NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

CHÚ GIẢI  BỘ PHÂN TÍCH

                                                             Nguyên Tác Pāli:  Bhadantācariya Buddhaghosa
                                                
Bản Anh Ngữ:  Bhikkhu Ñāṇamoli
                                               
 Bản Việt Ngữ:  Tỳ khưu Thiện Minh

PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

B. CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO VI DIỆU PHÁP

(a). Sắc

160. Giờ đây ta diễn giải đến Chương phân tích theo Vi Diệu Pháp <12.16>. Ở đây, việc mô tả sắc uẩn nên được hiểu theo những phương pháp đă được thảo luận kỹ lưỡng liên quan đến tiết đoạn bàn về sắc ở trên (xin đọc Dhs §585 tt.; Asl 296 tt)

(b). Thọ

(1). Cách sắp xếp.

161. Liên quan đến phần mô tả thọ uẩn, ekavidhena (“bằng một cách”) < 15.1> có nghĩa là thông qua một phần. Phassasampayutto (“tương ưng với xúc”) [tương đương với] phassenasampayutta. Và [điều đó] có nghĩa là toàn bộ thọ thuộc bốn cơi.

162. Liên quan đến nhị đề “hữu phần” (sahetuka) <15.3>, thọ hữu nhân chính là thọ nơi bốn cơi; thọ vô nhân (ahetuka) thuộc dục giới. Qua phương tiện này ta nên hiểu thọ được khẳng định bằng từ bắt đầu với “thiện” <15.5> (tức là thọ thiện).

163. Hơn nữa, thọ uẩn này được chứng tỏ thuộc cùng một loại tương ưng với xúc; lại gồm hai loại, cụ thể là hữu nhân và vô nhân; liên quan đến tái sanh th́ có tới ba loại; và bốn loại nếu thuộc bốn cơi. <15.7>.

164. Lại có năm loại thuộc (năm) quyền <15.9>. Ở đây lạc quyền và khổ quyền lại gồm thần kinh nhăn (kāyappasāda) làm vật và chỉ thuộc dục giới mà thôi. Hỷ quyền (somanassindriya) có vật thứ sáu hoặc vô vật lại thuộc ba cơi. Khổ quyền (domanassindriya) có vật thứ sáu cũng lại thuộc dục giới. Xả quyền (upekkhindriya) cũng có bốn sắc thần kinh bắt đầu với nhăn quyền, cũng có vật thứ sáu hoặc vô vật và cũng lại thuộc bốn cơi.

165. Ta cũng được biết có sáu loại thọ làm vật <15.12>. Ở điểm này, năm loại thọ đầu tiên, có năm loại sắc thần kinh làm vật và chỉ thuộc dục giới mà thôi. Thọ thứ sáu hữu vật hay vô vật, lại thuộc bốn cơi. Người ta cũng chứng minh cho thấy có bảy loại thọ bằng cách chia nhỏ thành ư xúc sanh <15-17> lại có tới tám loại được chia nhỏ từ thân xúc sanh <15.21>; lại có tới chín loại thọ được chia nhỏ thành ư thức giới xúc sanh chi trong bảy phân đoạn <15.26> lại có mười loại thọ chia nhỏ thành ư thức giới xúc sanh chi trong tám phân đoạn. <15.31>

166. V́ liên quan đến những [thọ] này, trong phân đoạn bảy, điều ǵ khởi xuất từ ư xúc sanh lại phân nhỏ thành hai loại, [cụ thể như,] những ǵ khởi xuất từ ư giới xúc sanh và những ǵ khởi xuất phát từ ư thức giới xúc sanh. Trong phân đoạn thứ tám, cùng với những thọ này, [thọ] nào khởi xuất từ thân xúc sanh, lại được chia nhỏ thành hai [cụ thể là,] thọ lạc và thọ khổ. Trong phân đoạn thứ chín đă được khẳng định trong phân đoạn thứ bảy, nhưng [thọ] khởi xuất từ ư thức giới súc sanh, cũng lại chia nhỏ thành ba loại bắt đầu với [thọ] thiện. Trong phân đoạn thứ mười, điều này đă được khẳng định trong phân đoạn thứ tám, nhưng thọ khởi xuất từ ư thức giới súc sanh, cũng được chia nhỏ thành ba loại bắt đầu với thọ thiện.

167. Và ở đây tam đề thiện chỉ được khẳng định nhằm mục đích lấp đầy con số mà thôi. Nhưng liên quan đến phân đoạn thứ bảy, thứ tám và thứ chín, phương pháp được đưa ra đúng nơi đúng lúc [37] phương pháp đó, v́ liên quan đến phân tích theo Vi Diệu Pháp. Chẳng có phương pháp nào được đưa ra lại không do Vị Như Lai với cương vị đúng đắn[46] nhằm đề ra phương pháp như vậy.

168. Thoạt tiên phương pháp này là một phân đoạn nhỏ (vāra) đặt căn cứ nơi các nhị đề nhân. V́ khi phân tích thọ uẩn trong chương Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) này, Đức Phật đă sử dụng các tam đề và lồng vào các nhị đề. <16-19 số 2-4> và Ngài đă dùng các nhị đề và lồng với các tam đề <20-21 số 5-8>. Rồi Ngài c̣n nối kết các tam đề vào với các nhị đề thành một chuỗi kép liên tục <21-26 số 9-27> [Và trong đoạn liên quan] “bảy loại, hai mươi tư loại, ba mươi loại và c̣n nhiều loại khác”, Ngài chỉ rơ thọ uẩn bằng tất cả các phương án với rất nhiều loại.

169. Tại sao vậy? Tất cả đều do các khuynh hướng chúng sanh (puggalajjhāsaya) cũng v́ đặc tính thanh tao cách thuyết pháp (desanāvilāsa). V́ muốn thích hợp cho những hạng người này, Ngài đă giảng dạy [giáo pháp] cho các vị Thiên tử đang ngồi chung với đoàn thể Chư thiên, để họ cũng được nghe giáo pháp và chính các Chư thiên cũng có khả năng thâm nhập được những ǵ Ngài đă giải thích bằng cách lồng ghép các tam đề với các nhị đề. Đối với những ai có khả năng thâm nhập chân đế, Ngài đă giải thích một cách khác, Ngài đă giảng dạy cho họ những phương cách đó. Đây chính là “ khuynh hướng dành cho các chúng sanh đó” Về điểm này, Nhưng do mục tiêu của Ngài quá đa dạng, Đấng Toàn Giác (Đức Phật) lại có thể giảng dạy bằng bất kỳ cách nào Ngài muốn, bằng cách lồng ghép các tam đề với các nhị đề hay cách lồng ghép các nhị đề với các tam đề hay tăng tính liên tục gấp hai lần. Hoặc dùng đến bảy loại v.v... chính v́ thế Ngài đă giảng giải theo những phương án này. Ở đây ta nhận thấy đặc tính thanh tao nơi cách giảng thuyết của Ngài vậy.

170. Về điểm này, đoạn Ngài diễn giải bằng cách sử dụng các tam đề lồng ghép vào các nhị đề được gọi là căn nhị đề; c̣n đoạn diễn giải bằng cách dùng các nhị đề lồng ghép với các tam đề được gọi là căn nhị đề. Các đoạn diễn giải bằng hàng loạt liên tiếp nhau được gọi là đoạn liên tục kép. Đoạn nào lúc kết thúc bắt đầu bằng ‘thuộc về bảy loại” được gọi là đa đoạn. Những đoạn này thoạt tiên chỉ có bốn đoạn lớn.

171. Ở điểm này, trong đoạn gọi là căn nhị đề. Phân đoạn bắt đầu bằng cách nối nhị đề thứ hai[47] với tam đề thứ nhất và đạt đến con số 950[48] [Ta có con số này] bằng cách nối kết mười chín tam đề khả dĩ áp dụng được c̣n lại sau khi đă loại ra ngoài những tam đề thọ không thể áp dụng được, tam đề hỷ và tam đề hữu kiến (vedanāttika, pītittika, nidassanattika; xin đọc Dhs Mātikā N.2,7,21) có liên quan đến các tam đề, cùng với từng nhị đề khả dĩ áp dụng được với các nhị đề. Và toàn bộ những nhị đề kể trên đă được khẳng định trong Kinh Pāli một cách ngắn gọn và chứng tỏ cho thấy nơi này nơi khác nhu cầu cần phải được minh chứng. Nhưng những ai không c̣n lúng túng nên hiểu rơ đến từng chi tiết những ǵ đă đề cập đến ở trên.

172. Và trong đoạn thường gọi là “căn tam đề”, phân đoạn bắt đầu với việc nối kết tam đề đầu tiên với nhị đề thứ hai lên tới 950 phân đoạn. Ta đạt đến con số này bằng cách nối kết những nhị đề khả dĩ áp dụng được với nhị đề thứ hai, [cụ thể như] nhị đề hữu nhân” c̣n xót lại sau khi đă loại ra những nhị đề khả dĩ áp đụng được. Bắt đầu với nhị đề đầu tiên liên quan đến các nhị đề, cùng với từng tam đề khả dĩ áp dụng được. [38] và toàn bộ đă được khẳng định trong bản Kinh Pāli một cách ngắn gọn và cho thấy đây kia điều ǵ cần minh chứng. Nhưng những ai không c̣n lúng túng nên hiểu rơ đến từng chi tiết những ǵ đă đề cập đến ở trên.

173. Trong đoạn được gọi là “phần lưỡng lợi” các phân đoạn bắt đầu với việc nối ghép nhị đề thứ hai với tam đề thứ nhất làm thành mười chín. [49] Ta đạt đến con số này bằng cách bắt đầu với nhị đề thứ hai trong hai đoạn và tam đề thứ nhất trong ba đoạn. Bằng cách nối kết mười chín tam đề khả dĩ áp dụng với mười chín nhị đề khả dĩ áp dụng được. V́ việc tiến tŕnh thông qua phần lưỡng lợi nơi các nhị đề và tam đề, đoạn lớn thứ ba được gọi là “phần lưỡng lợi.”

174. Nhưng trong bảy cách mô tả trong nhiều đoạn khác nhau; bắt đầu ngay từ đầu liên quan đến mười chín tam đề ứng dụng được, bằng cách gom bốn cơi lại với từng tam đề một, mười chín lần bảy đoạn được khẳng định. Cũng trong 24 lần mô tả, mướ chín phân đoạn cũng được khẳng định bằng các tên tam đề, cũng như vậy liên quan đến nhiều phân đoạn khác nữa, đoạn thứ ba mươi chỉ duy nhất có một mà thôi, như vậy toàn bộ có cả thảy 58 phân đoạn.[50]

175. Nơi vị trí đầu tiên đây chính là bài b́nh luận bằng các phân định các đoạn ở đây.

(2) Ư Nghĩa.

176. Giờ đây lại có bài diễn giải ư nghĩa. Về điểm này, trước tiên ta cứu xét về bảy cách mô tả <26.14> với ư nghĩa đă quá rơ ràng.

177. Rồi đến 24 cách diễn giải. cakkhusamphassapaccayā vedanākkhandho atthi kusalo (“ Có thọ uẩn do duyên nhăn xúc là thiện”) <26.23> Ở đây ta nên hiểu: có tám thiện tâm dục giới; atthi akusalo ( là bất thiện”) <26.24> ta nên hiểu có mười hai tâm bất thiện; atthi avyākato (“thọ vô kư”) <26.25> ta nên hiểu là có 24 loại tâm, cụ thể là, ba ư giới, ba ư thức giới vô nhân, tám đại qủa và mười duy tác dục giới.

[Phương pháp áp dụng thiền quán]

178. Về điểm này, có tám thọ thiện và mười hai thọ bất thiện được coi là (tốc hành tâm) (javana); tâm duy tác ư giới có thể được áp dụng như là khai môn (āvajjana); hai tâm quả ư giới được coi như là tiếp thâu (Sampaṭicchana); ba qủa tâm ư thức giới được coi như là thẩm tấn suy đạt tâm (santīraṇa) và na cảnh (tadārammaṇa); tâm duy tác vô nhân ư thức giới được coi như là đoán định (voṭṭhapana); tám đại tâm qủa được coi như là na cảnh tâm; chín duy tác tâm được coi như là tốc hành tâm. Cũng giống vậy đối với nhỉ, tỷ, thiệt và các thân môn. Nhưng đối với ư môn atthi kusalo (“là thiện”) <26.30> được giải thích như là thiện thuộc bốn cơi; atthi akusalo (“là bất thiện”) gồm mười hai tâm bất thiện; atthi avyākato (“là vô kư”) cũng đă được giải thích là 34 tâm (cittuppāda). [cụ thể là:] mười một tâm qủa dục giới, mười [39] tâm duy tác. Chín tâm duy tác sắc giới và vô sắc giới và bốn thánh qủa sa môn

179. Về điểm này, cả thiện thuộc bốn cơi và bất thiện được áp dụng như là tốc hành tâm. C̣n đối với duy tác tâm, vô nhân ư thức giới được áp dụng như là đoán định (adverting) ; mười một tâm quả được coi như là na cảnh (registration) ; cả duy tác tâm thuộc ba cơi và thánh qủa sa môn được áp dụng như là tốc hành tâm.

180. Thật thích hợp để diễn giải những tâm này, có thể dừng lại ở bất kỳ nơi bảy tâm thức v.v... Nhưng điều này rất dễ chứng tỏ, ngừng lại để diễn giải trong ba mươi tiểu đoạn, như đă được chứng minh chỉ trong ba mươi phân đoạn mà thôi, v́ toàn bộ các tâm này lại được áp dụng theo ba cách cũng như tại nhăn môn, [cụ thể là] (1) như là một loại cận y (upanissayakoṭi), (2) như là phải được vượt qua (samatikkama) và (3) như là việc tu tiến (bhāvanā), cũng như vậy trong trường hợp nhĩ môn, thiệt môn và thân môn, tất cả các môn này nên được hiểu là có thể ứng dụng được theo hai cách [cụ thể như: bằng cách vượt qua và bằng cách tu tiến. Bằng cách nào đây?

[Nhăn]

181. Ở đây có một Tỳ Khưu, nh́n thấy một đề mục hoàn tịnh kasiṇa (maṇḍala) đang khi dạo quanh ngôi chùa, liền hỏi: ‘Vật này tên gọi ra sao?’ Khi có người trả lời: Đó là một đề mục hoàn tịnh kasiṇa. Vị Tỳ Khưu liền hỏi tiếp: “Dùng làm ǵ với thứ đó vậy?” Họ cho ngài biết: bằng cách tu tập điều này sẽ làm dậy lên thiền Jhana và rồi bằng việc tăng thêm thiền Jhana có chứng đắc cơ bản của nó, họ đă đạt đến bậc A-la-hán. Một người dân bộ tộc b́nh thường có khuynh hướng, không coi vật này là điều này là một vấn đề khó chịu, nghĩ rằng: “ Tôi phải tạo ra ân đức này; nhưng người chỉ nằm ngủ kỹ và lười biếng sẽ không tạo được điều này đâu. Chúng ta phải áp dụng tinh tấn (viriya) và thanh tịnh giới ngay từ đầu,” và thế là vị Tỳ Khưu này đă thanh tịnh giới của ḿnh. Sau khi giới đă được thiết lập, sau khi Ngài đă cắt bỏ đi mười trở ngại, (xin đọc Vis, 89 tt) vị Tỳ Khưu này rất hài ḷng nhận ba chiếc y cà sa; Ngài thi hành nhiều nhiệm vụ đa dạng dành cho thiền sư và nắm thầy tiếp độ, sau khi đă học hỏi đề tài thiền (kammaṭṭhāna) và thực hiện những công việc khởi đầu với đề mục hành thiền Biến Xứ hoàn tịnh (kasiṇa), Ngài đă làm dậy lên chứng đắc; tăng thêm thiền quán và đă đạt đến chứng đắc làm cơ bản và ngài đă đạt đến bậc A-la-hán.

182. Ở đây toàn bộ thọ trong việc hành thiền mở đầu đều thuộc dục giới; thọ nơi tám thiền chứng lại thuộc sắc giới và vô sắc giới; thọ về các thánh đạo và thánh quả thuộc lănh vực siêu thế. Như vậy nhăn thức trở thành trợ duyên mănh lực để tạo ra thọ nơi bốn cơi và cũng vậy thọ nơi bốn cơi được gọi là “nhăn xúc sanh” làm duyên” Như vậy ở vị trí đầu tiên nhăn thức được ứng dụng như là một thân y duyên. [40]

183. (2) Nhưng khi một sắc pháp (rūpa) đă trở thành tiêu điểm (āpāthagata) nơi nhăn môn. Một người dân bộ tộc b́nh thường đă thiết lập phân biệt (pariggaha) [51] như vậy: ái dục (rāga) nổi lên trong tôi liên quan đến đối tượng khoái lạc và sân hận, {sân hận cũng nổi lên] liên quan đến đối tượng khó chịu và si mê, liên quan đến đối tượng chưa nhận ra, nhưng mạn (mana) (kiêu hănh) nổi lên trong tôi khi bị trói buộc (vinibandha),[52] tà kiến nổi lên khi có cảnh khinh thị (parāmaṭṭha), phóng dật nổi lên (uddhacca) khi ta phân tâm, hoài nghi nổi lên (vicikicchā) khi ta không đạt đến một kết luận [53] xác định. Những tùy niệm (anusaya) nổi lên khi ta bị thói quen chi phối (thāmagata), biết rơ các phiền năo (defilements) nổi lên trong chính ḿnh, người đó suy nghĩ: Những phiền năo nổi lên sẽ làm hại cho tôi và phá bỏ tất cả. Mong rằng tôi kiềm chế được những thứ đó. Nhưng nghĩ lại một người đang nằm và ngủ kỹ khó ḷng có thể khống chế được tất cả. Chúng ta phải áp dụng tinh tấn và thanh tịnh giới ngay từ đầu và bằng cách tu luyện như đă khẳng định ở trên, người đó đă đạt đến bậc A-la-hán.

184. Cũng liên quan đến điểm này, toàn thể thọ lúc khởi đầu công việc tu thiền vẫn thuộc dục giới; thọ nơi tám thiền chứng lại thuộc sắc giới và vô sắc giới. Thọ thánh đạo và thánh qủa th́ thuộc siêu thế. Như vậy thọ bốn cơi xảy ra do chế ngự được những điều phiền năo (defilements) nổi lên liên quan một cảnh sắc làm đối tượng được gọi là “Nhăn xúc sanh làm duyên” như vậy đây là điều có thể áp dụng như là những điều kiềm chế vậy.

185. (3) Nhưng có một vị Tỳ Khưu, khi cảnh sắc đă xuất hiện (rūpa) nơi tiêu điểm nhăn môn. Được thiết lập và xác định rơ ràng: cảnh sắc này lệ thuộc điều ǵ thế? Chính v́ thế, khi biết được nó trở thành (bhūta) và phụ thuộc, vị Tỳ Khưu này xác định bằng phổ thông trí sắc tứ đại và sắc y sinh như là sắc và cho là các pháp có đối tượng chính là “phi sắc”. Chính v́ thế, bằng cách xác định danh sắc (nāmarūpa) đi kèm với duyên khởi, và bằng cách áp dụng tam tướng, vị đó hiểu ra rằng các hành cộng với thiền minh sát (vipassanā) và vị đó đă đạt đến bậc A-la-hán.

186. Về điểm này cũng vậy, toàn bộ thọ trong việc khởi động thiền đều thuộc dục giới cả; thọ nơi tám thiền chứng lại thuộc sắc giới và vô sắc giới, thọ nơi thánh đạo và thánh quả thuộc siêu thế. Thọ này được tạo ra bằng cách quán thông thường cảnh sắc làm đối tượng, ta gọi đó là “nhăn xúc sanh làm duyên” như vậy đây là cảm thọ thích hợp cho việc tu luyện.

[Nhĩ]

187. (1) Nhưng một vị Tỳ Khưu khác lại nghe thấy rằng: “bằng cách thực hiện công việc khởi động tu thiền, h́nh như thiền chứng xuất hiện, và bằng cách gia tăng thiền quán, có thiền chứng làm căn bản, chúng ta đạt đến bậc A-la-hán.

188. Ở điểm này cũng vậy, toàn bộ thọ trong việc khởi động tu thiền vẫn thuộc dục giới; thọ với tám thiền chứng ;lại cũng thuộc cơi sắc và cơi vô sắc; thọ diễn ra nơi thánh đạo và thánh quả thuộc siêu thế. Như vậy nhĩ thức [41] đă trở thành trợ duyên mạnh mẽ tạo ra thọ nơi bốn cơi, và như vậy thọ nơi bốn cơi được gọi là “nhĩ xúc sanh làm duyên”. Như vậy ở vị trí đầu tiên nó thích hợp với thân y duyên.

189. (2) Nhưng khi một cảnh thinh lọt được vào tiêu điểm nhĩ môn, toàn bộ nên được hiểu như đă khẳng định ở trên, liên quan đến nhăn môn. Vậy th́ toàn bộ thọ thuộc bốn cơi diễn ra nhờ thắng vượt được phiền năo (defilements) nổi lên, liên quan đến cảnh thinh làm đối tượng và được gọi là “ nhĩ xúc sanh làm duyên” như vậy thọ này có thể thắng vượt được là điều thích hợp.

190. (3) Nhưng một Tỳ Khưu nọ, khi một cảnh thinh xuất hiện ngay tiêu điểm nhĩ môn, xác định được như sau: “ cảnh thinh này phụ thuộc điều ǵ vậy?” Và toàn bộ nên được hiểu như đă được khẳng định ở trên, liên quan đến nhăn môn. Như vậy thọ đă được tạo ra nhờ quán thông thường một cảnh thinh như vậy làm đối tượng được gọi là “nhĩ xúc sanh làm duyên” như vậy thọ này có thể thích hợp để tu tập.

[Tỷ, Thiệt,Thân]

191. (2) Nhưng khi một cảnh khí làm đối tượng đă lọt vào tiêu điểm tỷ môn, một cảnh vị xuất hiện nơi thiệt môn hay một cảnh xúc (phoṭṭhabba) xuất hiện nơi thân môn, sau khi đă xác định được như vậy: “tham dục nổi lên trong tôi liên quan đến đối tượng vừa ư,” như vậy toàn bộ thọ nên được hiểu như đă khẳng định ở trên liên quan đến nhăn môn. Thọ thuộc bốn cơi diễn ra nhờ thắng vượt qua được những phiền năo (defilements) nổi lên liên quan đến cảnh khí, v.v... làm đối tượng được gọi là “tỷ xúc sanh, thiệt xúc sanh hay thân xúc sanh làm duyên.” Như vậy thọ này có thể thích hợp để thắng vượt liên quan đến ba môn này.

192. (3) Nhưng có một Tỳ Khưu. Khi một cảnh khí v.v... đă lọt vào tiêu điểm tỷ môn, v.v... sau khi đă xác định được như vậy liền lên tiếng hỏi: cảnh khí này, cảnh vị này và cảnh xúc này phụ thuộc vào điều ǵ vậy?” và toàn bộ những điều này nên được hiểu như đă được khẳng định ở trên, liên quan đến nhăn môn. Như vậy thọ được tạo ra bằng cách quán thông thường một cảnh khí v.v... như thế làm đối tượng được gọi là “tỷ xúc sanh, thiệt xúc sanh hay thân xúc sanh làm duyên. Như vậy thọ này có thể thích hợp để tu tập.

[Ư]

193. (1) Nhưng liên quan đến ư môn, thọ có thể thích hợp theo ba cách. Đối với một vị Tỳ Khưu coi sanh như là điều kinh hoàng (bhayato), coi tuổi già, bệnh tật và chết như là điều kinh hoàng. Coi cả bốn điều này như là điều kinh hoàng. Ngài liền suy nghĩ: “Chúng ta phải thoát khỏi sanh, thoát khỏi tuổi già, thoát khỏi bệnh tật và thoát khỏi cái chết. Nhưng nhất thiết không có thể đối với một người chỉ nằm không và ngủ kỹ, lại có thể thoát khỏi sanh, bệnh, lăo, tử được đâu, chúng ta phải vận dụng tinh tấn (nghị lực) và thanh tịnh giới ngay từ lúc đầu, và tu luyện như đă được khẳng định ở trên liên quan đến nhăn môn, kết qủa Tỳ Khưu này đạt đến Bậc A-la-hán.

194. Ở điểm này cũng vậy, toàn bộ thọ về việc tu thiền quán ban đầu đều thuộc dục giới. Thọ nơi tám thiền chứng lại thuộc sắc giới và vô sắc giới: thọ nơi thánh đạo và thánh quả lại thuộc siêu thế. Như vậy, sanh, lăo, bệnh và tử đă trở thành một trợ duyên mạnh mẽ để tạo ra thọ thuộc bốn cơi, [42] và chính v́ thế thọ thuộc bốn cơi được gọi với tên là “ ư xúc sanh làm duyên”. Như vậy nơi vị trí đầu tiên thọ này có thể thích hợp như là thân y duyên vậy.

195. (2) Nhưng khi cảnh pháp (dhamma) đă xuất hiện tại tiêu điểm đối tượng nơi ư môn, toàn bộ nên được hiểu như đă khẳng định ở trên liên quan đến nhăn môn. Thọ nơi bốn cơi diễn ra nhờ thắng vượt được những phiền năo (defilement), nổi lên liên quan đến một cảnh pháp đối tượng được gọi là “ ư xúc sanh làm duyên” như vậy thọ này có thể thích hợp để thắng vượt.

196. (3) Nhưng một vị Tỳ Khưu, khi đă có cảnh pháp xuất hiện vào tiêu điểm ư môn, đă xác định như sau: “ cảnh pháp này là đối tượng, th́ phụ thuộc vào điều ǵ vậy? Đối tượng này phụ thuộc vào ư vật (vatthu). Ư vật đó lại lệ thuộc vào điều ǵ nữa vậy? Ư vật này phụ thuộc vào sắc tứ đại. Ngài đă xác định được sắc tứ đại và sắc y sinh như là “sắc ” và các pháp lấy đó làm đối tượng được coi là “phi sắc” . Chính v́ thế do xác định được danh sắc đi kèm với các duyên và bằng cách ứng dụng tam tướng vị Tỳ Khưu này đă quán phổ thông các hành cộng với thiền quán tăng tiến vị Tỳ Khưu này đă đạt đến bậc A-la-hán.                                                                                                                                                         

197. Về điểm này cũng vậy, toàn bộ thọ vào lúc bắt đầu tu thiền đều thuộc dục giới cả. thọ nơi tám thiền chứng lại thuộc sắc giới và vô sắc giới: thọ nơi thánh đạo và thánh quả lại thuộc siêu thế. Thọ này được tạo ra do am hiểu được cảnh pháp, được coi là đối tượng có tên gọi là “ư xúc sanh làm duyên” như vậy thọ này có thể thích hợp để tu tập phát triển.

198. Nhưng sáu loại thọ được khẳng định vào cuối mỗi thọ thuộc nhóm 24 và tiếp nối các phân đoạn như là cakkhusamphassajā vedanā... manosamphassajā vedanā (“thọ do nhăn xúc sanh ... thọ do ư xúc sanh”) <26.30> đă được khẳng định bằng tương ưng duyên (sampayuttapaccaya).

Đây là cách mô tả về các thọ uẩn.

(c) – (e) Tưởng v.v...

199. Tưởng uẩn v.v... cũng nên được hiểu theo cách thức này. Nhưng trong phần mô tả về tưởng uẩn, liên quan đến tam đề “thọ” (no.2) và tam đề “hỷ” (no. 7) là thích hợp. Và liên quan đến các tam đề “câu hành lạc” v.v... (các số 91 và 92).

200. Trong phần mô tả các hành uẩn, do gộp chung xúc với các hành uẩn, ta nói “tương ưng với tâm” (cittasampayutta), thay v́ nói “ tương ưng với xúc.” Và ở đây, liên quan đến các nhị đề, là nhị đề nhân là thích hợp[54] c̣n các tam đề th́ giống như đă triển khai trong các tưởng uẩn vậy.

201. Trong phần nói về Thức uẩn, ta đề cập đến “nhăn thức”.v v.v... thay v́ nói “các pháp do nhăn xúc sanh” v.v... V́ ta không thể mô tả tâm như là “ư xúc sanh” được. Những ǵ c̣n lại ở đây như đă được khẳng định nơi tưởng uẩn, nhưng liên quan đến việc mô tả ba uẩn này, một số lớn các tam đề và nhị đề lại tỏ ra thích hợp hơn so với cách mô tả thọ uẩn. Chương này trong các đoạn nên được hiểu theo cách này.

Kết thúc chương phân tích theo Vi Diệu Pháp

C. Phần vấn đáp.

202. Giờ đây có phần vấn đáp (pañhāpucchaka) được đặt ra. Về điểm này, có liên quan đến việc đặt vấn nạn, sau khi đă nêu thắc mắc về toàn bộ những ǵ thích hợp và không thích hợp liên quan đến phương pháp bắt đầu bằng câu sau đây pañcannaṃ khandhānaṃ kati kusalā kati akusalā kati avyākatā? (“bao nhiêu trong số ngũ uẩn được coi như là thiện, bao nhiêu là bất thiện và bao nhiêu là vô kư?”) <61. 28>. Trong khi trả lời, chỉ có uẩn nào thích hợp ta mới nên hiểu được áp dụng phương pháp bắt đầu với rūpakkhandho avyākato (sắc uẩn là vô kư”) <62.1>. Và bất kỳ nơi nào không xác định được là “một uẩn” hay “hai uẩn”, th́ bản văn để lại với phương pháp bắt đầu với câu siyā uppannā siyā anuppannā (“có thể nổi lên hoặc không thể nổi lên”) (tam đề17). Trong đó việc gộp chung toàn bộ ngũ uẩn lại với nhau nên được hiểu rơ. Việc phân loại c̣n lại về các pháp này nọ như là “[uẩn] thiện” v.v... đă được khẳng định ở trên trong phần b́nh giải về tác phẩm Dhammasaṅgaha (Bộ Pháp Tụ) (xin đọc Asl).

203. Nhưng liên quan đến các tam đề “cảnh” (ārammaṇattika) (các số 13,16, 19,21) <62.39), có bốn uẩn với cảnh hy thiểu (parittārammaṇa) nơi những kẻ nào tham dục, sân hận, si mê, kẻ nào thu thúc, kẻ nào có quán phổ thông, phản khán thông qua quán sát bằng 55 pháp dục giới, những người này đă triển khai những đối tượng (mahaggatārammaṇa) đó nơi những kẻ tham dục, sân hận, si mê, những kẻ nào thu thúc, những kẻ nào đă được thiết lập phân biệt thông qua quán sát bằng 27 sắc pháp và phi sắc; họ thấy được những đối tượng bao la (appamāṇārammaṇa) nơi những ai phản khán lại thông qua quan sát bằng thánh đạo, thánh quả và Níp bàn. Trong thời gian triển khai một khái niệm họ chẳng nên nói là đă chiếm được những đối tượng như thế. (na vattabbārammaṇā) <62. 41>

204. Những người này cũng thế, vào thời điểm duyệt xét lại thánh đạo nơi thánh hữu học (sekha) và vô học (asekha) <63.5> đă có đạo thành cảnh (maggārammaṇa), họ đă có đạo thành nhân (maggahetuka) do đặc tính những thánh đạo này là nhân đồng sanh khởi vào sát na thánh đạo. Họ đă coi đạo thành trưởng (maggādhipati) nhờ trạng thái cảnh trưởng bằng cách tăng thêm tác dụng cho thánh đạo vào sát na phản khán, và họ đă có đạo thành trưởng thông qua đặc tính câu sanh trưởng nơi kẻ nào phát triển thánh đạo với cần (viriya) cao nhất hoặc với thẩm (vīmaṃsā) cao nhất. Họ chẳng nên cho là đă nắm được những đối tượng như vậy nơi kẻ nào phát triển thánh đạo với dục (chanda) cao nhất hay với tâm (citta) cao nhất .

205. Họ có một cảnh quá khứ (atītārammaṇa) <63.11> nơi những kẻ nào tham dục, sân hận, si mê, những kẻ nào thu thúc, đă thiết lập phân biệt, thông qua quán sát lại những uẩn quá khứ, những giới cũng như những xứ (āyatana); họ nắm được cảnh tương lai [44] nhờ quán sát lại các uẩn, v.v... tương lai họ nắm được cảnh hiện tại thông qua quán sát lại các uẩn hiện tại. Nơi những người quán sát lại một khái niệm hay Níp bàn, họ chẳng nên cho là đă nắm được những đối tượng như vậy.

206. Cũng như vậy đối với những ai nắm được cảnh nội phần (ajjhattārammaṇa) <63.16> nơi những người nào tham dục, sân hận, si mê, những ai thu thúc, và đă thiết lập phân biệt, thông qua quán sát các uẩn nội phần, do những giới hoặc xứ của chính ḿnh; họ nắm được những cảnh ngoại phần vào sát na họ quán sát về một khái niệm (paññatti) hoặc về Níp bàn; họ cũng nắm được cảnh nội ngoại phần nơi những người tạo ra chúng như vậy có liên quan đến các pháp vào một sát na nội phần hay vào một sát na ngoại phần nào đó. Vào sát na thuộc vô sở hữu xứ th́ họ nên hiểu như là chẳng nên cho là đă nắm được những đối tượng như vậy.

207. Như vậy Đức Phật đă chứng minh cho thấy tác phẩm phân biệt các uẩn (Khandhavibhaṅga) bằng cách đưa vào ba chu kỳ bắt đầu với chương phân tích theo kinh Tạng (Suttantabhājaniya). Và liên quan đến ba chu kỳ này, chỉ có một cách được phân chia thành [căn cứ vào cơi] v́ sắc uẩn tồn tại khắp mọi nơi chỉ thuộc dục giới mà thôi; c̣n bốn danh uẩn, thuộc về bốn cơi; được giải thích như là ḥa lẫn giữa hiệp thế và siêu thế.

-ooOoo-

[46] Xin đọc ở trên đoạn §64

[47] Sahetuka-ahetuka. “ nhị đề thứ nhất” trong tác phẩm Dhs Matika viết là “hetu-ahetu”.

[48]. Có nghĩa là 50 nhị đề x 19 tam đề.

[49] Xin đọc trong Trsl §§ 43- 61

[50] Điều này xác minh tính chính xác của tác phẩm Vbh (B) (v.l đến điểm E) được đọc tiếp theo sau đây Vbh Trsl [LSC]

[51] Mṭ: “Nhờ quán xét” [Ny

[52] Mṭ: “ Liên quan tới vật chất (Sắc) v.v... người đó bị ràng buộc với ư tưởng “tôi là” [Ny].

[53] Asanniṭṭhāgata = a+ saṃ +niṭṭhi + gata

[54] Số một và 27 số khác nữa như đă chứng minh trong bản văn Pāli trong đoạn nói về Double Succession)