêng trong cơ thể, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh mà chỉ là một loại thủy giới có đặc tính kết dính. 315. Siṅghāṇikā <83.7> (“nước mũi”) khi được tạo ra, ta t́m thấy nước mũi lấp đầy lỗ mũi hoặc chảy thành từng giọt ra ngoài. Ở đây, cũng giống như khi có một bao[106] chất đầy sữa đông đă thối rữa, chiếc bao đó đâu có biết: sữa đông thối rữa đang ở trong tôi. Cũng như thế sữa đông thối rữa chẳng hề hay biết: người ta đựng tôi trong chiếc bao đó, cũng vậy lỗ mũi không hay biết là: có nước mũi đang đầy nghẹt trong chúng ta, cả nước mũi cũng không hay biết: tôi đang đầy nghẹt lỗ mũi. Những thể này chẳng có quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế cái gọi là nước mũi cũng chỉ là một thể riêng trong cơ thể này,chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh mà chỉ là một loại thủy giới có đặc tính kết dính. 316. Lasikā (“dầu bôi trơn khớp xương”) được t́m thấy trong 180 khớp xương, lănh nhiệm vụ bôi trơn cho các khớp xương. Ở đây, cũng giống như khi một chiếc trục xe được bôi trơn bằng dầu nhờn trục bánh xe đâu có biết: dầu nhờn đă bôi trơn cho tôi, cũng thế dầu nhờn đâu có biết: tôi đă bôi trơn cho trục bánh xe. Cũng như vậy 180 khớp xương chẳng hay biết: dầu bôi trơn khớp xương đă bôi trơn cho tôi, cũng vậy dầu bôi trơn khớp chẳng hề hay biết: tôi đă bôi trơn cho 180 khớp xương. Những thể này chẳng có quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết. Chính v́ thế cái gọi là dầu bôi trơn khớp xương cũng chỉ là một thể riêng trong cơ thể này, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh mà chỉ là một loại thủy giới có đặc tính kết dính. 317. Muttaṃ (“nước tiểu”) được t́m thấy trong bọng đái. Ở đây, cũng giống như khi một chiếc b́nh đựng nước lật úp xuống trên một hầm cầu, chiếc b́nh nước không hay biết: hầm cầu tự hoại ở trong tôi. Cũng như vậy chiếc hầm tự hoại chẳng hay biết: tôi đang ở trong chiếc b́nh đựng nước, cũng như vậy bọng đái chẳng hề hay biết: tôi chứa đầy nước tiểu, cũng như nước tiểu chẳng hay biết ǵ: tôi được chứa trong bọng đái. Những thể này chẳng có quan tâm lẫn nhau, cũng chẳng biết quán xét ǵ hết, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh mà chỉ là một loại thủy giới có đặc tính kết dính. 318. Yaṃ vā pana “hay bất kỳ điều ǵ khác” được đưa ra có liên quan đến thủy giới tồn tại trong ba sắc phần c̣n lại. 319. [69] Trong phần diễn giải thủy giới ngoại phần, nước cốt (ép) (rasa) được tạo ra từ các loại rể được gọi là mūlaraso < 83. 14> (“nước cốt (ép) các loại rể”). Liên quan đến khandharaso (“nước cốt thân cây”) v.v... phương pháp được áp dụng th́ hoàn toàn giống nhau. 320. Khīraṃ <83.15> (“sữa”) v.v... là điều quá hiển nhiên. Nhưng phần định nghĩa ở đây không giống với định nghĩa đă đưa ra trong học giới về các loại dược (xin đọc Luật (vinaya) iii 709 tt); trong đó, sữa gồm bất kỳ loại sữa nào. Những thứ c̣n lại cũng giống như vậy, 321. Bhummāni <83.16> (“từ đất (địa) mà ra”) là nước được thấy có trong các giếng. Antalikkhāni (“từ trời (thiên) mà ra”) là nước mưa chưa đổ xuống mặt đất. 322. Yaṃ vā pana (“hay bất cứ điều ǵ khác”): ở đây là nước đá, nước tàn phá các đại kiếp, nước chống đỡ trái đất, v.v... được tŕnh bày trong câu “hay bất kỳ điều ǵ khác”) Hỏa giới. 323. (3) Trong phần mô tả về hỏa giới, tejo <83.26> (“lửa”) được hiểu theo nghĩa những ǵ có đặc tính nóng bỏng. Chính bản chất của lửa, v́ đă “đi đến” hiện trạng của lửa, c̣n được gọi là tejogataṃ (“nóng bỏng; nghĩa đen: (“hóa thành lửa”). Usmā (“sức ấm”) chính là chất lượng của nhiệt (unhākāra); là chính bản chất sức ấm, v́ đă hóa thành bản chất sức ấm, là usmāgataṃ (“ấm lên”); nghiă đen. “hoá thành sức ấm” nhờ độ ấm trong ngày, v.v... (tăng nhiệt độ) 324. Yena ca <83. 23> (“nhờ đó”); bằng cách đó khi thân xác trở nên nóng, bị kích động (kuppita).[107]Santappati <83.28> (“bị đốt nóng”) thân xác này bị tiêu hao ṃn mỏi. Nó trở thành nóng nhờ cơn sốt trong một ngày, v.v... (tăng nhiệt độ) 325. Yena ca jīrīyati (“nhờ đó mà trở thành già cỗi”) nhờ đó thân xác này trở thành già cỗi, các khả năng tiến tới suy tàn, sức lực kém đi. Và xuất hiện nếp nhăn, tóc bạc, v.v... 326. Yena ca pariḍayhati (“nhờ đó nó bốc cháy”): nhờ đó khi bị kích động thân xác này bốc cháy, và người đó la lên: “ôi nóng quá, ôi nóng quá” và muốn xức dầu thảo mộc giáng hương – dầu ḥa với sữa và bơ để đẩy lùi[108] sức nóng. Và xin được đưa cho chiếc quạt lá dừa 327. Yena ca asitapītakhāyitasāyitaṃ sammā pariṇāmaṃ gacchati. (“nhờ đó những ǵ ta đă ăn uống nhai nuốt được hoàn toàn tiêu hóa”): nhờ đó mà cơm, v.v... ta ăn, ta uống,v.v... ta đă dùng, hay bất luận thứ đồ ăn cô đặc nào như bánh ḿ, v.v... chúng ta bỏ vào miệng nhai, hay trái xoài, mật ong, mật đường, v.v... ta đă thưởng thức được tiêu hóa hoàn toàn (nấu kỹ) được phân chiết thành nước cốt, v.v... là ư nghĩa[109] ở đây. 328. Và ở đây ba loại hỏa giới đầu tiên lại có bốn cách sở sanh; hỏa giới cuối cùng chỉ sở sanh từ nghiệpmà thôi, trước tiên điều này được liệt kê trong bản diễn giải các từ ở đây. 329. Tuy nhiên, cách làm tiếp sau đây là hệ thống suy luận. Ở đây các vị tỳ khưu nên lưu ư: “những ǵ nhờ đó đem lại sức ấm cho ta” đây chỉ là một thể riêng thuộc thân xác này, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, chỉ là hỏa giới có khả năng đun nấu (trưởng thành hóa) 330. Tỳ Khưu nên nhớ kỹ điều này: Những ǵ nhờ đó khiến ta lăo hoá, những ǵ nhờ đó khiến ta bốc cháy.v.v. . .những ǵ ta ăn, uống nhai và thưởng thức đă trở thành tiêu hóa hoàn toàn, đây chỉ là một thể riêng thuộc thân xác này,[70] chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, chỉ là hỏa giới có khả năng đun nấu (trưởng thành hóa) 331. Yaṃ vā pana <83.29> (“hay bất cứ điều ǵ khác”): cũng tồn tại một loại nhiệt độ tự nhiên (utu) trong thân xác chúng ta và điều này được đề cập đến trong mệnh đề “hay bất cứ điều ǵ khác”) 332. Trong phần mô tả về lửa bên ngoài (ngoại phần), lửa thiêu đốt nhờ cành cây khô (củi), lấy cành nhánh khô làm nhiên liệu, đựơc gọi là kaṭṭhaggi <83.35> (“lửa củi”). Liên quan đến sakalikaggi <83.36> (“vỏ bào”) v.v... cùng một phương pháp được áp dụng. Saṅkāraggi (“lửa rác”) là lửa đốt phế liệu sau khi đă thu gom lại. Indaggi <83.37> (“lửa từ trời”), chính là sấm chớp. Aggisantāpo (“làm nóng bằng lửa”) tức là đun nóng bằng ngọn lửa hay bằng than củi, Suriyasantāpo (“làm nóng bằng mặt trời”) chính là sức nóng do ánh sáng mặt trời. Kaṭṭhasannicayasantāpo (“hâm nóng bằng cành củi khô”) đó là sức nóng xảy ra bằng lửa các cành củi khô. Cũng vậy với những ǵ c̣n lại. 333.Yaṃ vā pana <83.39> (“hay bất cứ điều ǵ khác”): lửa ma quái, là lửa thiêu hủy các đại kiếp, lửa hỏa ngục, v.v... cũng được gộp trong mệnh đề “hay bất cứ điều ǵ khác” Phong Đại hay phong giới. 334. (4) Trong phần mô tả về Phong Đại, [110] vāyo <84.7> (“khí hay là gió”) liên quan đến gió thổi (vāyana) chính không khí, do có được trạng thái hóa thành gió (căn phồng), ta có từ vāyagataṃ (“căn phồng” nghĩa đen “biến thành gió”). 335. Ṭhambhitattaṃ rūpassa (“đặc tính lay động cho sắc”) hiện trạng lay động nơi sắc liên tục. 336. Uddhaṅgamā vāta <84.8> (“gió thổi lên”): gió thổi lên tạo bùng lửa và nhiều trục trặc xuất hiện, v.v... [111] 337. Adhogamā vāta (“gió thổi xuống”) gió thổi ngược xuống đất thổi tan những cặn bă và nước tiểu, v.v... 338. Kucchisayā vāta (“gió thổi trong bụng”) gió thổi bên ngoài ruột già. 339. Koṭṭhāsayā vāta (“gió thổi bên trong ruột”) gió thổi bên trong ruột già. 340. Aṅgamaṅgānusārino vāta <84.10> (“gió thổi qua các chi thể”) gió tạo ra uốn éo, trải rộng, v.v... và được phân bổ trên các chi nơi toàn cơ thể thông qua mạng lưới các mạch máu. 341. Satthakavātā (“gió sắc tựa vũ khí”) gió nổi lên như thể cắt đứt các mối ràng buộc bằng những chiếc kéo lớn. 342. Khurakavātā (“gió sắc tựa dao cạo”) gió tạo ra phân cắt trong ḷng tựa như dao cạo 343. Uppalakavātā [112] (“gió qua tim”) gió tạo vui sướng tràn ngập trong ḷng. 344. [71] Assāso <84.11> (“hơi hít vào”) gió trong lỗ mũi đi vào bên trong. 345. Passāso (“hơi kệ ra”) hơi trong lỗ mũi được phát ra. 346. Và ở đây toàn bộ những kiểu gió ở trên, [ngoại trừ hai loại cuối cùng] lại có đến bốn cách sở sanh, hơi hít vào kệ ra thuộc loại tâm sở sanh. Đây là cách diễn giải theo từ. 347. Tuy nhiên, loại gió sau đây cần nên tác ư. Ở đây một vị Tỳ Khưu phân biệt (hiểu rơ) được gió xếp loại thành: “thổi lên”, v.v... là loại gió theo hướng đi lên, khiến Ngài tác ư: “điều ta gọi là gió thổi lên chỉ là một thể riêng nơi cơ thể này mà thôi, chẳng hề có cố ư, vô kư, hoàn toàn trống rỗng chẳng phải là chúng sanh, là phong giới với đặc tính là lay động. Những ǵ c̣n lại cũng được hiểu như vậy.[113] 348. Yaṃ vā pana (“hay bất cứ điều ǵ khác”): những loại gió không gộp trong thành phần khí ở đây được gộp lại trong mệnh đề “hay bất kỳ điều ǵ khác”) 349. Trong phần diễn giải phong đại ngoại phần. Puratthimā vātā <84.16> (“ gió đông”) là các loại gió thổi từ hướng đông tới. Cũng vậy trong các trường hợp pacchimā (“gió tây”). Uttarā <84.17> (“gió bắc”) và dakkhiṇā (“gió nam”). 350. Cùng với bụi là sarajā (“ gió có bụi”). Những gió nào không mang theo bụi là gió sạch được gọi là arajā ( “ gió không có bụi”). Sītā <84.18> (“gió lạnh”) là gió khởi sanh trong mùa lạnh hay khởi sanh từ những đám mây lạnh mang theo sấm sét Uṇhā (“gió nóng”) là gió khởi sang trong mùa nóng, hay khởi sanh từ những đám mây sấm sét nóng. Parittā (“gió nhẹ”) là gió thổi chậm, gió (khí) loăng. Adhimattā (“gió mạnh”) là gió hung hăn, thổi mạnh. Kāḷā (“gió mù mịt (tối”) là những loại gió khởi sanh trong những đám mây mù sấm chớp. Một số người (cho rằng) đây là từ ám chỉ, bị gió thổi qua làm cho da dẻ xám xịt lại. Verambhavātā (“gió thổi ở độ cao”) là gió thổi ở độ cao trên một dậm. 351. Pakkhavātā (“gió có cánh”) là gió khởi sanh do chuyển động của cánh, ngay cả cánh của một con ruồi. Supaṇṇavāta (“gió Supaṇṇas”) là gió của các thần điểu (garuḷas) [114] và những loại gió này thực sự cũng thuộc vào loại (“gió có cánh”) nhưng được đề cập đến một cách riêng rẽ tùy theo mức độ chiếm ưu thế của các loại gió đó. Tāḷavaṇṭāvātā. (“gió thoảng quạt lá dừa”) là các loại gió khởi sanh từ lá cây dừa đung đưa, hoặc từ bất kỳ một h́nh dạng h́nh tṛn nào tương tự. Vidhūpanavātā <84.20> (“gió do thổi”) gió khởi sanh tạo ra những làn gió chưa nổi lên xuất hiện và trở lại trạng thái của những làn gió đă nổi lên. 352. Yaṃ vā pana (“hay bất cứ điều ǵ khác”): Trừ những loại gió đă được kể trong Kinh Pāli, những loại gió c̣n lại ở đây được gộp lại trong mệnh đề Yaṃ vā pana (“hay bất cứ điều ǵ khác”) | |