NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

CHÚ GIẢI  BỘ PHÂN TÍCH

                                                                    Nguyên Tác Pāli:  Bhadantācariya Buddhaghosa
                                                
       Bản Anh Ngữ:  Bhikkhu Ñāṇamoli
                                               
        Bản Việt Ngữ:  Tỳ khưu Thiện Minh

PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG MƯỜI MỘT

PHÂN TÍCH VỀ ĐẠO
(Maggavibhaṅga)

A. CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO KINH TẠNG.

1558. [319] Giờ đây trong phần phân tích các chi đạo tiếp ngay sau đó, tất cả đều bắt đầu với [các từ] ariyo aṭṭhaṅgiko maggo <235. 11> (“Bát Chánh Đạo”) ta nên hiểu theo phương pháp đă được khẳng định liên quan đến cách mô tả về đạo dẫn đến đoạn diệt đau khổ trong phần phân tích về đế. (Saccavibhaṅga) (xin đọc ở trên, §537tt)

1559. Liên quan đến phương pháp thứ hai được chứng tỏ riêng rẽ ở trên có liên quan đến việc tập luyện. Toàn bộ đều bắt đầu với [các từ] sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ <236.25> (“ngài tu tập chánh kiến tùy thuộc vào viễn ly”) nên được hiểu theo phương pháp đă được khẳng định có liên quan đến phần phân tích các giác chi (Bojjhaṅgavibhaṅga) (xin đọc ở trên § 1544)

1560. Như vậy chương phân tích theo Kinh Tạng này với hai phương pháp được diễn giải pha trộn với đặc tính hiệp thế và siêu thế.

Kết thúc chương phân tích theo Kinh Tạng

B. CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO VI DIỆU PHÁP.

1561. Trong chương phân tích theo Vi Diệu Pháp, aṭṭhaṅgiko maggo <236.33> (“Bát chi Đạo”) được tŕnh bày mà không đề cập đến “thánh” (noble=ariyo). Cho dù không được khẳng định như vậy. Tuy nhiên đạo đó vẫn là thánh. V́ giống như một đứa trẻ được đầu thai trong bụng một hoàng hậu được xức dầu phong vương. Tuy nó không được gọi là hoàng tử, tuy nhiên đứa trẻ vẫn là một hoàng tử; chính v́ thế, cho dù chánh đạo này không được gọi là “thánh” tuy nhiên ta nên hiểu chánh đạo này vẫn là “thánh”. Ở đây cũng vậy, ta nên hiểu những ǵ c̣n lại theo phương pháp đă được khẳng định liên quan đến cách phân tích về đế vậy.

1562. Cũng như vậy liên quan đến năm chi <237.41>. cho dù là “tám” hay “bát” cũng không được nói đến, tuy nhiên ta nên hiểu được là tám chi; v́ không có thánh đạo siêu thế nào lại gồm có năm chi cả. Đây là cách chú giải đă được các thiền sư đồng ư như vậy .

1563. Nhưng có một vị diễn giả thích tranh luận (vitaṇḍavādin) lại cho rằng: “Chẳng có tới bát chi đạo siêu thế đâu; chỉ có năm (ngũ) chi đạo mà thôi.” Nghe nói đâu ngài đă trích trong một Kinh Phật chắc chắn cho rằng, không nhận ra bất kỳ một chánh đạo nào khác. Chắc hẳn ngài đă trích đoạn này trong Kinh Mahāsaḷāyatana : “Quan điểm của một người như vậy là chánh kiến; tinh tấn của một con người như vậy là chánh tinh tấn; suy nghĩ của một con người như vậy là chánh tư duy; nhập định của một người như vậy là chánh định; niệm của một người như vậy là chánh niệm; nhưng thân nghiệp của người đó, khẩu nghiệp của người đó và cách sống của người đó đă được thanh tịnh hoàn toàn trước đó” (M. iii 289)

1564. Bởi vậy ta nên nói về người đó rằng: “Hăy trích đoạn tiếp theo đó, nếu người đó thực hiện như vậy th́ thật là tốt. Nếu người đó không trích đoạn đó, sau khi chính ḿnh đă trích như vậy: như vậy phải chăng Bát Chánh Đạo này đạt đến toàn hảo thông qua tu luyện chính ḿnh chăng ( Trung Bộ Kinh iii. 289). [320] Ta nên nói với người đó mà rằng: “Thiền sư đă bác bỏ lời khẳng định của ḿnh bằng chính lời diễn giảng[40] của ngài; và chẳng có thánh đạo siêu thế nào chỉ gồm có năm chi đâu; mà chỉ có tám chi mà thôi.

1565. Nhưng ba chi đạo chỉ xuất hiện trước đó đă được thanh tịnh. Và vào sát na xuất hiện thánh đạo siêu thế th́ cả ba lại trở nên thanh tịnh nhiều hơn. Thế rồi nhờ vào ngũ chi đạo này th́ mục tiêu nào đă được đảm nhiệm? Mục tiêu nhằm chứng tỏ những phận sự xem ra đă quá rơ ràng.

1566. V́ vào sát na người đó từ bỏ tà ngữ và hoàn hảo chánh ngữ của ḿnh, vào sát na chẳng c̣n chánh nghiệp và chánh mệnh; th́ chỉ có năm chi nghiệp tạo cho ta có thể từ bỏ được tà ngữ. Cũng vậy chánh ngữ không thể tự hoàn hảo được nhờ chính những hành vi kiêng cữ.[41]

1567. Vào thời điểm khi ngài từ bỏ tà mạng và hoàn hảo hóa chánh mạng. Vào thời điểm đó cũng chẳng có chánh ngữ và chánh mạng đâu. Chỉ duy nhất năm chi nghiệp tạo này mới có thể từ bỏ được tà nghiệp. Nhưng chánh nghiệp lại không thể hoàn hảo hóa được nhờ vào kiêng cữ đâu.

1568. Vào thời điểm khi ngài từ bỏ tà nghiệp và hoàn hảo hóa chánh nghiệp. Vào thời điểm chẳng có chánh ngữ và chánh nghiệp. Chỉ có năm chi nghiệp tạo mới có thể giúp từ bỏ tà mạng. Nhưng chánh mạng không được hoàn hảo hóa thông qua kiêng cữ đâu; điều này được coi như là “ngũ chi đạo” để có thể cho thấy nhiệm vụ ngoại lệ của các chi đạo tạo ra nghiệp. Nhưng thánh đạo siêu thế chỉ có tám chi mà thôi không hề có năm chi đạo bao giờ.

1569. Nhưng nếu bạn cho là có bát chi đạo với chánh ngữ v.v... th́ có bốn loại tư dành cho chánh ngữ. Ba loại tư nơi chánh nghiệp và bảy loại tư nơi chánh mạng; như vậy làm sao bạn có thể thoát khỏi được những loại tư đa dạng đến như vậy? Chính v́ thế mà thánh đạo siêu thế chỉ có năm chi mà thôi.

1570. Chúng ta sẽ có thể thoát khỏi các tư đa dạng như vậy; và chúng ta có thể nói rằng thánh đạo siêu thế gồm có tám mà thôi. Ta có thể đặt câu hỏi: “Phải chăng ngài là một Pháp sư của bài Kinh Mahācattāḷīsaka (M. iii 73) hay không? Nếu ngài nói rằng: Ta không thuộc nhóm đó th́ ngài có thể nói cho vị đó rằng: Ta không hay biết ǵ, v́ ta đâu có thuyết pháp điều đó đâu nào. Nếu người đó bảo: Vâng ta diễn giải điều đó. Ngài có thể đáp lại: hăy trích dẫn đoạn kinh đó xem sao. Nếu người đó trích dẫn được đoạn Kinh đó th́ mọi sự đều ổn cả.

1571. Nếu người đó không trích dẫn nổi, chính chúng ta nên trích dẫn từ đoạn năm mươi cuối cùng [trong Trung Bộ Kinh mà rằng:] Hỡi chư vị Tỳ khưu, chánh ngữ là ǵ vậy? Ta cho chư vị biết, chánh ngữ có hai loại. Có một loại chánh ngữ bị lệ thuộc vào các lậu hoặc, đem lại công đức và kết quả phàm tục. Cũng có một loại chánh ngữ thánh đức, thoát khỏi mọi lậu hoặc siêu thế và là một chi đạo. Và hỡi Tỳ khưu, chánh ngữ nào lại lệ thuộc vào các lậu hoặc[321], đem lại công đức và kết quả phàm tục vậy? Tránh xa nói dối, tránh xa nói lời đâm thọc, tránh xa nói ác khẩu, tránh xa nói nhảm nhí. Hỡi chư vị Tỳ khưu, đó chính là chánh ngữ lệ thuộc các lậu hoặc, đem lại công đức và kết quả phàm tục vậy.

1572. Hỡi Tỳ khưu, và đâu là chánh ngữ ta coi như là thánh đức, thoát khỏi mọi lậu hoặc mang đặc tính siêu thế và c̣n chi đạo nữa vậy? Bất luận hành vi chừa bỏ, kiềm chế, kiêng cữ, xa tránh khỏi bốn loại khẩu ác hạnh nơi người nào có thánh tâm, có tâm thoát khỏi mọi lậu hoặc, được phú cho thánh đạo, lại tu luyện thánh đạo. Hỡi chư vị Tỳ khưu, ta gọi những ǵ vừa nêu trên là chánh ngữ thánh đức, thoát mọi lậu hoặc, siêu thế và cũng là chi đạo nữa.

1573. Hỡi chư vị Tỳ khưu, và chánh nghiệp là ǵ vậy? Chánh nghiệp cũng gồm hai loại. Ta nói... và cũng đem lại kết quả phàm tục. Và hỡi chư vị Tỳ khưu, chánh nghiệp nào lại mang đặc tính thánh đức, thoát khỏi lậu hoặc, siêu thế và cũng là chi đạo?... Và hỡi chư vị Tỳ khưu, chánh mạng là ǵ vậy? Ta nói cho các vị hay, chánh mạng cũng có hai loại.. . .và cũng đem lại kết quả phàm tục nữa.

1574. Và hỡi chư vị Tỳ khưu, chánh mạng nào mang đặc tính thánh đức, thoát khỏi mọi lậu hoặc, siêu thế và c̣n là chi đạo vậy? Bất kỳ hành vi chừa bỏ, kiềm chế, kiêng cữ, xa tránh khỏi tà mạng nơi người nào có thánh tâm, có tâm thoát khỏi lậu hoặc, và được phú bẩm cho thánh đạo. Hỡi chư vị Tỳ khưu, đó chính là chánh mạng thánh đức, thoát khỏi mọi lậu hoặc, là chánh mạng siêu thế và là chi đạo nữa. (M. iii. 74tt.)

1575. Chính v́ thế ở đây chỉ đơn giản việc kiềm chế không phạm phải bốn loại khẩu ác hạnh, thoát khỏi ba loại thân ác hạnh và thoát khỏi tà mạng đều được gọi là thánh đức, thoát khỏi mọi lậu hoặc, siêu thế và là một chi đạo. V́ thế do đâu xuất hiện loại tư đa dạng với năm chi đạo ở đây? Chính Kinh Phật này sẽ vạch ra cho các ngươi thấy. Kẻ nào không muốn chấp nhận, th́ thánh đạo siêu thế vẫn gồm “tám” [chi]. Nếu người đó đồng ư chấp nhận, đó là điều tốt.

1576. Nếu như người đó không đồng ư, ta phải chỉ cho người đó nhận ra bằng cách trích dẫn nhiều lư do khác. Về vấn đề này Đức Phật nói như sau: “Hỡi Subhadda, nếu như Bát Thánh Đạo không được t́m thấy nơi pháp và luật nào, th́ ta cũng không t́m được đệ nhất sa môn tại nơi đó... Hỡi Subhadda, trong pháp và luật này có Bát Thánh Đạo, th́ hỡi Subhadda,cũng chính nơi đây ta t́m thấy được đệ nhất sa môn... .nơi các giáo pháp khác ta chẳng t́m đâu ra các sa môn đâu (D. ii 151) Và nơi hàng trăm Kinh Phật khác th́ chánh đạo cũng được truyền lại cho ta dưới dạng bát chi đạo.

1577. Cũng có lời trong Thuyết Sự Luận (Katthavathu) như sau:

Trong các đạo: có Bát Chánh Đạo tuyệt hảo
Bốn đoạn nói về Tứ Diệu Đế là cao siêu nhất
Ly tham là pháp cao thượng nhất.
Cao thượng nhất đối với loài hai chân là bậc kiến giả”
(Dh. 273)

[322] Phải chăng điều đó khẳng định rơ có Kinh Phật loại đó chăng?’ ‘Đúng vậy. Chính v́ thế chánh đạo gồm tám chi như đă kể đến ở trên.’” (Kvu XX 5)

1578. Tuy nhiên, nếu người đó vẫn không chấp nhận khái niệm đó[42] cho dù đă trưng ra nhiều lư lẽ đến như vậy, ta nên thải hồi người đó th́ hơn. [nói rằng:] Hăy đi, gia nhập thiền viện và ăn cháo hoa th́ hơn! vả lại chẳng c̣n ai có thể đưa ra cho hắn bất kỳ lư do nào khác hơn được nữa.

1579. Điều c̣n lại th́ ư nghĩa thật đă rất hiển nhiên.

1580. Nhưng ở đây ta phải tính đến các phương pháp. Do có liên quan đến Bát Chánh Đạo, sau khi đă cùng nhau t́m hiểu về [bát chi] <236.35>. Trong câu trả lời [gộp chung lại] thành bốn ngàn phương pháp, được phân tích liên quan đến [bốn đạo]. C̣n liên quan đến ngũ chi đạo, sau khi đă cùng nhau t́m hiểu về [ngũ chi] <238.1>, gộp chung lại trong câu trả lời cũng có tới bốn ngàn phương pháp; và sau khi đă t́m hiểu nghiên cứu từng chánh đạo riêng rẽ <238.32>, trong câu trả lời riêng rẽ cho từng chánh đạo, con số phương pháp cũng lên tới bốn ngàn; như vậy liên quan đến ngũ chi đạo có hai mươi ngàn phương pháp. Như vậy với tám ngàn phương pháp đầu tiên và cộng với hai mươi ngàn phương pháp này, toàn bộ con số phương pháp sẽ lên tới hai mươi tám ngàn như đă được phân tích trong phần phân tích về đạo, và các phương pháp này đều thuộc loại có thể tận dụng được và chỉ mang đặc tính siêu thế mà thôi.

1581. Nhưng liên quan đến loại pháp quả, th́ phương pháp phải tính đến lại tăng lên gấp ba lần như trong trường hợp các pháp thiện.

Đến đây kết thúc chương phân tích theo Vi Diệu Pháp.

C. PHẦN VẤN ĐÁP.

1582. Liên quan đến phần vấn đáp, ta nên hiểu các chi đạo có thể là pháp thiện.v.v.. theo đúng như đă được truyền lại trong Kinh Phật Pāli.

1583. Nhưng liên quan đến các tam đề cảnh, toàn bộ các pháp này chỉ có một cảnh vô lượng duy nhất mà thôi, không phải có đạo thành cảnh, v́ việc xuất hiện [các pháp này] chỉ liên quan đến Níp-bàn vô lượng mà thôi. V́ chẳng phải thánh đạo cũng chẳng phải đối tượng thánh quả được coi là đối tượng đâu. Nhưng ở đây, do câu sanh nhân, thế nên pháp thiện lại lấy thánh đạo làm nhân. Bằng cách biến tinh tấn hay thẩm dẫn đầu vào sát na phát triển thánh đạo, cả hai lại có đạo thành trưởng làm tột đỉnh. Trong trường hợp tu tập thánh đạo mà lại lấy dục hay tâm dẫn đầu th́ ta không thể cho rằng chúng có đạo thành trưởng. Ta cũng không thể nói như vậy được trong trường hợp thánh quả.

1584. Liên quan đến quá khứ v.v... ta cũng không đề cập đến như vậy được, do pháp chỉ có một đối tượng duy nhất mà thôi. Nhưng v́ Níp bàn lại là cảnh pháp ngoại phần, thế nên cũng chỉ có một cảnh ngoại phần mà thôi; như vậy trong phần vấn đáp này cũng vậy, các chi đạo được giải thích hoàn toàn chỉ thuộc chi đạo siêu thế mà thôi. V́ phân tích theo Kinh Tạng Đức Phật chỉ giải thích các chi đạo mang đặc tính pha trộn giữa đặc tính hiệp thế và siêu thế. Nhưng trong chương phân tích theo Vi Diệu Pháp và trong phần vấn đáp chúng chỉ mang đặc tính siêu thế mà thôi. Như vậy phần phân tích về đạo này cũng được giải thích bằng cách làm rơ thông qua ba chu kỳ này vậy.

Đến đây kết thúc phần phân tích về đạo.

 

-ooOoo-

[40] cách giải thích satthusāsanena như trong Ce (LSC)

[41] h́nh như dịch giả theo một cách giải thích đă được đưa ra trong phần chú thích Ee : Sammāvācā pi na sayaṃ virativasena pūrati. Nhưng Ee, Ce và Be lại giải thích là Sammāvācā pana sayaṃ... h́nh như đă được trích dịch như sau đây: “Nhưng Chánh ngữ tự hoàn hảo được nhờ kiêng cữ”. Hai câu có ư nghĩa song hành cũng được áp dụng cách giải thích như vậy. trong đoạn sau đây (Ny). Tuy nhiên, mṭ lại ghi : na kārāpakabhāvena kattubhāvena cā ti attho. (xin đọc Anut) đă hỗ trợ cho cách giải thích này với na (LSC).

[42] Ce giải thích saññattiṃ na gacchati (‘không được thuyết phục cho lắm”) [LSC]