A. CHƯƠNG
PHÂN TÍCH THEO KINH TẠNG
(a) [Ngũ uẩn]
2.[1]Pañcakkhandhā:
rūpakkhandho ... pe viññāṇakkhandho
[1]
<1.1> Đoạn này
được gọi là Suttantabhājaniya (Phân tích theo kinh
Tạng) trong tập Khandhavibhāajaniya (phân
tích ngũ uẩn ) là phần mở đầu cuốn Vibhaṇga (Bộ
phân tích)
3. Ở đây,
pañca (năm) là cách phân chia số học. Chính v́ vậy
điều này muốn khẳng định: không ít hơn và không nhiều
hơn con số năm. Khandhā (Uẩn) là cách mô tả các
Pháp được phân loại. Và chúng ta gặp từ Khandhā
nơi rất nhiều ví dụ như: một đống (rāsi), một
phẩm chất tốt (guṇa), một tước hiệu (paṇṇatti)
hay một phạm trù (rūlhi). Như trong các đoạn sau:
“Thật vậy, hỡi Chư vị Tỳ Khưu, ta không dễ ǵ lấy được
một lượng nước nơi đại dương, hoặc giả nhiều lượng nước,
hay hàng trăm, hàng ngàn lượng nước. Nhưng do nước được
coi như là một khối (khandha) nước nên không thể
đếm được (S. v. 400). [2] Ta gọi nước là một khối
(khandha) hiểu theo nghĩa một đống, rất nhiều
nước, nhưng chỉ khi nào có một khối lượng nước lớn ta
mới gọi như vậy. Cũng giống vậy ta không thể gọi một
chút bụi là một khối, một đống bụi được, cũng vậy ta
không thể gọi một vài con Ḅ là một đàn ḅ, và ta cũng
không thể gọi một vài người lính[2]
là một đạo quân được. Ta không thể gọi một vài
việc công đức là một khối lượng phẩm chất đáng khen; v́
phải có rất nhiều bụi mới được coi như một đống bụi,
phải có rất nhiều ḅ, v.v... ta mới gọi là một đàn ḅ,
và một số việc đức hạnh. Như trong các đoạn như Kinh
Phật sau đây, giới uẩn, định uẩn. (sīlakkhandha,
samādhikkhandha), chúng ta gọi là ‘khandha’
hiểu theo nghĩa những phẩm chất thiện. Nhưng trong đoạn
Kinh: “ Đức Phật đă nh́n thấy một đống gỗ lớn (dārukkhandha)
đang trôi trên ḍng sông Hằng” (S. iv. 179) Ta gọi đó là
‘khandha’ hiểu theo nghĩa biểu thị. Trong các
đoạn như: “Điều ta gọi là tâm (citta), ư (mano),
tâm địa (mānasa)... thức (viññāṇa) thức
uẩn (viññāṇakkhandha)” (Dhs §6), ta gọi đó là uẩn
hiểu theo nghĩa một phạm trù. Ở đây ta muốn ám chỉ một
số lượng rất nhiều (một đống). V́ ư nghĩa ‘uẩn’ ở đây
được hiểu như là ‘một khối’. V́ ‘ư nghĩa uẩn’ ở đây hiểu
theo nghĩa như là một khối h́nh cầu, hiểu theo nghĩa một
khối lượng, một đám đông, một đống: chính v́ thế ta nên
hiểu các uẩn (khandhā) như là có đặc tính một
đống. Ta cũng có thể nói theo một phần ư nghĩa (koṭṭhāsa)
mà thôi. Chính v́ những con nợ trên thế gian này
thường nói rằng: Chúng tôi sẽ trả cho (ông) hai phần nợ
(khandhā), chúng tôi sẽ trả (cho ông) ba phần nợ
(khandhā); như vậy chúng ta cũng có thể nói “uẩn”
đó (khandhā) có đặc điểm là một phần (portion)
vậy.
4. V́ thế ở đây
rūpakkhandha <1.1> (“sắc uẩn”) [tức là]
một đống vật chất, một phần sắc Pháp. vedanākkhandha
(“thọ uẩn”) [tức là] một nhóm cảm thọ, một
phần cảm thọ, và ta cũng có thể hiểu ư nghĩa của “tưởng
uẩn”cũng tương tự như vậy, v.v...
5. Về điểm này,
đống vật chất ở đây, được sắp xếp thành mười một ví dụ
bắt đầu với “quá khứ, tương lai và hiện tại” như
“Sắc Tứ Đại” (mahābhūtā) và “sắc y sanh” khởi
xuất từ “Sắc Tứ Đại” này (catuṇṇaṃ
mahābhūtānaṃ upādāya rūpaṃ) và [sắc y sinh] lại được
chia thành 25 phần vật chất
[3]và thành 96 phần vật
chất
[4] khác nữa. Đức Phật
Toàn Giác đă dạy về toàn bộ những điều này bằng cách tóm
lược với tên gọi là “Sắc Uẩn” (rūpakkhandha).
Nhưng nhóm “thọ uẩn” thuộc bốn cơi, cũng được sắp
xếp thành mười một ví dụ như :“lạc thọ, khổ thọ, và
phi lạc phi khổ thọ” [3] ngài đă giảng dạy
toàn bộ điều này bằng cách tóm lược với tên gọi là “Thọ
Uẩn”(vedanākkhandha). Nhưng nhóm tưởng uẩn thuộc bốn
cơi cũng được xếp loại thành mười một ví dụ là “
tưởng khởi sanh từ nhăn xúc, tưởng khởi sanh từ ư xúc”
Ngài đă giảng dạy toàn bộ điều này bằng cách gom
lại có tên gọi là “Tưởng Uẩn” (saññākkhandha).
Nhưng nhóm hành (cetanā) thuộc bốn cơi, cũng được
sắp xếp thành mười một ví dụ giống nhau như “hành
khởi xuất từ nhăn xúc... .hành khởi sanh từ ư xúc.”
Ngài đă giảng dạy toàn bộ điều này bằng cách gom lại một
tên là “Hành Uẩn” (saṅkhārakkhandha). Nhưng nhóm
tâm thuộc bốn cơi, cũng được phân loại thành mười một ví
dụ như: “ nhăn thức,(cakkhuviññāṇa), nhĩ thức, tỷ
thức, thiệt thức, thân thức, ư giới, và ư thức giới”.
Ngài đă giảng dạy toàn bộ điều này bằng cách gom lại
bằng một tên: “Thức uẩn”.
6.
Hơn thế nữa, toàn bộ thể chất ở đây đều khởi sanh từ bốn
sở sanh (catusamuṭṭhānikaṃ rūpaṃ)[5]
đó là “Sắc Uẩn”. Các cảm
thọ cùng khởi sanh với 89 tâm thức ( Vis, tr. 452 tt)
bắt đầu với tám loại tâm thức thiện thuộc dục giới, có
tên gọi là “Thọ Uẩn”. [Cũng giống vậy] ta gọi các tưởng
là “Tưởng uẩn”. Những Pháp bắt đầu với xúc (phassa)
lại có tên là “Hành Uẩn”, có 89 loại tâm thức làm
“Thức uẩn” ( Vis. 452tt) Như vậy cách phân loại các uẩn
nên được hiểu như là: các Pháp khởi xuất từ ngũ uẩn.
(b). Sắc Uẩn
7. Giờ đây, để
lưu ư đến những uẩn này, cụ thể là, Sắc Uẩn, v.v... bằng
cách phân loại chúng Đức Phật cho biết:Tattha katamo
rūpakkhando? <1.3> (“Về điểm này, sắc uẩn là
ǵ vậy?”) v.v... Ở đây, tattha
(“về điểm này”) [ có nghĩa là] trong số các ngũ uẩn
này; katamo (“là ǵ”) là một câu hỏi chứng
tỏ ước ao muốn nói ra; rūpakkhandho (“ Sắc Uẩn”)
là cách mô tả vật chất được đề cập đến.
8. Đến đây, bằng
cách phân loại Đức Phật cho biết: Yaṃ kiñci rūpaṃ <1.4>
(“bất kỳ sắc nào”) v.v... Ở đây, Yaṃ kiñci
(“bất kỳ”) bao gồm toàn bộ tất cả ; rūpaṃ (sắc)
muốn tránh nói một cách khái quát toàn bộ sắc. Như vậy
cách sắp xếp toàn thể sắc không chừa sắc nào là ư nghĩa
của hai từ nêu trên.
9. Đến đây, ta
hiểu ‘Sắc’ (rūpa) theo nghĩa nào đây? Đây là sắc hiểu
theo nghĩa đang bị hoại diệt (ruppanṭṭthena)[6].
Chính đây là điều Đức Phật đă đề cập đến như sau: “ Và
hỡi các vị Tỳ Khưu, tại sao ta lại đề cập đến sắc?
[4] Hỡi các vị tỳ khưu, đó chính là điều đang bị
hoại diệt, chính v́ thế ta gọi là sắc. Điều ǵ đă hoại
diệt sắc vậy? Khí hậu lạnh có thể hoại diệt sắc, trời
nóng cũng vậy, rồi đói khát, các con ṃng, ruồi muỗi,
gió và ánh sáng mặt trời, rồi đến cả những vật ḅ sát.
Vật chất bị hoại diệt như vậy thế nên đó là lư do vật
chất được gọi là “Sắc”
10. Ở đây ‘tại
sao’ là một câu hỏi muốn biết lư do; nghĩa là: v́ lư
do ǵ bạn lại cho đó là ‘sắc’? V́ lư do ǵ điều đó lại
được gọi là “Sắc”? “Chính là v́ nó bị hoại diệt”
Ở đây từ iti[7]
là biểu thị nguyên nhân; ư
nghĩa ở đây là: ‘V́ vật chất bị hoại diệt” v́ thế
vật chất được gọi là “Sắc”. “(vật chất) bị hoại diệt”
: [bị xáo trộn] [vật chất] có thể bị nghiền nát ra;
bị đàn áp, đập tan tành, chính là ư nghĩa muốn nói ở đây.
Chính v́ thế ‘Sắc’ được khẳng định ở đây ở mức độ này
được hiểu theo nghĩa là bị hoại diệt. Ta cũng có thể gọi
đó là “Sắc” thông qua đặc tính bị hoại diệt như vậy. V́
vật chất hay ‘sắc’ có đặc tính chuyên biệt đó là bị hoại
diệt vậy.
11. Liên quan
đến “vật chất bị hoại diệt do lạnh v.v...
trước tiên ta thấy khí hậu lạnh ảnh hưởng đến vật chất
là điều hiển nhiên, ở các tầng địa ngục là khoảng giữa
các thế giới (lokantarika). V́ khoảng không giữa
ba cơi thế giới (cakkavāḷa) có một tầng địa ngục
rộng khoảng tám ngàn do tuần yojanas, mà bên dưới không
đụng đất ở bên trên chẳng có ánh sáng mặt trời, mặt
trăng chiếu sáng và luôn luôn bóng tối trùm bao phủ. Cá
nhân những chúng sanh được tái sanh trong đó to lớn đến
gần ba phần tư dặm (league). Giống như những con dơi, họ
tự treo lơ lửng trên vách núi, bám vào những chiếc đinh
khổng lồ ở một đầu, khi chúng ḅ lúc nhúc trong đó, đụng
phải nhau, nghĩ rằng: ‘Chúng ta có được bữa ăn, và chúng
tấn công[8]
lẫn nhau’ và thế là chúng bị đẩy xuống nước, đang đỡ
trái đất ở dưới. Và khi gió lạnh thổi qua, chúng nhũn ra
như những trái cây madhuka chín mọng và rơi tơm
xuống nước. Ngay khi chúng rơi xuống nước, do gân cốt,
thịt và xương bị gẫy tan tành v́ nước cực kỳ mặn, chúng
bị tan ră[9]
ra giống như những cục bột ḿ được thả vào chảo dầu nóng
bỏng. Chính v́ thế chúng sanh bị hoại diệt nơi không
gian địa ngục giữa thế giới này là rơ ràng. Nơi các vị
trí khác như ở cơi Mahiṃsaka cũng vậy, tại những nơi giá
lạnh do tuyết bao phủ, điều này cũng đă rơ. V́ tại đó,
khi thân xác liên tục bị vỡ ra, do hơi lạnh, chúng sanh
liền kết thúc cuộc sống của ḿnh.
12. Bị hoại diệt
do sức nóng cũng rất hiển nhiên nơi tầng Địa Ngục A Tỳ
Avīci. V́ ở đó, do phải trải qua đau khổ cực kỳ to lớn,
khi chúng sanh phải nằm trên nền nhà kim loại nóng đỏ
rực vào ngay lúc đó thân xác bị xuyên thủng đến năm lần.
(M. iii. 183).
13. Bị hoại diệt
do đói cũng rất hiển nhiên nơi cơi ngạ quỷ (pettivisaya)
và vào thời điểm đói kém mất mùa. [5] V́ ở cơi
ngạ quỷ, trong suốt khoảng hai đến ba Đức Phật, lại xuất
hiện những chúng sanh không thể kiếm được ǵ bỏ vào
miệng. Dạ dày th́ sôi lên như vũng lầy đầy cây cỏ mọc và
vào thời kỳ đói kém biết bao nhiêu chúng sanh đă phải
chết v́ không thể kiếm được ngay cả cháo chua bỏ vào
miệng.
14. Bị hoại diệt
do khát cũng rất hiển nhiên nơi cơi Kālakañjika [A Tu
La- Asura] v.v... V́ ở đó, trong suốt hai ba Đức Phật
không thể kiếm đâu ra một giọt nước để làm dịu đi ngay
cả trái tim và đầu lưỡi của chúng sanh. Và khi chúng
sanh đi tới một con sông để kiếm nước uống, th́ con sông
đă biến thành một dăi cát dài vô tận và đối với các
chúng sanh vượt đại dương bằng tàu buồm, th́ đại dương
liền khô cạn như là dăy đá bằng phẳng; v́ phải chịu cảnh
thiếu nước như vậy, họ liền đi lang thang và nỗi khổ lớn
lao đè nặng trên họ. Một tên quỉ khát Kālakañjika, h́nh
như không thể chịu nổi cơn khát, đă xuất hiện ở một khúc
sông Hằng rộng cả hàng dặm. Nơi nào quỉ khát lội vào th́
nước rẽ ra làm hai và bốc hơi giống như đang đi qua đi
lại trên một tảng đá nóng bỏng. Đang khi lang thang đây
đó, hắn nghe thấy tiếng nước reo, ban đêm ụp xuống rồi
kết thúc. Vào buổi sáng sớm, có ba mươi vị Tỳ Khưu đang
đi khất thực và nh́n thấy tên ma khát, v́ đang trên
đường khất thực, và họ liền hỏi hắn: ‘Anh bạn ơi, tên
bạn là ǵ vậy?” Hắn trả lời: Thưa các vị tỳ khưu đáng
kính, ta là ma khát.’ Ông bạn đang kiếm ǵ vậy? “Kiếm
nước uống, thưa các chư vị Tỳ Khưu,” “ Sông Hằng này đầy
nước cơ mà; làm sao anh bạn lại không nhận ra điều đó?
Thưa đại sư, thật là vô dụng” “ Nào hăy nằm xuống bờ
sông Hằng để chúng ta đổ nước vào miệng cho anh.” Hắn
nằm thẳng trên băi cát bên bờ sông. Các vị Tỳ Khưu lấy
ra ba mươi chiếc b́nh bát đầy nước và họ đổ nước vào
miệng hắn, đang khi họ thực hiện như vậy, th́
thời gian
kết thúc. Rồi họ nói : “Anh bạn yêu quí, đă đến lúc
chúng ta phải đi khất thực, chắc hẳn anh đă uống được
một chút nước từ ba mươi chiếc b́nh bát đổ vào miệng anh
chứ? Tên ma khát trả lời, thưa các Ngài, nếu chỉ có nửa
giọt nước từ ba mươi chiếc b́nh bát đó lọt được vào
miệng tôi, liệu tôi có thể được thoát khỏi trạng thái
đói khát này chăng?’ Như vậy bị hoại diệt do khát là
điều rất hiển nhiên nơi cơi ma đói.
15. Bị hoại diệt
do ṃng,v.v... là điều hiển nhiên nơi có nhiều ṃng,
ruồi muỗi v.v... Ở đây con ṃng chính là con ruồi to màu
nâu; c̣n “ruồi’’ chỉ là ruồi b́nh thường mà thôi.
16. “Hơi Gió” ta
nên hiểu ở đây muốn ám chỉ x́nh bụng, xưng nơi cột sống.
v.v... [6] v́ bệnh tật xuất hiện nơi thân xác là
do gió máy nổi lên, làm găy tay, găy chân và cột sống,
v.v... và khiến cho chúng sanh bị mù, bị gù lưng và què
quặt v,v... “mặt trời” là sức nóng như thiêu đốt của mặt
trời, chúng sanh bị hoại diệt do điều này là điều thật
hiển nhiên, trong sa mạc, hoang địa, v.v... h́nh như một
người phụ nữ bị đoàn lữ hành bỏ lại đàng sau vào ban
đêm. Vào lúc rạng sáng khi mặt trời ló dạng, cát nóng
bỏng lên, nàng không thể cất bước được nữa. Khi chiếc
giỏ đeo trên lưng bị sức nóng mặt trời nóng bỏng lên,
nàng không c̣n đứng vững được nữa. Rồi cởi áo choàng ra
nàng lót xuống đất rồi đứng lên đó; khi cả áo cũng trở
nên nóng bỏng không chịu được nữa, nàng liền bỏ luôn cả
đứa con nhỏ đang bế trên tay nằm xấp trên cát, mặc cho
đứa bé khóc lóc thảm thiết. Và rồi do sức nắng thiêu đốt
cả hai mẹ con đă chết ngay tại đó.
17. “Loài Ḅ
Sát” là những con vật di chuyển bằng cách trườn
[trên bụng]. Trong trường hợp này ta nên hiểu bị hoại
diệt là khi tiếp xúc với các loài vật này, ta sẽ bị rắn
độc cắn, mổ v.v...
Giờ đây, nhằm
lưu ư đến toàn bộ vật Chất. “Sắc” được chia ra thành 25
phần rồi lại chia tiếp thành 96 phần nữa và được gộp
trong câu: ‘Bất kỳ loại sắc nào” Ngài (Đức Phật)
nói thêm như sau: atītānāgatapaccuppannaṃ <1.4>
(“quá khứ, tương lai và hiện tại”) được sắp xếp
thành các phần tử bắt đầu với “quá khứ”. Sau đó, nhằm
lưu ư đến cùng loại vật chất (Sắc) bằng cách sắp xếp
thành bốn “bộ đôi” (dyads) bắt đầu với bộ đôi ‘nội
tại” ajjhataṃ vā bahiddhā vā ( nội phần hay
ngoại phần) v.v... được đề cập đến. Sau đó, nhằm
lưu ư đến toàn bộ sắc được gom lại với nhau như đă được
chỉ rơ trong mười một ví dụ, người đă nói tới,
tadekajjhaṃ (“cùng với điều đó”).v.v...
18. Về điểm này,
abhisaṃyūhitvā <1.6> (“tính toàn khối”)
[có nghĩa là] tính gộp chung toàn bộ lại với nhau;[10]
abhisaṅkhipitvā (“tính tổng thể”) có nghĩa
là cô đọng lại, đây là điều đă được đề cập đến: toàn bộ
sắc này có rất nhiều đặc tính đa dạng như đă đề cập đến
ở trên, được gom lại thành một đống có chung một hiện
trạng được gọi là “Sắc Uẩn” và điều này cho thấy
toàn bộ vật chất là Sắc Uẩn bằng cách xếp đống lại với
nhau có điểm chuyên biệt là do tác động bên ngoài ảnh
hưởng. V́ chẳng có Sắc Uẩn nào khác ngoại trừ vật chất
cả. Và [trong trường hợp] vật chất “Sắc” là như vậy, th́
cũng như vậy [trong trường hợp] cảm thọ nữa v.v... cũng
được gom lại thành đống cùng với điểm đặc trưng là hoại
diệt đi v.v... v́ chẳng có Thọ Uẩn nào khác hơn là các
cảm thọ vậy.
19. Đến đây,
nhằm chứng tỏ “Sắc” được sắp xếp nơi mỗi ví dụ bằng cách
sắp loại riêng rẽ Ngài phán rằng: Tattha katamaṃ
rūpaṃ atītaṃ? <1.8> (“Ở đây, sắc quá khứ là ǵ
vậy?”) v.v...
20. Về điểm này,
tattha (“ở đây”) là nơi chốn cách trong
giản đồ được đưa ra bằng cách xếp đặt ‘sắc uẩn’ thành
mười một ví dụ, đây là điều Ngài đă nói: [7] điều
ta gọi là “sắc uẩn quá khứ” sắp xếp trong giản đồ
được đưa ra như sau: “quá khứ, hiện tại và tương lai
chăng?” toàn bộ những câu hỏi đưa ra ta nên hiểu
theo ư này. Cách diễn đạt: atītaṃ niruddhaṃ
<1.9> (“đă qua, đă diệt”) v.v... được khẳng định
trong bài diễn giải về cách phân loại bộ tam (triad) “quá
khứ” trong Đoạn Mô Tả (Nikkhepakaṇḍa).[11]
21. Cattāro
ca mahābhūtā <1.11> (“và về Sắc Tứ Đại”):
điều này chỉ rơ bản chất của vật chất “Sắc” ở đây được
gọi là “quá khứ.” Và đây chính là ư muốn
nói, v́ vậy ta nên hiểu cho thấu đáo. Do đó Ngài đưa ra
điều này, cụ thể sắc quá khứ [bao gồm] luôn các sắc đại
và cả sắc y sinh xuất phát từ (upādāya) các sắc
tứ đại đó. Các sắc tương lai cũng như vậy, và với
“tương lai”... “xa và gần” <1.14. 1.20> . V́ chẳng
có loại vật chất nào (sắc) khác hơn là các “Sắc Tứ Đại”
và sắc y sinh xuất hiện nhờ thông qua “Sắc” từ các Sắc
Tứ Đại đó mà ra.
22. Một phương
pháp khác nữa.: “Bao gồm thời gian quá khứ nữa”
[có nghĩa là] chỉ bao gồm thời gian quá khứ mà thôi; chỉ
trong quá khứ ta mới cứu xét điều đó. Bằng cách nào vậy?
Do sắc tứ đại, và sắc y sinh xuất phát từ Sắc Tứ Đại này
mà ra. Như vậy ta nên hiểu ư nghĩa này một cách thấu
đáo. Và ta cũng nên hiểu ư nghĩa cả những cách diễn đạt
về tương lai và hiện tại giống như đă đề cập đến ở trên.
23. Nhưng cụm
từ: “quá khứ, tương lai và hiện tại” lại gồm hai
phương pháp, một là Tạng Kinh (Suttanta), hai là mô tả
Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Phương pháp phân tích
theo kinh Tạng (Suttanta) được chia thành hữu. Do tái
sanh liên kết trở lại với “Sắc” tạo ra hữu quá khứ ngay
tức khắc hay trong một khoảng cách
thời gian cả trăm ngàn
kotis[12]
(đại kiếp) toàn bộ điều này được gọi là quá khứ.
Và từ lúc chết trở về sau ‘Sắc’ được tạo ra trong các
hữu tương lai, cho dù ngay tức khắc tiếp theo sau hữu
hay vào cuối một ngàn kotis đại kiếp, ta vẫn gọi toàn bộ
thời gian đó là tương lai. Vật chất (Sắc) diễn ra giữa tử
và tái sanh[13]
ta gọi là hiện tại
24. Nhưng theo
phương pháp mô tả Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) cách
sắp xếp lại tùy thuộc vào Sát na (thời khoảng = khaṇa).
V́ có tới ba sát na sắc: đó là sanh (uppāda), trụ
(hiện tại= ṭhiti) và diệt (bhaṅga). Vật Chất
(sắc) diệt (niruddha) sau khi đạt đến ba sát na
này cho dù mới diệt hay diệt trong quá khứ cả ngàn kotis
đại kiếp, ta gọi đó là quá khứ. Vật chất (sắc) chưa đạt
được ba Sát-na này cho dù chỉ trong một sát na tâm thôi,
hay trong tương lai lúc kết thúc cả trăm ngàn Koṭis đại
kiếp sau đó, ta vẫn gọi là tương lai. Vật chất (sắc) đạt
được ba sát-na này th́ được gọi là hiện tại.
25. Về điểm, cho
dù đó là cách phân tích theo Kinh Tạng
(suttanta-bhājaniya), tuy nhiên ta cũng nên hiểu vật
chất (Sắc) quá khứ, tương lai và hiện tại như cách mô tả
Vi Diệu Pháp (Abhidhamma).
26. Một phương
pháp khác nữa là: Đối với vật chất (sắc) được gọi là quá
khứ lại có bốn đặc điểm xét theo (1)
thời gian (addhā),
(2) thừa kế (santati), (3) thời kỳ (giai đoạn
(samaya) (4) sát na (khaṇa). Tương lai và
hiện tại cũng giống như
vậy.
27. (1) “Theo
thời gian” trong trường hợp chỉ một hữu duy nhất nơi
chúng sanh, hiện hữu trước khi tái sanh liên là quá khứ:
Sau khi chết là tương lai và giữa hai giai đoạn đó là
hiện tại.
28. (2) “Theo
thừa kế” điều giống với sanh khởi do khí hậu (utu),
và sanh khởi do vật thực (āhāra) duy nhất,
cho dù có xuất hiện liên tục, cũng chỉ là hiện tại mà
thôi. Điều xảy ra trước lại không giống loại sanh khởi
do khí hậu và do vật thực đều là quá khứ. Điều ǵ xảy ra
sau là tương lai. Điều khởi sanh từ tâm (cittaja) và
có sanh khởi nơi một loạt qui tŕnh tâm (vīthi),
trong một tốc hành tâm duy nhất (javana) một
thiền chứng duy nhất (samāpatti), là
thời gian
hiện tại. Trước đó là quá khứ. Tiếp theo là tương lai.
Không có sự phân chia đặc biệt nào có sanh khởi do
nghiệptrong quá khứ cả. Và như vậy theo thừa kế.
Nhưng khoảng thời gian quá khứ, v.v... nên được hiểu là
điều hỗ trợ cho những loại sanh khởi do
thời tiết sanh,
do vật thực sanh và tâm sanh.
29. (3) “Theo
thời kỳ” bất kỳ thời kỳ nào trong đó giả tỷ một phút (muhutta),.
buổi sáng, buổi chiều, ban ngày, ban đêm. v.v... lại
diễn ra như một thừa kế được gọi là hiện tại. Trước
thời
gian đó là quá khứ, sau thời gian đó là tương lai.
30. (4). “Theo
sát na” điều gộp lại trong “bộ tam” sát na bắt đầu
là sanh được gọi là hiện tại, trước đó là quá khứ, sau
đó là tương lai[14]
31. Hơn thế nữa,
những phận sự ǵ (kicca) là nguyên nhân (hetu)
và duyên (paccaya) đă trôi qua là quá khứ.
Những phận sự ǵ là nguyên nhân đă kết thúc (niṭṭhita)
và có chức năng là duyên chưa kết thúc đều là hiện
tại. Những ǵ không đạt được một trong hai chức năng đó
là tương lai. Một trong hai khả năng vào sát na thực
hiện chức vụ đó cũng là hiện tại.
thời gian trước đó là
quá khứ, thời gian theo sau đó là tương lai.[15]
Và ở đây chỉ có cách giải thích bắt đầu với sát na được
hiểu theo nghĩa đen mà thôi (nippariyāya) (xin
đọc A. i. 89). Những ǵ c̣n ta chỉ nên hiểu theo nghĩa
bóng (sapariyāya) và ở đây việc diễn giải được
thực hiện theo nghĩa đen.
32. Các từ trong
phần diễn giải bộ đôi “Nội phần hay bên trong”<2.3>
có ư nghĩa như đă khẳng định ở trên, trong phần diễn
giải về Tam đề nội phần (ajjhattikaniddesa)
(Dhs. Mātika Tika no. 20; Asḷ 46) <2.13>
v.v... cũng có ư nghĩa như đă khẳng định trong bài diễn
giải về đoạn Sắc Uẩn (vật chất) (Rūpakaṇḍavaṇṇanā)
(Asl 296 tt).
33. Trong phần
diễn giải về nhị đề xấu, tesaṃ tesaṃ sattānaṃ
<2.20> (“đối với chúng sanh này chúng sanh nọ”)
là sở hữu cách và ám chỉ một số các chúng sanh rất lớn.
V́ nếu có đề cập đến cả ngày về một trăm ngàn đại kiếp
[chẳng hạn]; đối với một chúng sanh khác, hay một chúng
sanh khác nữa chúng ta chỉ có thể nói đó là quá nhiều.
Chính v́ thế coi như không c̣n ǵ sót lại đối với hai từ
[tesaṃ tesaṃ], Đức Phật nói: ‘đối với chúng
sanh này chúng sanh nọ” Chính v́ vậy,[9] toàn
bộ những ǵ c̣n lại đă được ấn định rơ ràng.
34. Uññātaṃ
<2.20> (bị coi thường): coi như bị xem
thường,[16]
avaññātaṃ (“bị hạ giá”): biết tới (ñāta)
bằng cách làm mất uy tín (vambhetvā): không
xem là cái tôi ǵ cả. Hīḷitaṃ <2.21>
(“khinh bỉ”) bị loại bỏ, bị xua đuổi, hiểu theo
nghĩa không coi trọng; “ghét cay ghét đắng” họ
cũng nói vậy. paribhūtaṃ ( khinh miệt):
bị coi khinh với các từ: “làm ǵ với hạng đó?” Hīnaṃ
(“thấp kém”): xấu. Hīnamataṃ
(“coi như đồ thấp kém”) = hīnan ti matam; được biết
đến bằng nửa con mắt. Hīnasammataṃ (“bị
đánh giá thấp ”): bị coi như [là hạng người] thấp
kém trên cơi đời này: hay được coi như là thấp kém nhất
giống như đồ phân tro, đồ rác rưởi.
35. Aniṭṭhaṃ.
<2.22> (“không đáng ưa chuộng”): bị ghét
cay ghét đắng; hay chẳng ai thèm kiếm để chiếm lănh; và
nếu có ai t́m kiếm, hăy cứ để họ làm như vậy; nhưng đây
là tên dành cho loại đối tượng này (ārammaṇa).
Akantaṃ (“không được màng tới, không được yêu
mến): không ai ước ao khao khát; hay không có chút
máu mặt nào cả. Amanāpaṃ (“không hài
ḷng”): không được chú ư, (để ư tới) (manasmiṃ na
appitaṃ). Với một đối tượng như vậy, không một ai
thèm để ư tới ngay cả nghĩ đến chúng. Nói cách khác, “nó
làm hài ḷng.(appāyati)[17] làm
tăng thêm ḷng yêu mến, (mano) được “hài ḷng” (manāpa);
không hài ḷng, chính là “không làm hài ḷng ai cả”
36. Một phương
pháp khác: thật “đáng ghét” v́ không đạt được bất
kỳ thành công nào, xuất phát từ nghiệp chướng. Đây là
điều xuất khởi hoàn toàn từ nghiệp bất thiện. Không ai
ước muốn điều này làm ǵ, v́ không là nguyên nhân đem
lại vui sướng. Không đáng được ước ao v́ đó là nguyên
nhân gây đau khổ.
37. Rūpā
saddā (“sắc, thinh”) đây là cách minh họa bản
chất của Sắc. Liên quan đến từ này, đây là năm dây dục
lạc, không đáng ưa chuộng do sanh khởi từ nghiệp bất
thiện, đă được sắp xếp như vậy. Nhưng được khởi sanh
thông qua nghiệp thiện chẳng có ǵ đáng ghét cả, chỉ
toàn là thoải mái dễ chịu mà thôi.
38. Diễn giải về
từ “tốt” <2.24> (thượng hạng) ta nên hiểu theo
nghĩa ngược lại với những ǵ đă bàn đến ở trên. Nhưng
liên quan đến từ này, đây cũng chính là năm dây dục lạc.
Là điều thoải mái dễ chịu do sanh khởi nơi nghiệp thiện,
như đă được phân loại ở trên. V́ những ǵ do nghiệp
thiện sanh đều thoải mái dễ chịu và cũng như vậy đối với
những trường hợp thời tiết sanh, v.v... đều thấy xuất
hiện thoải mái và khó chịu cùng một lúc. Thế nên ta nên
hiểu đối tượng dễ chịu và khó chịu theo như cách phân
loại trong “nhị đề” này. Đây là điều ưu tiên số một
trong các bài thuyết pháp của bậc đạo sư.
39. Nhưng có vị
diễn giả (vitaṇḍavādin) hay tranh luận lại nói:
Thực chất chẳng có điều ǵ (pāṭiyekka) dễ chịu và
khó chịu cả, đây chỉ là sự khẳng định việc ta ưa chuộng
điều này điều nọ mà thôi, như có lời nói rằng: “ Tâu bệ
hạ, tôi xin sẽ khẳng định những giới hạn điều dễ chịu
thoải mái, liên quan đến năm dây dục lạc. Tâu bệ hạ,
cùng những cảnh sắc gây dễ chịu thoải mái cho người này,
lại gây khó chịu không thoải mái cho người khác, . .
.Tâu bệ hạ, cũng cùng những cảnh thinh. . . cảnh khí . .
. cảnh vị. . . cảnh xúc có thể gây dễ chịu thoải mái cho
người này và lại gây khó chịu không thoải mái cho người
khác.” (S. i. 80) [10] Như vậy, v́ có những người
thưởng thức và thích thú với những cảnh sắc và ḷng tham
nổi lên muốn chiếm hữu những thứ đó, đang khi đó kẻ khác
lại cảm thấy khó chịu và phật ư, rồi sân hận nổi lên; Do
ai ưa thích những cảnh sắc đó th́ cảm thấy hài ḷng
thoải mái, rồi ḷng tham nổi lên, muốn chiếm hữu lấy
những thứ đó; rồi cảm thấy sung sướng thoải mái v́ đă
chiếm hữu được những điều đó. Ngược lại với những người
khác, v́ không ưa thích, họ không muốn chiếm đoạt những
thứ đó, và cảm thấy khó chịu. Trong cùng một công việc,
những ai thuận tay phải th́ cảm thấy sảng khoái thích
thú thực hiện công việc đó, ngược lại những ai thuận tay
trái lại cảm thấy khó chịu rồi ghét bỏ công việc đó. -
Chính v́ thế thật khó ḷng phân biệt được một đối tượng
thực chất là dễ chịu thoải mái hay khó chịu không thoải
mái. V́ đối với những cư dân sống ở vùng nông thôn, con
trùng (giun) xem ra có thể rất dễ thương, và nhiều người
rất muốn có được, song đối với những cư dân sống ở thành
thị, con trùng (giun) qủa là điều ghê tởm, đáng ghét.
Lại có những người rất ưa ăn thích ăn thịt công, v.v...
họ cảm thấy rất ngon; trong khi đó có những người khác
lại ghét cay, ghét đắng.
40. Đến đây có
người nêu câu hỏi: “Nhưng bằng cách nào? Chẳng phải Ngài
đă chẳng nói thực chất không có bất kỳ đối tượng nào
được phân định biệt rạch ṛi là được ưa thích hay bị
ghét bỏ sao?” Đúng vậy: ta đă nói chẳng t́m đâu ra những
điều như vậy cả. C̣n nữa sau khi đă xác định điều đó đến
lần thứ ba, lại có người nêu câu hỏi: “ Thế đặc tính ưa
thích và ghét bỏ này có xảy ra đối với Níp Bàn chăng?
Nếu ai đó biết rơ Níp Bàn là ǵ hẳn người đó sẽ nói: Níp
Bàn hoàn toàn dễ chịu và đáng ưa thích.” Ngay cả khi
người đó không thể nói được như vậy, mong rằng hắn không
buột miệng nói khác đi vậy. [ta nên bảo cho hắn biết
rằng:] Níp Bàn là hoàn toàn thoải mái, dễ chịu. Phải
chăng ai đó lại bực bội khi nghe lời khen ngợi Níp Bàn
như vậy lại nêu vấn nạn: “Ngài đang khen ngợi Níp bàn
phải không? Liệu năm sợi dây dục lạc chẳng tồn tại ở đó
hay sao? Ở đó bạn đă chẳng được thỏa măn với đồ ăn thức
uống, ṿng hoa, nước hoa, thuốc cao, giường chiếu và
quần áo đẹp chăng?” Và khi được trả lời: “Không phải vậy
đâu’ [ngài nói:] “Đủ rồi, về Níp bàn của bạn đó!” Hắn
trở nên tức giận vô cùng khi những lời khen ngợi Níp Bàn
được nói ra và bịt cả hai tai không thèm nghe. “Níp bàn
là hoàn toàn dễ chịu”[18]
Theo như lời khẳng định của Ngài: hắn cho là Níp bàn là
nơi rất khó chịu. Nhưng không phải vậy đâu! v́ người đó
chỉ nói ra như vậy là do tưởng điên đảo mà thôi; và cũng
chính do tưởng điên đảo (vipallāsa) đă khiến cho
cùng một đối tượng có thể vừa dễ chịu cho người này,
đồng thời lại gây khó chịu cho người khác. Nhưng thực
chất có tồn tại những đối tượng gây cảm khoái và gây khó
chịu cùng một lúc vậy.’
41. Nhưng đối
với người nào có được sự phân biệt như vậy? Chỉ nơi
những người b́nh thường (majjhimaka-satta) mà
thôi. V́ ta không thể phân biệt rạch ṛi được sự thích
thú và gớm ghê đối với những vị đại đế như: Mahāsammata,
Mahāsudassana, Dhammāsoka, v.v... v́ đối với những vị
này ngay cả cảnh thần tiên cũng có thể gây khó chịu cho
họ nữa. Cũng không thể có sự phân biệt rạch ṛi [sự ưa
thích hay ghét bỏ] nơi những người vô cùng bất hạnh, do
không thể kiếm được đồ ăn thức uống. Đối với những hạng
người này một tô cháo hoa và thịt thối cũng được coi là
điều vô cùng sảng khoái, giống như thức ăn dành cho các
vị thần thánh vậy. [11]Ta có thể dễ dàng phân
biệt được có lúc dễ chịu, lúc lại khó chịu nơi những
người b́nh thường [như những hạng người sau:] nhân viên
kế toán, nhân viên nhà nước, dân thành thị, chủ gia nhân
và thương gia. Những hạng người này có thể phân biệt
rạch ṛi được điều ǵ dễ chịu và điều ǵ gây khó chịu
[nghĩa là: ta có thể phân biệt được do những tốc hành
tâm của họ mà ra].
42. Nhưng Trưởng
Lăo Tipiṭaka Cūla-Abhaya có nói: ta chỉ có thể phân định
được điều dễ chịu và khó chịu dựa vào nghiệp quả (vipāka)
mà thôi, chứ không do tốc hành tâm (javana).
Nhưng chính do những tốc hành tâm thông qua tưởng điên
đảo (saññāvipallāsa) đă khiến cho tham dục với
điều dễ chịu và sân hận với cùng một điều dễ chịu như
vậy nổi lên, cũng chính những tham dục đó đă khiến tham
dục của ta nổi lên trước cùng một đối tượng vừa dễ chịu
vừa khó chịu. Và chỉ thông qua nghiệp quả mà ra. Tuy
nhiên phân định đó có đúng hay không? V́ tâm quả
(nghiệp) không thể sai lầm được. Nếu như một đối tượng
dễ chịu ắt hẳn sẽ tạo ra kết quả thiện: nếu là đối tượng
khó chịu ắt hẳn quả bất thiện sẽ nổi lên.’
43. Cho dù những
người có tà kiến về cách nh́n những đối tượng được đề
cao như: Đức Phật, Tăng Già, hay một bảo tháp vĩ đại
v.v... họ nhắm mắt lại và thọ ưu (domanassa), và
khi nghe Pháp họ liền bịt tai lại. Tuy nhiên nhăn thức
và nhĩ thức của họ v.v... vẫn chỉ là quả nghiệp thiện mà
thôi.
44. Cho dù con
heo ăn phân v.v... khi ngửi thấy mùi phân, thọ hỷ sanh (somanassajāta),
[nghĩ rằng’’: “Chúng ta sẽ có được điều ǵ để ăn.”
Tuy nhiên nhăn thức nh́n thấy đống phân, tỷ thức ngửi
thấy mùi và thiệt thức nếm vị đó chỉ là quả bất thiện mà
thôi. Và khi con heo được cột lại trên chiếc giường êm
ái, cho dù nó có kêu la, khổ tâm vẫn nổi lên do những
tốc hành tâm thông qua tưởng điên đảo và thân thức của
nó là thức thiện duy nhất hiện hữu. Tại sao vậy? Đó là
do đặc tính dễ chịu nơi đối tượng đó.
45. Hơn thế nữa,
ta cũng nên hiểu đặc tính dễ chịu và khó chịu thông qua
các môn (dvāra). V́ đống phân đối với lạc xúc có
thể gây khó chịu cho nhăn môn và tỷ môn, cho dù đối với
thân môn lại dễ chịu. V́ những ai bị choáng ngợp trước
những châu báu (maṇiratana) của Chuyển Luân Vương
(cakkavatti) và một cây sào bằng vàng, những
chiếc cột bằng vàng nơi kho báu rất hấp dẫn trước nhăn
môn, nhưng lại gây khó chịu cho thân môn. Tại sao vậy?
V́ nó gây ra đau đớn. Như vậy ta nên hiểu rằng điều dễ
chịu và khó chịu có thể phân định được một cách rạch ṛi
thông qua nghiệp quả.
46. Taṃ taṃ
vā pana <2.29> (“Nhưng điều này hay điều kia”):
Ta nên xem nhẹ phương pháp nêu trên. V́ Đức Phật đă
không đả động ǵ đến sung sướng qui ước (
sammutimanāpa), nhưng Ngài chỉ đề cập đến sung sướng
của từng con người (puggalamanāpa) cá biệt mà
thôi. Chính v́ thế ta nên hiểu rạch ṛi đặc tính xấu hơn
và đặc tính tốt hơn bằng cách so sánh với điều này điều
nọ. V́ vật chất (Sắc) nơi những người phải giam cầm nơi
địa ngục [12] được coi là xấu hơn nơi tận cùng
thấp kém. So sánh như vậy, nơi những súc sanh nagas và
supaṇṇas được cho là cao hơn. Vật chất chúng sanh thấp
hơn so với vật chất của Ma đói (peta) vẫn được cho là
cao hơn. vật chất các ma đói (peta) th́ thấp hơn so với
vật chất của các công dân siêu đẳng. C̣n vật chất của
những người công dân so với vật chất các trưởng làng vẫn
cao hơn. Vật chất của những người này cũng thấp hơn, so
với vật chất của các vị vua chúa cai trị một nước, lại
được cho là cao hơn. Nhưng vật chất của họ cũng thấp
hơn, so với vật chất của Chuyển Luân Vương được cho là
cao hơn. Vật chất của vị Chuyển Luân Vương lại thấp hơn
so với vật chất của các chư thiên trần gian này vẫn được
coi là cao hơn. Vật chất của họ lại thấp hơn so với vật
chất của các vị Chư Thiên Tứ Đại Thiên Vương
(Cātumahārājika) được coi là cao hơn. Vật chất của các
vị Chư Thiên này lại thấp hơn so với vật chất của các vị
Chư Thiên Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa) vẫn được coi là
cao cấp hơn. . .nhưng vật chất của các Chư Thiên Sắc cứu
cánh Akanittha lại được cho là thuộc mức độ thượng
đẳng.(cao nhất).
47. Trong phần
diễn giải nhị đề “xa” <2.31> ngữ căn (itthindriya)
v.v... được phân loại vượt trội (Dhs §585); Asl 321)
nhưng trong “nhị đề” này sắc được đề cập tới như là “
xa” v́ rất khó thâm nhập được và đặc tính riêng hiểu
theo nghĩa khó nắm bắt được, và sắc thô được coi như là
“ gần” v́ sắc này dễ thâm nhập, hiểu theo nghĩa dễ dàng
nắm bắt. Và ở vị trí biểu thị[19]
[kết cuộc] [như sau đoạn] kết thúc bằng từ
kabaliṅkārāhāro. <2.32> (“sắc đoàn thực”)
(Dhs. §653) không được biểu thị [bằng các từ] idaṃ
vuccati rūpaṃ dūre <2.34> (đây được gọi là sắc xa)
Tại sao vậy? V́ “xa” lại được chia thành hai
loại: cụ thể là, đặc tính (lakkhaṇato) và vị trí
(okāsato). Trong trường hợp này điều ǵ không
giải thích được bằng đặc tính “ xa” , ta nên diễn giải
là “vị trí” vậy. Kết quả là để có thể chỉ rơ “xa”
như là một vị trí th́ sắc thô vẫn chưa được diễn giải là
“xa” được; Ngài (Đức Phật) lại nói: yaṃ vā pan’aññaṃ
pi <2.32> (“hay bất luận điều ǵ khác”) trước
khi đưa ra một biểu thị[20]
[kết cuộc]
48. Cũng vậy
trong phần diễn giải từ “ gần” <3.1> cùng một
phương pháp đựơc áp dụng.Về điểm này, anāsanne
<2.32> (“không gần kề”) = na āsanne.
Anupakaṭṭhe (“không tiếp giáp”): không ở vị trí gần
. Dūre <2.34> = dūramhi. Asantike
<2.34> = na santike. Đây là điều được
gọi là sắc xa”: đây là mười lăm đặc tính sắc tế “xa xét theo đặc tính”. Nhưng có mười loại sắc thô
được gọi là “xa xét theo vị trí” bằng cách khẳng
định những hiện trạng “hay bất kỳ điều
ǵ.”(yevāpanakavasena).
49. Phần diễn
giải từ “gần” <3.1> ư nghĩa này đă quá rơ ràng
Idaṃ vuccati rūpaṃ santike <3.4> (“điều này được
gọi là sắc gần”): mười loại sắc thô này được coi như
là “ gần” là đặc tính cơ bản. Nhưng mười lăm sắc
tế được gọi là “gần” xét theo vị trí bằng cách khẳng
định những hiện trạng “hay bất kỳ điều ǵ”.
50. [13]
Nhưng bắt đầu từ vị trí nào mà sắc được gọi là “gần”?
Phải chăng từ vị trí chăng? Và bắt đầu từ khoảng
cách nào mà ta gọi là “ xa”? Phạm vi thần kinh
nhĩ nghe được (savaṇupacāra) tiếng nói tự nhiên
của một người ở vào khoảng mười hai sải tay mà thôi. Nội
trong phạm vi đó sắc được coi như là “gần”; vượt
qua phạm vi đó là “xa” Ở đây, sắc tế được coi như
là[21]
“xa”, ở xa cả về đặc điểm đặc biệt và cả vị trí nữa; tuy
nhiên, ở gần là gần về vị trí gần, chứ không được coi
như là đặc điểm đặc biệt. Sắc thô ở xa, chính là xa xét
theo đặc điểm đặc biệt và vị trí; tuy nhiên ở xa, chính
là xa xét theo vị trí, chứ không phải là đặc điểm đặc
biệt.
51. Nhưng trong
trường hợp taṃ taṃ vā pana <3.5> (“nhưng
điều này hay điều kia”). ở đây phương pháp nêu trên
coi như không thể áp dụng được. V́ ở trên th́ cách giải
quyết được pha trộn.[22]
Nhưng ở đây Đức Phật không giải quyết điều này bằng cách
đưa ra “trạng thái” và Ngài chỉ giải quyết bằng
cách đưa ra “vị trí ” mà thôi. Đây chính là cách
so sánh đặc điểm xa và gần được chỉ ra ở đây mà thôi: V́
sắc của chúng ta được coi như là gần. Nhưng sắc của
người khác, ngay cả trong ḷng mẹ, vẫn được coi như là
xa. Sắc của một người khác ở trong ḷng mẹ th́ gần,
nhưng điều nằm ở bên ngoài th́ lại được coi như là xa.
Điều ǵ đó đang nằm trên giường là gần, điều tách khỏi
chỗ đó được coi như là xa. Điều ǵ nằm bên trong tế bào
là gần, c̣n nằm bên ngoài tế bào là xa. Bên trong chùa
của một tập thể Tăng già là gần, c̣n ở bên ngoài ngôi
chùa của tập thể Tăng Già là xa. Sắc nằm bên trong ranh
giới (sīma) th́ gần; nằm bên ngoài ranh giới đó
được coi là xa. Thể chất nằm bên trong khu vực nông thôn
là ở gần; bên ngoài khu vực nông thôn là ở xa. Sắc ở bên
trong vương quốc th́ gần, c̣n bên ngoài vương quốc th́
xa. Sắc bên trong giới hạn biển là gần. c̣n sắc bên
trong lănh vực thế giới (cakkavāḷa) được coi như
là gần, c̣n bên ngoài lănh vực thế giới được coi như là
xa.
Đây là cách
mô tả về sắc uẩn
(c) Thọ uẩn.
52. Liên quan
đến cách mô tả Thọ Uẩn v.v... loại ra ngoài những ǵ
giống ở trên, chúng ta chỉ b́nh luận điều mới mẻ mà
thôi.
53. Yā kāci
vedanā. <3.8> (“Bất kỳ thọ nào”) thuộc bốn
cơi. Sukhā vedanā <3.15> (“thọ lạc”)
v.v... đă được khẳng định để chỉ rơ bản chất cảm thọ như
đă mô tả theo các thọ”quá khứ” v.v... Ở đây, ta
thấy có thân thọ và tâm thọ ; cũng như khổ thọ. Nhưng
nói một cách bóng bẩy c̣n có thân thọ phi lạc phi khổ
tương quan đến các phần thân thể bao gồm thần kinh nhăn
v.v... , và c̣n có cả tâm thọ [phi lạc, phi khổ]. Ở đây,
toàn bộ các thân thọ đều thuộc lănh vực dục giới mà
thôi. Cũng giống vậy đối với [14] tâm thọ khổ.
Nhưng tâm thọ lạc chỉ thuộc ba cơi mà thôi. Thọ phi lạc
phi khổ thuộc bốn cơi. Đặc tính “quá khứ” nơi cảm
thọ này nên được hiểu dưới mọi h́nh thức “theo thừa
kế” và “theo sát na” v.v...
[23].
54. Ở điểm này,
hiểu “theo thừa kế” chính là những ǵ được gộp
trong một loạt qui tŕnh tâm duy nhất, một tốc hành tâm
duy nhất, một thiền chứng duy nhất và những ǵ diễn ra
có liên quan đến một đối tượng duy nhất (ekavidhavisaya-samāyogapavattā)
là thọ “hiện tại”. Trước đó là thọ “quá khứ”
và theo sau là thọ “tương lai”.
55. “Theo sát
na” là thọ “hiện tại,”những thọ được gộp lại
trong “ba” sát na và xảy ra giữa thời gian quá khứ và
tương lai trong khi thực hiện nhiệm vụ của ḿnh là hiện
tại. [ xảy ra] trước đó là [thọ] “quá khứ”. [xảy
ra] sau là [thọ] “tương lai’ (xin đọc Vis. 474, 6 tt). Ơ
đây ta nên hiểu cách mô tả này như được thực hiện liên
quan đến hiện trạng quá khứ, v.v... thông qua hiện trạng
sát na v.v...
56. Trong phần
mô tả về đặc điểm thô và tế, akusalā vedanā
<3.40> (thọ bất thiện”) v.v... được khẳng định để
chỉ cho thấy đặc tính thô và tế trong trường hợp khởi
sanh; dukkhavedanā oḷārikā <4.1> (“khổ thọ th́
thô”) v.v... [để chỉ ra cho thấy] bản chất của thọ;
asamāpannassa vedanā (“ thọ nơi người nào vô
chứng đắc”) v.v... [để chỉ ra cho thấy [thọ đó] chỉ
diễn ra ở một người nào đó mà thôi; sāsava
(“cảnh lậu”) v.v... được khẳng định để chỉ cho thấy
đặc tính thô và tế trong tường hợp thọ hiệp thế và siêu
thế.
57. Ở điểm này,
điều bất thiện ở vị trí đầu tiên là đặc tính thô, hiểu
theo nghĩa thọ câu hành khổ và hiểu theo nghĩa kèm theo
với quả nghiệp khổ; thọ thiện có đặc tính tế hiểu theo
nghĩa không câu hành khổ và hiểu theo nghĩa kèm theo quả
nghiệp lạc; [thọ] vô kư (avyākata) lại có đặc
tính tế hiểu theo nghĩa không kèm theo tinh tấn và không
có quả nghiệp. [thọ] thiện và bất thiện đều mang đặc
tính thô hiểu theo nghĩa câu hành với tinh tấn và quả
nghiệp.Thọ vô kư lại là tế hiểu theo cách ta đă nêu ở
trên. Khổ thọ lại là thô hiểu theo nghĩa không đem lại
thoả măn và sảng khoái thọ lạc là tế hiểu theo nghĩa
thoả măn và sảng khoái. [thọ] phi lạc phi khổ lại tế
hiểu theo nghĩa đem lại an tịnh và là thọ thuộc loại cao
hơn. Thọ lạc và khổ thuộc dạng thô hiểu theo nghĩa làm
rung động và lan tỏa khắp. V́ thọ lạc làm rung động và
lan tỏa và cũng giống vậy đối với khổ thọ. V́ khi lạc
nổi lên nó khiến cho toàn bộ thân xác rung động và kích
động thân xác, tràn ngập thân xác, và thúc bách[24]
làm cho thân xác khoái lạc, như thể đổ một b́nh nước
lạnh lên thân xác nóng hổi. Khi khổ thọ nổi lên, th́
cũng thực hiện y hệt như vậy giống như một ngọn giáo
nung đỏ xuyên qua thân xác vậy. (xin đọc MA. i. 277)
Giống như thiêu đốt thân xác bên ngoài với cỏ khô. Nhưng
thọ phi lạc phi khổ lại tế theo như cách đă nói ở trên.
Thọ phi chứng đắc th́ thô v́ do nhiều đối tượng làm cho
phân tâm. Thọ hữu chứng đắc lại tế v́ nó chỉ diễn ra nhờ
tướng đồng nhất
[25] (ekattanimitta).
Thọ cảnh lậu lại là thô v́ đó chính là nhân duyên (hetu)
làm cho những lậu hoặc xuất hiện. Sự xuất hiện các
lậu hoặc này th́ hoàn toàn [15] là điều thô . Thọ
phi cảnh lậu lại có đặc tính tế như đă tŕnh bày ở trên.
58. Ở điểm này,
có một cá nhân không hiểu ǵ về “tam đề” thiện hay về
tam đề thọ.[nói rằng:] Tôi sẽ tuân thủ “tam đề” thiện.’
Người này vi phạm tam đề thọ; [nói rằng:] ‘Tôi sẽ tuân
thủ bộ tam thọ; người này vi phạm tam đề thiện. Lại có
cá nhân thứ hai nói [rằng:] ‘Tôi sẽ tuân thủ các tam đề
người đó vi phạm khác biệt ở các cơi và người thứ ba lại
không vi phạm những điều đó.
59. Bằng cách
nào vậy? Trong tam đề thọ người ta nói rằng: “Thọ lạc và
thọ khổ có đặc tính thô, thọ phi lạc phi khổ lại tế ”
Người thứ nhất bác bỏ điều này như sau: ‘Không phải toàn
bộ những thọ phi lạc phi khổ đều là tế cả đâu, v́ có thọ
thiện và thọ khác lại bất thiện, cũng có thọ vô kư nữa.
Ở đây, thọ thiện bất thiện mang tính chất thô . C̣n thọ
vô kư th́ tế . Tại sao vậy? V́ điều này đă được truyền
xuống cho chúng ta trong Kinh Pāli trong tam đề thiện
như vậy tam đề thiện được tuân thủ nhưng tam đề thọ lại
bị vi phạm.
60. Nhưng trong
tam đề thiện có nói: thọ thiện và bất thiện th́ thô .
Thọ vô kư th́ tế. Cá nhân này đă bác bỏ điều này [như
sau:] Không phải toàn bộ thọ vô kư đều tế cả đâu. V́ có
thọ lạc và thọ khổ cũng như thọ phi lạc phi khổ nữa. Ở
điểm này, lạc thọ và khổ thọ lại thô, c̣n thọ phi lạc
phi khổ th́ tế. Tại sao vậy? V́ điều này đă được ghi
trong kinh Pāli về tam đề thọ.’ Như vậy người này tuân
thủ tam đề thọ nhưng tam đề thiện lại bị vi phạm.
61. Nhưng cá
nhân thứ ba chẳng vi phạm điều nào cả: người đó giải
thích đặc tính tế và thô bằng những thọ thiện,v.v...
bằng đặc tính thiện và bằng tam đề thiện v.v... nơi
những đặc tính lạc thuộc tam đề thọ, không đếm xỉa ǵ
đến tam đề thọ ở chỗ tam đề thiện được truyền lại và
cũng như vậy đối với tam đề thiện ở chổ tam đề thọ được
truyền lại trong kinh Pāli.
62. Nhưng trong
tam đề thiện ta lại thấy có lời nói rằng: “thọ thiện và
bất thiện đều thô, c̣n thọ vô kư lại tế ”. Ở đây người
thứ nh́ cho là: “Ngay cả khi thọ thiện mang đặc tính
siêu thế đi chăng nữa, thọ này cũng chỉ thuộc dạng thô
mà thôi; c̣n quả thọ, ngay cả khi đồng sanh khởi với
mười tâm thức, lại thuộc dạng tế ”. Bằng cách coi thọ
thô, thọ an tịnh và thọ siêu thế có những đặc tính như
vậy, và biến thọ tế thành thọ vô nhân, biến thọ thấp hơn
thành thọ đần độn liên kết với mười tâm thức, nghĩ rằng:
‘Tôi sẽ tuân thủ tam đề” thế nên cá nhân này đă vi phạm
sự khác lảnh vực.
63. Nhưng cá
nhân thứ ba không vi phạm [điều đó]; hắn giải thích bằng
cách liên kết thọ thiện liên quan đến cơi lại với kết
quả của thọ đó chỉ theo cơi mà thôi. Về điểm này, đây là
phương pháp. Thọ thiện thuộc cơi dục giới th́ thô c̣n
qủa thọ thuộc cơi dục giới lại tế . [16] Thọ
thiện thuộc cơi sắc giới th́ tế, c̣n thọ thuộc cơi vô
sắc giới và siêu thế th́ lại thô .Thọ quả thuộc cơi sắc
giới, cơi vô sắc giới và siêu thế đều tế theo thứ tự đó.
Kẻ nào không vi phạm [điều này] th́ giải thích theo cách
này.
64. Nhưng Trưởng
Lăo Tipiṭaka-Cūḷanāga lại cho rằng: Đặc tính thô và tế
trong trường hợp thọ bất thiện không nên được viện dẫn ở
đây; v́ đặc tính đó hoàn toàn thô. Cũng vậy ta cũng
không nên viện dẫn đặc tính thô và tế trong trường hợp
thọ siêu thế v́ thọ đó hoàn toàn tế vi.” Họ liền thưa
với vị Trưởng Lăo Tipiṭaka Cūḷābhaya bằng cách trích
khẳng định trên nói rằng: Như vậy đây là điều Trưởng Lăo
đă khẳng định.” Trưởng Lăo Tipiṭaka Cūḷābhaya đáp lại:
“V́ có liên quan đến Tạng Vi Diệu Pháp, chỗ nào chỉ có
một từ hay hai từ đă được truyền lại (xin đọc dưới đây,
§ 160 tt.) th́ chẳng có phương pháp lại không do Đức
Phật Toàn Giác đưa ra ở vị trí thích hợp để sử dụng làm
phương pháp cả và Ngài chẳng đưa bất luận phương pháp
không nơi đúng lúc cả, Nhưng ở đây kẻ nào đi rêu rao đây
đó rằng: “Ta là đạo sư ” và rồi viện dẫn lư lẽ cho là
đặc tính thô và tế đó có liên quan đến thọ bất thiện,
th́ phải hối hận. (kukkuccāyati). Nhưng Đức Phật
Toàn Giác viện dẫn đặc tính thô và tế đó chỉ có liên
quan đến đặc tính siêu thế mà thôi. Khi đă nói như vậy
Ngài đă trích dẫn Kinh sau đây: “ Về điểm này, thưa
Trưởng Lăo kính mến, ta tuyên bố: việc hành nan và đắc
tŕ là do đặc tính gây đau khổ và chậm chạp nơi thọ đó.”
(D. iii 106; A. ii 154) Và Ngài đă diễn giải ở đây bốn
loại tiến hành được pha trộn gồm cả đặc tính hiệp thế
lẫn đặc tính siêu thế.
65. Taṃ taṃ
vā pana <4.6> (“nhưng c̣n [phương pháp]
này nọ [th́ sao]”): ở đây, ngoại trừ những phương
pháp vừa nêu ở trên, ta nên giải vấn đề này theo phương
pháp này phương pháp nọ. V́ thọ bất thiện lại có hai
loại: câu hành với tham, và câu hành với sân hận.[26]
Về điểm này, thọ nào đi kèm với sân hận thuộc dạng thô
[27] c̣n câu hành với tham
thuộc dạng tế. Cũng vậy thọ câu hành với sân hận lại có
hai dạng: cố định và phi cố định. Ở đây, thọ cố định th́
thô, và thọ phi cố định lại tế. Và loại thọ cố định đang
khi tồn tại hàng nhiều đại kiếp dưới dạng thô, lại không
thể tồn tại thành tế như vậy được, và thọ đó cho dù đă
tồn tại hàng nhiều đại kiếp, một khi vô dẫn (asaṇkhārika)
vẫn mang đặc tính thô và khi hữu dẫn lại có đặc tính tế.
66. Và thọ tương
ứng với tham lại có hai loại: thọ tương ưng đến tà kiến,