|
CHÚ GIẢI BỘ PHÂN TÍCH
Nguyên
Tác Pāli: Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG CHÍN
PHÂN TÍCH THẦN
TÚC
A . CHƯƠNG KINH TẠNG 1473. [303] Giờ đây trong phần phân tích thần túc tiếp theo sau đó, cattāra <216.1> ( “bốn”) là cách phân loại số học. Idhipādā ( “thần túc”): ở đây là “thành công” (ijjhati) chính là “thần hay như ư”(iddhi): là “thành công toàn diện, hoàn thành công việc là ư nghĩa ở đây. Hay nói cách khác. “các sanh đạt được thành công do các phương tiện có được, thực hiện được mức độ thành công, tăng trưởng và trở nên tuyệt vời.” Đó chính là “thần hay như ư”; theo ư nghĩa thứ nhất chính thành công là nền tảng gọi là thần túc, đó là một phần của thành công cũng là ư nghĩa muốn đề cập đến ở đây. Theo nghĩa thứ hai, nền tảng đem lại thành công chính là thần túc. “túc, cơ sở.” [Như vậy] (pādā) ở đây chính là nền tảng ; “phương tiện để đạt đến” [thành công] là ư nghĩa ở đây. V́ bằng cách đó họ đạt đến, tiến tới thành công ta gọi là cách phân biệt tiện tiến cao hơn. Chính v́ thế ta gọi là “túc”. Như vậy đầu tiên ta nên hiểu ư nghĩa ở đây là tứ thần túc hay bốn cơ sở [nền tảng] dẫn đến thành công. 1474. Giờ đây để có thể chứng minh [bốn thần túc] này bằng cách phân tích, ta bắt đầu với đoạn được bắt đầu với các từ idha bhikkhu ( ở đây có một Tỳ khưu). Về điểm này idha bhikkhu ( ở đây có một Tỳ khưu). [có nghĩa là] có một vị Tỳ khưu trong giáo pháp này. Chandasamādhi-padhānasaṅkhāra-samannāgataṃ (“thành tựu dục định câu hành”).[20] Ở đây Chandasamādhi (“thiền định nhờ vào dục”) tức là thiền định lấy dục làm nguyên nhân hoặc lấy dục làm trưởng. Đây là một từ ám chỉ thiền định có được bằng cách coi dục như là ước muốn hành động. (kattukamyatā-chanda) làm trưởng. Padhāna-saṅkhāra <216.2> (cần hành) [có nghĩa là] những hành đă trở thành chánh cần. Đây là một từ ám chỉ năng lực chánh cần đă hoàn tất được bốn nhiệm vụ. Samannāgataṃ (“đắc thủ được”): được phú bẩm với thiền định thông qua dục và với các hành lại chính là chánh cần. 1475. Iddhipādaṃ (“thần túc”): hoặc là hiểu theo nghĩa thành công (ijjhanaṭṭhena) theo cách thức tác tạo nên. (nibbattipariyāyena): ư nghĩa ở đây là “các chúng sanh thành công (ijjhanti) bằng những phương tiện đó, là thành công, tăng thêm, hoặc được khen ngợi”; hoặc giả là điều đă trở thành túc (pāda) hiểu theo nghĩa việc hướng dẫn (adhiṭṭhānaṭṭhena) những hành cố ư được coi là chánh cần và thiền định thông qua dục và điều đó liên quan đến tâm thiện thuộc cận hành định, thiền Jhana, v.v... và ta gọi là “thần” (“iddhi”) theo phương cách này; ư nghĩa ở đây là “toàn bộ tâm và những sở hữu tâm.” v́ dưới đây chúng ta gọi là “thọ uẩn... thức uẩn như thể là một”, “thần túc” thích hợp với ư nghĩa này. 1476. Liên quan đến điều c̣n lại, ta nên hiểu ư nghĩa theo cách thức này, v́ giống như Chandasamādhi <216.1> (“dục định”) chính là thiền định đắc thủ được bằng cách khiến cho dục trở nên trưởng. [304] Chính v́ thế viriyasamādhi <216.3> (“tinh tấn định”Cittasamādhi <216.4> (“tâm định”)... ..vīmaṃsāsamādhi <216.5> (“thẩm sát định”) là thiền định đắc thủ được thông qua cái gọi là thẩm trưởng. 1477. Đến đây đoạn văn bắt đầu với Kathañ ca bhikkhu <216.7> (“và làm thế nào một vị Tỳ khưu”) được bắt đầu để có thể chứng tỏ những cách diễn đạt thiền định thông qua dục, v.v... bằng cách phân tích chúng. Về điểm này, liên quan đến chandañ ce bhikkhu adhipatiṃ karitvā <216.9> (“nếu một vị Tỳ khưu khiến cho dục trở nên trưởng.”) ư nghĩa ở đây là: nếu một vị Tỳ khưu, do biến dục trở nên trưởng, dục cao nhất. Dục làm trách nhiệm. Dục làm người tiên phong, lại đắc thủ được, tạo ra được thiền định, th́ thiền định này tạo ra được là nhân danh gọi là “dục định”. Liên quan đến Viriyañ ce <217. 24> (“nếu một vị tỳ khưu do thực hiện chánh cần”) v.v... th́ phương pháp cũng giống như trên. 1478. Ime vuccanti padhānasaṅkhāra <216.21> (“ta gọi những điều này là cách cần hành.”) : đến điểm này những ǵ ta đă chú giải chính là chánh tinh tấn đă hoàn tất được bốn nhiệm vụ và được gọi là các h́nh thành có ư thức tức là chánh cần.”) nơi vị Tỳ khưu đă tu luyện được thần túc bao gồm ở dục. 1479. Tad ekajjhaṃ abhisaṃyūhitvā <216.24> (“bằng cách tóm lược tất cả chung lại với nhau.”: bằng biến toàn bộ điều đó chung lại thành một tổng số cuối cùng, là ư nghĩa. Saṅkhyaṃ gacchati <216.24> (“được biết đến dưới dạng”) : ta nên hiểu như sau đây là một danh hiệu riêng lẻ mà thôi; đó là ư nghĩa ở đây. 1480. Giờ đây, bằng cách phân tích nhằm cho thấy các pháp bắt đầu với dục nơi nhóm các cách diễn tả, cụ thể là “dục định và cần hành.” Đoạn văn được bắt đầu với Tattha katamo chando? <216.25> (“về điểm này, dục là ǵ vậy?”) được bắt đầu như sau, đó là điều với ư nghĩa đă quá rơ ràng. 1481. Upeto hoti <217.12> (“là được phú bẩm cho”): chính là được phú bẩm cho với toàn bộ những pháp được gọi là “thần túc”. Tesaṃ dhammānaṃ <217.15> (“thuộc những pháp đó”>: thuộc những pháp tương ưng đó bắt đầu với dục. 1482. Iddhi samiddhi (“thành công, hoàn thành”) v.v... cả hai từ chỉ là từ đồng nghĩa với việc chế tạo. Điều này chỉ là như vậy, iddhi (“thành công”) được hiểu theo nghĩa là tạo ra thành công. (ijjhanakaṭṭhena); samiddhi (“hoàn thành”) có nghĩa là thành công đă được hoàn tất.; hay từ được tăng thêm bằng một tiếp đầu ngữ. Một cách thành công chính là ijjhanā (“đắc thành”). Samijjhanā <217.16> (“thành măn”) được tăng thêm bằng một tiếp đầu ngữ có được nhờ vào sự thể hiện nơi chính đặc tính tương tục tính của chúng ta lại là lābho (“đạt được”). Có được nữa bằng đặc tính rất hăng hái cố gắng chiếm lại những ǵ đă mất lại là paṭilābho (“đắc được”): hay từ đó được gia tăng thêm bằng một tiếp đầu ngữ. Patti (“đạt đến”) chính là tới nơi, đạt được ngay tức khắc bằng cách không để mất đi lại là sampatti (“thành đạt”). Phusanā <217.17> (“chứng đắc”) chính là đụng tới được bằng cách lấy lại được. [305] Sacchikiriyā (“tác chứng”) chính là nhận thức rơ bằng cách lấy lại được. Upasampadā (“thành tựu”) chính là dành lại được bằng cách chiếm lấy lại, là cách chúng ta nên hiểu như vậy. 1483. Tathābhūtassa <217.18> (“thuộc một trong số những thứ đă trở thành”) : thuộc một trong những pháp đă trở nên theo cách đó; ư nghĩa là “điều ǵ c̣n lại sau khi đă đạt được những pháp bắt đầu với dục.” Sau khi đă kết thúc dục, v.v... bằng cách có được vedanākkhandho (“thọ uẩn”) v.v... như vậy th́ tứ uẩn đă được giải thích rơ ràng. 1484. Te dhamme <217.20> (“những pháp đó”) : bốn uẩn vô sắc đó: th́ các pháp bắt đầu với dục cũng được đề cập đến āsevati (“tu luyện, vun sới”): có ư nghĩa như đă nói đến ở trên. Và trong trường hợp những ǵ được mô tả c̣n lại (niddesa) về những thần túc, chúng ta nên hiểu ư nghĩa theo cùng một cách như trong trường hợp này. 1485. Chúng ta đă chú giải được điều ǵ cho quan điểm này? Đề mục thiền đă đem đến kết luận về bốn loại Tỳ khưu như chúng ta đă giải thích. Một loại Tỳ khưu dựa trên dục; [Tỳ khưu này] suy nghĩ: “V́ chúng ta có thể đạt đến mục tiêu thông qua dục thiện đối với Giới Pháp. Đó là ước muốn hành động, tôi sẽ tạo ra được pháp siêu thế; tạo ra được pháp này không có ǵ rắc rối đối với tôi cả, và biến dục thành cao nhất, thành trách nhiệm, thành người tiên phong. Tỳ khưu đó tạo ra được các pháp siêu thế. Một vị khác lại dựa trên chánh cần, một vị khác lại dựa trên tâm (citta) vị khác lại dựa trên tuệ (pañña). [Tỳ khưu này lại nghĩ:] V́ mục tiêu có thể được tạo ra nhờ tuệ, tôi sẽ tạo ra một pháp siêu thế; chẳng có ǵ rắc rối để tạo ra điều đó đối với tôi, và biến tuệ trở nên cao nhất, tuệ là trách nhiệm, tuệ thành người tiên phong. Ngài đă tạo ra các pháp siêu thế. 1486. Bằng cách nào vậy? Giống như bốn người con trai của các vị cố vấn hoàng gia đang ước ao được nâng lên địa vị trọng vọng hơn và trong số bốn người này có người lại dựa[21] vào những dịch vụ người đó thực hiện, người khác lại dựa trên ḷng dũng cảm. Người khác dựa trên những lời tư vấn, người khác lại dựa trên nguồn gốc gia đ́nh. Bằng cách nào vậy? Trong số này, người đầu tiên nghĩ rằng: v́ mục tiêu có thể đạt đến được nhờ vào việc tu luyện không dễ duôi trong việc phục vụ. Tôi sẽ đạt đến chức vụ đó. Người đó dựa trên2 cách phục vụ của ḿnh. Người thứ hai, [lại nghĩ]: ngay cả có người nào đó không dễ duôi trong việc phục vụ vẫn không thể dàn xếp được những trận căi vả xảy ra, nhưng chắc chắn sẽ xảy ra những trận đánh nhau bên biên giới vương quốc. Khi có giao tranh xảy ra, bằng cách nhập ngũ làm người điều khiển chiến xa cách sẽ làm hài ḷng nhà vua. Tôi chắc sẽ bảo đảm được vị trí đó, bằng cách dựa trên ḷng dũng cảm. Người thứ ba [nghĩ rằng]:một số người kiên cường có lẽ thuộc giới hạ lưu; [nhưng khi] vị trí đó được ban ra sau khi đă cứu xét đến nguồn gốc gia đ́nh. Th́ chắc vị trí đó sẽ được dành cho tôi, dựa trên nguồn gốc gia đ́nh khá giả của tôi. Người thú tư [nghĩ rằng]: có người có thể sanh ra trong gia đ́nh vị vọng nhưng chưa chắc đă có thể cố vấn được. Khi xảy ra một hoàn cảnh cần đến những lời cố vấn để có thể đối phó hữu hiệu bằng lời khuyên. Tôi sẽ bảo đảm một chức vụ[306] dựa trên2 lời cố vấn mỗi vị trong số họ. Nhờ vào sức mạnh họ dựa vào, đă dành được một chức vụ nhà vua giao. 1487. Về điểm này, người nào tạo ra được pháp siêu thế bằng cách dựa vào dục [nghĩ rằng]: V́ phúc lợi có thể được tạo ra nhờ vào dục tốt (thiện) đối với Giáo Pháp đó là ước muốn hành động. Ta sẽ tạo ra được pháp siêu thế đó; chẳng có ǵ rắc rối xảy ra với tôi trong việc tạo ra pháp đó cả. Và người đó biến dục thành tối thượng, làm chủ và thành người tiên phong. Người đó tạo ra được các pháp siêu thế, giống như trưởng lăo Raṭṭhapāla, ta nên coi ngài như là người chiếm được một vị trí (chức vụ) bằng cách chuyên cần phục vụ v́ vị Trưởng Lăo đó tạo ra. 1488. Người nào tạo ra được pháp siêu thế bằng cách dựa vào cách tinh tấn cao nhất, làm chủ và là người tiên phong. Giống như trưởng lăo Sona, ta nên coi giống như một người chiếm được chức vụ thông qua đặc tính hoan hỷ đức vua bằng sự dũng cảm. V́ vị trưởng này tạo ra được pháp siêu thế bằng năng lực tinh tấn. 1489. Người nào tạo ra được pháp siêu thế bằng cách tâm được tột đỉnh, tâm làm chủ, tâm được người tiên phong. Giống như Trưởng Lăo Sambhūta, ta nên coi giống như một người chiếm được chức vụ thông qua đặc tính tuyệt vời của ḍng họ ḿnh, v́ vị Trưởng lăo đó tạo ra pháp siêu thế đó bằng cách tâm làm chủ. 1490. Người nào tạo ra được pháp siêu thế bằng cách thẩm điều tột đỉnh, thẩm làm chủ, thẩm người tiên phong, giống như Trưởng lăo Mogharāja, nên được coi như người chiếm được chức vụ của ḿnh nhờ dựa trên lời cố vấn. V́ vị trưởng lăo tạo ra được pháp siêu thế đó bằng cách thẩm làm chủ[22] của ḿnh 1491. Và ở đây ba pháp ta gọi là “cần hành và dục định” cả ba đều là thần (iddhi) và là thần túc (iddhipāda); nhưng các uẩn tương ưng c̣n lại cũng chỉ là thần túc vậy; và ba pháp ta gọi là “cần hành và tinh tấn định... tâm ... thẩm cả ba đều là thần và thần túc. Nhưng bốn uẩn tương ưng lại chỉ là thần túc mà thôi; trước tiên điều này là chú giải không kèm theo chia đoạn nhỏ. 1492. Nhưng với đoạn nhỏ này ta cũng gọi dục là thành công: Tứ uẩn được tu tập với dục được coi là làm chủ ta gọi là dục thần túc mà có. Hai pháp, là cần hành và định, thông qua các hành uẩn mà thâm nhập được vào dục thần túc. Như vậy nếu ta cho rằng chúng dẫn đến túc th́ cũng là điều đúng đắn vậy. 1493. Ở đây cũng vậy, ta gọi định là thần; ta cũng gọi tứ uẩn được tu tập với định làm chủ làm thần túc thông qua định. [307] Hai pháp là dục và cần hành, thâm nhập được vào định thông qua các hành uẩn làm thần túc. Như vậy, nếu ta cho rằng chúng đă thâm nhập được vào túc âu cũng không sai. 1494. Ở đây cũng vậy, cần hành cũng được gọi là thần. Tứ uẩn được tu luyện với cần hành cũng được gọi là thần túc thông qua cái gọi là cần hành. Hai pháp, là dục và định, thông qua các hành uẩn thâm nhập được vào thần túc thông qua cần hành vậy. Như vậy, nếu ta cho rằng chúng đă thâm nhập được vào túc âu cũng không sai. 1495. Ở đây cũng vậy, ta gọi dục là thần... tâm cũng được gọi là thần... .thẩm cũng được gọi là thần... th́ cũng vậy nếu ta cho rằng chúng đă thâm nhập được vào túc âu cũng không sai. Ta gọi điều này là cách diễn giải với các phân đoạn (chương phụ). 1496. Nhưng chẳng có ǵ mới ở đây cả. Điều ta đă gộp lại chỉ đơn giản được làm rơ như là bản chất mà thôi. Bằng cách nào vậy? Ba pháp, dục, định và cần hành cả ba đều vừa là thần cũng như là thần túc mà thôi. Bốn uẩn tương ứng c̣n lại cũng chỉ là thần túc nữa. V́ khi ba pháp này thần chúng sẽ thực hiện như vậy cùng với tứ uẩn tương ứng c̣n lại, không thể thiếu chúng được. Nhưng tứ uẩn tương ưng cũng được gọi là “thần” hiểu theo nghĩa có thành công (ijjhanakaṭṭhena) và “túc” hiểu theo nghĩa nền tảng (patiṭṭhānaṭṭhena). “thần”, hay “thần túc” chẳng phải là một từ nào khác hơn mà chỉ là một từ ám chỉ tứ uẩn tương ưng mà thôi. 1497. Ba pháp tấn, v.v... tâm, v.v... thẩm, định và cần hành... chỉ là một từ ám chỉ tứ uẩn tương ưng [nơi từng trường hợp mà thôi]. 1498. Hơn thế nữa ta nên hiểu rằng giai đoạn trước đó cũng được gọi là thần túc. Và ta cũng gọi đạt được (paṭilābha) là thần. Ta nên minh họa ư nghĩa này bằng cận hành định và thiền quán. Công việc giai đoạn chuẩn bị nơi thiền thứ nhất cũng được gọi là thần túc và thiền thứ nhất gọi là thần. Và giai đoạn công việc chuẩn bị cho thiền Jhana thứ hai... thứ ba... thứ tư... cơi hư không vô biên xứ... cơi thức vô biên xứ... . Cơi vô sở hữu xứ... .cơi phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng được gọi là thần túc; cơi phi tưởng phi phi tưởng được gọi là thần vậy. 1499. Thiền quán dành cho thánh đạo Nhập Lưu được gọi là thần túc; thánh đạo Nhập Lưu cũng được gọi là thần. Thiền quán dành cho thánh đạo Nhất Lai... thánh đạo Bất Lai... thánh đạo A-la-hán được gọi là thần túc. Thánh đạo A-la-hán cũng chính là thần vậy. 1500. Điều này cũng cho phép ta minh họa bằng điều đă đạt được. V́ ta gọi thiền thứ nhất là thần túc; thiền thứ nh́ được gọi là thần túc. Thiền thứ ba được gọi là thần... ..thánh đạo Bất Lai được gọi là thần túc; cho nên thánh đạo A-la-hán cũng là thần vậy. 1501. [308] Ta nên hiểu thần và thần túc theo nghĩa nào đây? Thần chỉ được hiểu theo nghĩa đem lại thành công thịnh vượng; túc chỉ được hiểu là nền móng mà thôi. Như vậy ở đây “thần” hay “túc” chẳng phải là một từ ám chỉ điều ǵ khác hơn, mà chỉ là một từ ám chỉ tứ uẩn tương ưng mà thôi. 1502. Nhưng khi điều này được khẳng định như vậy th́ người ta lại cho rằng: Đây chỉ là một từ dành cho tứ uẩn tương ưng mà thôi. Nếu như Đức Thế Tôn không đem vào một chương nhỏ hơn tiếp đó (Uttaracūḷabhājaniya). Nhưng trong phân đoạn nhỏ hơn này th́ dục được giải thích như là “dục thần túc” <223. 26> chính dục... chính tâm ... . chính thẩm đă được giải thích như là “thẩm thần túc” <224.15> Nhưng có một số người[23] rằng: “thần th́ chưa hoàn tất (anipphanna); thần túc mới được hoàn tất”. Sau khi đă khước từ lời khẳng định của họ, việc giàn xếp được diễn giải lại chính là thần đó và thần túc cũng đă được hoàn tất. Và chịu ảnh hưởng của ba đặc điểm đó vậy. 1503. Như vậy trong chương phân tích theo Kinh Tạng này những thần túc đă được diễn giải có đặc tính pha trộn giữa đặc tính hiệp thế và đặc tính siêu thế. Kết thúc phần phân tích theo Kinh Tạng. B. CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO VI DIỆU PHÁP. 1504. Chương phân tích theo Vi Diệu Pháp đă rơ ràng. Nhưng ta phải tính đến những phương pháp ở đây. V́ nơi vị trí Chanda-samādhi-padhānasaṅkhāra-samannāgataṃ iddhipādaṃ <220.12> (“thần túc lại bao gồm dục, định và cần hành.”) được cho là có đến bốn ngàn phương pháp siêu thế được đưa ra chi tiết.[24] Cũng như vậy trong trường hợp tinh tấn định thông qua tấn v.v... 1505. Cũng giống vậy trong chương chia nhỏ tiếp theo sau đó có tới bốn ngàn phương pháp được tŕnh bày chi tiết liên quan đến dục thần túc, và liên quan đến dục, tâm và thẩm thần túc, cả bốn phương pháp đều như vậy cả. Như vậy ta có tổng số lên tới ba mươi hai ngàn phương pháp được chi tiết hóa bằng tám tứ đề. 1506. Như vậy ta nên hiểu chương phân tích theo Vi Diệu Pháp này được diễn giải nhằm trang điểm với ba mươi hai ngàn phương pháp thông qua cách thức đó, các thần túc thuộc về đặc tính siêu thế mới được chú giải mà thôi. Kết thúc chương phân tích theo Vi Diệu Pháp. C. PHẦN VẤN ĐÁP 1507. Trong phần vấn đáp pháp thiện, v.v... nơi các thần túc chúng ta nên hiểu theo chính Kinh Phật Pāli. Nhưng liên quan đến các tam đề cảnh, th́ toàn bộ những thần túc này do chúng diễn ra đều có liên quan đến Níp Bàn vô lượng, nên chỉ có cảnh vô lượng mà thôi, không có đạo thành cảnh. Nhưng do câu sanh nhân chúng cũng có được đạo thành nhân, chứ không có đạo thành trưởng. V́ bốn trưởng chẳng đem lại quyền ưu tiên lẫn cho nhau. Tại sao vậy? V́ mỗi pháp riêng đều ở mức độ tối thượng. Chính v́ giống như bốn vị hoàng tử có nguồn gốc gia đ́nh như nhau, tuổi tác bằng nhau, khả năng chịu đựng ngang nhau và tài khéo cũng ngang nhau, do đặc tính tột đỉnh từng vị có khác nhau nên họ không kính trọng lẫn nhau. [309] Cũng như vậy bốn trưởng này, do có đặc tính tột đỉnh đặc biệt tùy thuộc vào bản chất riêng của từng pháp một, đều không đem lại ưu tiên lẫn cho nhau. Như vậy không bao giờ có đạo thành trưởng. Chúng ta cũng không bao giờ được coi như là quá khứ v.v... v́ chỉ có một đối tượng duy nhất. Nhưng v́ níp bàn là một pháp ngoại phần; thế nên cả bốn đều có một cảnh ngoại phần là v́ vậy. 1508. Chính v́ vậy trong phần vấn đáp này chỉ có những thần túc có đặc tính siêu thế là được giải thích. V́ chỉ có trong chương phân tích theo Kinh Tạng các thần túc mới được chính Đức Phật diễn giải như là điều pha trộn giữa đặc tính hiệp thế và siêu thế. Nhưng trong chương phân tích theo Vi Diệu Pháp và trong phần vấn đáp, chúng chỉ mang đặc tính siêu thế mà thôi; chính v́ vậy phần phân tích thần túc này cũng được diễn giải bằng cách phân tích[25] theo ba chu kỳ kể trên. Kết thúc phần chú giải chương phân tích thần túc.
-ooOoo- [20] hay tự do hơn,”nhấn mạnh cương quyết về dục định. [21] Ce luôn ghi là avassay xuyên suốt [LSC] [22] theo mt th́ dục được so sánh với không dễ duôi trong việc phục vụ v́ dục nổi lên và lại luôn luôn muốn làm hài ḷng; tấn lại giống như dũng cảm do đặc tính cương quyết (thāma-bhāva) có được; tâm giống như điều tuyệt hảo thuộc nguồn gốc gia đ́nh v́ nó hành sử như người tiên phong như có lời nói rằng “vua chúa và quan lại có đến sáu môn” (xin đọc S. iv. 194-5) [LSC] [23] Theo Mṭ. một số có nghĩa là các Trưởng Lăo cư ngụ tại Uttaravihāra.[LSC] [24] xin đọc §§ 574 và 1469 ở trên về toán học. Mt chỉ ra cho thấy cách liệt kê đem lại cho các đoạn với toàn bộ adhipatis trưởng; tuy nhiên v́ thiếu adhipatis nơi adhipatis. cách liệt kê chính xác là một ngàn sáu trăm phương pháp theo mỗi thần túc[LSC] [25] giải thích là bhājetvā không thấy có trong Ee [LSC] |
|