|
CHÚ GIẢI BỘ PHÂN TÍCH
Nguyên
Tác Pāli: Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG BỐN
PHÂN TÍCH THÁNH
ĐẾ A . CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO KINH TẠNG (a) Định nghĩa 418. Đến đây trong phần phân tích thánh đế tiếp theo ngay sau đây, cattāri <99.1> (“bốn”) là cách phân đoạn theo số. Ariyasaccāni là cách mô tả các pháp được phân chia thành như vậy. Nhưng liên quan đến dukkhaṃ ariyasaccaṃ (“khổ thánh đế”) v.v... trong phân đoạn diễn giải. (1) C̣n về phân loại, và (2) nguồn gốc xuất xứ,[137] (3) rồi phân chia theo kiểu dáng đặc trưng v.v... (4) đến ư nghĩa, (5) và xác định ư nghĩa. Lại giống vậy, (6) không hơn không kém (7) Về tŕnh tự, (8) rồi nhiệm vụ kiến thức để hiểu rơ bốn Chân Lư.[138] cao siêu. (9) Đến phân loại nội dung cần so sánh, (10) Với ẩn dụ, (11) với bộ tam suy luận. (12) So sánh với hư không, và (13) độc nhất vô nhị, (14) điểm tương đồng cùng với cả khác biệt Vậy những ǵ Tôn Giả cần hiểu rơ về định nghĩa theo tŕnh tự thuyết minh. 419. Về điểm này, theo phân hạng, Ta thấy Tứ Diệu Đế có rất nhiều ư nghĩa, đầu tiên là Khổ đế được phân loại thành bốn hạng theo từng trường hợp được coi như là “có thật, không phải không thật, không thể khác được” (D iii 273) và chỉ có những người am tường về đau khổ mới hiểu được, v.v... theo như (Đức Phật) đă nói: Khổ đế mang ư nghĩa đè nén, mang ư nghĩa hữu vi rồi ư nghĩa thiêu đốt và biến đổi liên tục; bốn ư nghĩa của Khổ đế này là có thật, không phải không thật, không thể khác được... Lại c̣n tập đế có ư nghĩa về tích lũy, về nguồn phát sinh, cả về triền phược và về chướng ngại... . Diệt đế mang cả ư nghĩa giải thoát, rồi cả ư nghĩa hạnh viễn ly, ư nghĩa vô vi, và ư nghĩa bất tử... . Ư nghĩa làm Chánh đạo lại là dẫn xuất, là căn nhân duyên, là tri kiến và thành trưởng. Bốn ư nghĩa này của Chánh Đạo là có thật, không phải không thật và không thể khác được. (Ps. ii 104; xin đọc i. 19 v.v... ) cũng giống vậy [với đoạn bắt đầu như sau:] đau khổ mang ư nghĩa đè nén, mang ư nghĩa hữu vi, mang ư nghĩa thiêu đốt, mang ư nghĩa thay đổi, mang ư nghĩa lảnh hội.” v.v... (Ps. i. 118) v́ thế cho nên đau khổ v.v... nên được hiểu theo ư nghĩa đă được phân tích thành bốn loại tuỳ mỗi trường hợp. Vậy trước tiên ta cần hiểu rơ định nghĩa Khổ đế theo cách phân hạng vậy.” 420. [84] (2) xét nguồn gốc, và (3) phân loại theo đặc tính, v.v... tuy nhiên trước tiên xét theo góc độ (xuất xứ.) [từ dukkha = “đau đớn” hay “đau khổ”] ta bắt gặp từ du có nghĩa là cực kỳ ghê tởm, v́ ta gọi một đứa trẻ ghê tởm là dupputta. Tuy nhiên ta bắt gặp từ kha hiểu theo nghĩa là trống rỗng. V́ chúng ta gọi không gian trống rỗng là kha. Và chân đế đầu tiên này là xấu xa gớm ghiếc v́ trong đó thường xảy ra nhiều nguy hiểm, và cũng là nơi trống rỗng v́ không có yếu tố thường tịnh, lạc và bản ngă là những ǵ những người ngu đần thường hay tưởng tượng ra. Chính v́ thế ta gọi là đau khổ (dukkha) là do đặc tính xấu xa gớm ghiếc và trống rỗng. 421. [Samudaya = “tập khởi”] từ Sam có nghĩa là mối tương quan như ta thấy trong từ samāgamo (sự tụ tập, đến chung với nhau), v.v... Từ u có nghĩa là hiện khởi, như trong từ uppannaṃ (hiện khởi, nổi dậy), uditaṃ ( trèo lên, tiến lên), v.v... Từ ayo có nghĩa là lư do. Và chân đế thứ nh́ này là lư do khiến cho đau khổ hiện khởi, khi có được sự hội tụ các điều kiện c̣n lại. Chính v́ thế đây là điều ta gọi là “nguồn gốc đau khổ.” (dukkhasamudaya) v́ đây là lư do khiến cho đau khổ xuất hiện, khi hội tụ được cả nhiều điều kiện khác nữa. 422. [ Nirodha = “tịch diệt::] tuy nhiên v́ từ ni có nghĩa là vắng bóng, và từ rodha có nghĩa là nhà tù, [139]chính v́ thế chân đế thứ ba chính là sự vắng mặt. Về điểm này sự cưỡng bức (rodha) do đau khổ tạo ra, được ước lượng như thể là nhà tù nơi ṿng luân hồi hồi. V́ thiếu toàn bộ sanh thú tái sanh; hay là, khi tịch diệt đó đă được chứng đắc, th́ ta thấy mọi cưỡng ép của đau khổ đều không c̣n nữa. Được tưởng chừng như là thoát khỏi một nhà tù, chính là thoát khỏi ṿng luân hồi hồi tái sanh. Và v́ đặc tính trái ngược lại với điều đó (tức là nhà tù) được gọi là dukkhanirodha, hay được gọi là dukkhanirodha v́ đây là nguyên nhân khiến cho tịch diệt bao gồm bất khởi sanh. 423. [Dukkhanirodha - gāminī paṭipadā = cách thức dẫn đến diệt khổ] tuy nhiên, v́ cách dẫn đến diệt khổ lại bằng cách hướng tới diệt khổ làm đối tượng, và v́ đây là cách duy nhất ta có thể chứng đắc diệt khổ, chính v́ thế chân lư thứ tư này được gọi là dukkhanirodha-gāminī paṭipadā. 424. Nhưng các Bậc Thánh, Chư Phật v.v... đă thâm nhập được các chân đế này, chính v́ thế và ta gọi là các Thánh đế, theo như [Đức Phật] đă nói: “Hỡi Chư vị Tỳ Khưu, có bốn Thánh (Tứ Diệu Đế). Bốn Thánh đế này là ǵ vậy? Hỡi các vị tỳ khưu, đó chính là Tứ Thánh Đế (S. v. 433) các vị bậc thánh đă thâm nhập được, đó là lư do ta gọi là “Thánh Đế”.(S.v 425, v.v... ) Hơn thế nữa những Diệu Đế này c̣n là chân lư cho các vị thành nhân. Theo như [Đức Phật] nói rằng: “Hỡi các vị tỳ khưu, trên thế gian này đối với các Chư thiên, các Ma vương và các vị Phạm thiên, với thế hệ này có các vị Samôn và các vị Bàlamôn, với các hoàng tử và thần dân, các vị Như Lai là các bậc thánh nhân. Chính v́ thế ta gọi là “Thánh Đế,” (S. v. 435). Hay nói cách khác, ta gọi là Thánh Đế là do đặc tính thánh đức hàm chứa nơi việc khám phá ra những Thánh đế này. Các vị Như Lai được gọi là các bậc Alahán, các vị Toàn Giác và các vị thánh.[140] (S. v. 433) [85] Hơn thế nữa Tứ Thánh Đế là chân đế thánh; thánh có nghĩa là chân thực chứ không phải không thực. Không lừa dối, theo như lời [Đức Phật] đă nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, Tứ Thánh Đế này là chân thật, không phải không thực, không thể khác được, chính v́ thế ta gọi là Thánh Đế.’ (S.v. 435). Như vậy, ta nên hiểu định nghĩa về điểm này là “ nguồn gốc xuất xứ. 425. (3) Rồi liên quan đến phân loại theo trạng thái th́ sao v.v... ? Về điểm này Khổ đế có trạng thái là gây ra đau khổ; phận sự là thiêu đốt, thành tựu ở những việc xảy ra tập đế có trạng thái gây ra, phận sự chân đế này là ngăn cản sự gián đoạn. Thành tựu ở chỗ làm tắc nghẽn. Diệt đế có trạng thái là an tịnh (ḥa b́nh) phận sự của chân đế này tạo ra bất tử, thành tựu ở đặc tính vô tướng; đạo đế có trạng thái là dẫn xuất. Phận sự của nó là diệt trừ phiền năo, thành tựu như là xuất khởi. Hơn thế nữa chúng c̣n có đặc tính lần lượt theo thứ tự xuất hiện và tạo ra xuất khởi, vô xuất khởi và làm biến mất. Cũng giống vậy chúng c̣n có trạng thái hữu vi, ái dục, vô vi và tri kiến; như vậy ta nên hiểu định nghĩa về điểm này như là “có những trạng thái. v.v..” 426. (4) Liên quan đến ư nghĩa và xác định ư nghĩa. Tuy nhiên, về điểm này trước tiên liên quan đến ư nghĩa, chân đế mang ư nghĩa ǵ vậy? Đối với những ai đă khảo sát chân đế đó với con mắt hiểu biết, điều đó không phải là khả nghi giống như một ảo tưởng, không phải lừa dối giống như một ảo ảnh hay không thể khám phá ra, như bản ngă của nhiều người ngoại giáo.[141] Nhưng lại chính là một lănh vực thuộc thánh trí như là chân thật, rơ ràng và hiện trạng thực tế, c̣n có những khía cạnh đau đớn khổ sở tạo ra và an tịnh là dẫn xuất. Chính v́ hiện trạng chân thực, rỏ ràng, và thực tế này ta nên hiểu đó là ư nghĩa của chân đế. Giống như trạng thái của lửa, giống như bản chất của thế gian, theo như lời Đức Phật đă nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, đau khổ này là có thực, đau khổ không đối nghịch với sự thật, đau khổ không thể nào khác được.’ (S. v. 430), v.v... theo chi tiết. Hơn thế nữa. Chẳng có đau
đớn song chỉ là thống khổ [86] Như vậy ta nên hiểu định nghĩa có “liên quan nhiều đến ư nghĩa” vậy. 427. Làm sao «xác định được ư nghĩa đây? Về điểm này, từ Chân đế là (sacca) có nhiều ư nghĩa khác nhau, trong các đoạn kinh như sau: Mong rằng kẻ đó nói lời chân thật và không sân hận. (Dh. 224). Đây là chân đế bằng lời. Trong các đoạn như: Các vị ẩn sĩ và các vị Bàlamôn đều dựa vào chân đế. (J. v. 491) Đây chính là chân đế kiềm chế không nói vọng ngữ. Trong các đoạn như: tại sao họ lại công bố nhiều chân đế đến vậy?. Những người ăn nói khôn khéo lại chẳng nắm giữ ǵ cả? (Sn. 885), đây chính là chân đế được coi như là quan điểm; và trong các đoạn như: Chân đế chỉ là một, không có chân đế nào khác. (Sn. 884) Chân đế hiểu theo đệ nhất nghĩa đế, đó chính cả hai điều: Níp Bàn và Thánh đạo, như trong các đoạn: về Tứ thánh đế, có bao nhiêu pháp thiện đây?” (Vbh, 112) Đó chính là thánh đế. Và về điểm này cũng như vậy, đây là điều được áp dụng như làThánh đế. Như vậy định nghĩa nên được hiểu như là điều có thể xác định được ư nghĩa.” 428. (6) Như thể không hơn không kém. Nhưng tại sao chính xác chỉ có Tứ thánh đế mới được khẳng định là không hơn không kém? V́ chẳng c̣n chân đế nào khác hơn tồn tại cả và chẳng ai có thể loại bỏ được Tứ thánh đế này, chính v́ chẳng c̣n chân đế nào khác được thêm vào Tứ thánh đế này nữa. Cũng chẳng có bất kỳ chân lư nào được loại ra khỏi Tứ thánh đế kể trên. Như lời Đức Phật đă nói: về điểm này, hỡi các vị tỳ khưu, một vị Samôn hay một vị Bàlamôn nên đi đến và nói: đây không phải là khổ đế, khổ đế là một điều ǵ khác, ta sẽ bỏ sang một bên khổ đế và cho biết thêm một chân đế khác với khổ đế đây là điều không thể thực hiện được (Yam I 174. 177; Vin ii 284?) v.v... và theo như lời [Đức Phật] đă nói: Hỡi các vị tỳ khưu, liệu có bất kỳ Samôn và Bàlamôn nào có thể nói: không phải khổ Thánh đế là chân lư đầu tiên đă được Vị Samôn Cồ Đàm thuyết pháp; bác bỏ khổ Thánh đế đầu tiên này, ta sẽ cho các ngươi biết một Thánh đế khác – đó là điều không thể được (S.v. 428).v.v... Hơn thế nữa, khi công bố khổ đế xuất khởi, Đức Phật đă công bố chân đế đó với nguyên nhân gây ra, và công bố bất khởi xuất kèm theo. Như vậy, khởi xuất, bất khởi xuất và nguyên nhân mỗi chân đế, đều được khẳng định nhiều nhất là bốn. Cũng giống vậy các chân đế đó được khẳng định là bốn để được biến tri, để cần được đoạn trừ được thực chứng và tu tập, và với “căn ái dục”, ái dục, diệt ái dục và phương tiện diệt ái dục đó và với “ràng buộc, ta có cảm khoái trong ràng buộc, diệt ràng buộc và phương tiện để diệt ràng buộc đó.” Như vậy ta nên hiểu định nghĩa ở đây liên quan với [đặc điểm] “không hơn không kém.” 429. (7) “Liên quan đến tŕnh tự.” Đây cũng chỉ là tŕnh tự thuyết pháp. Và ở đây trước tiên Khổ đế được khẳng định là dễ dàng hiểu được do tính chất thô và đặc tính phổ thông đối với mọi bá tánh.[87] Tập đế được khẳng định tiếp theo sau đó nhằm mục đích làm rơ nguyên nhân Khổ đế diễn ra. Rồi đến Diệt đế được khẳng định nhằm mục đích làm rơ bằng cách nào diệt nguyên nhân lại diệt luôn cả nghiệp quả. Đạo đế xuất hiện cuối cùng nhằm cho thấy những phương tiện đạt đến tịch diệt đó. Hay nói cách khác, Ngài công bố khổ đế đầu tiên nhằm mục đích truyền cảm hứng về ư nghĩa khẩn trương cho chúng sanh đang bận hưởng thức khoái lạc hiện hữu; và tiếp đó là Tập đế nhằm mục đích làm rơ khổ đế không xuất hiện như là điều tự nhiên mà có, không phải do sự tác tạo do một vị tạo hóa nào,v.v... nhưng là do chính [nguyên nhân] này mà ra. Tiếp theo sau đó, diệt đế được tŕnh bày, nhằm mục đích truyền dẫn thoải mái bằng cách giải thoát cho những chúng sanh t́m kiếm phương cách thoát khổ và cho những tâm các chúng sanh đang phải kiệt sức v́ đau khổ với chính nguyên nhân đó; và cuối cùng là Thánh đạo dẫn đến diệt đế nhằm giúp chứng đắc tịch diệt. Như vậy ta nên hiểu định nghĩa “liên quan đến tŕnh tự” như trên. 430. (8) “Liên quan đến phận sự trí Thánh đế,” Có nghĩa là ta nên hiểu định nghĩa nhiệm vụ phải am tường chân đế. V́ trí Thánh đế có hai loại, cụ thể là: trí tuỳ giác, và trí thấu triệt chân đế đó. (xin đọc S. v. 431). Về điểm này trí tuỳ giác ra chân đế chỉ mang tính hiệp thế và khởi xuất liên quan diệt và đạo do nghe tin đồn, v.v... mà có, c̣n trí thấu triệt được chân đế lại mang tính siêu thế và trí này giúp thấu triệt được vào Tứ diệu đế có chức năng biến diệt trở thành đối tượng, lời Ngài [Đức Phật] đă nói: Hỡi các vị tỳ khưu, kẻ nào nhận ra Khổ đế th́ cũng nhận biết được nguồn gốc đau khổ, cũng thấy được diệt khổ ra sao và thấy được cách thức dẫn đến diệt khổ (S v 437) và đây cũng là điều ta nên đề cập liên quan đến tất cả Tứ Diệu Đế.[143] Nhưng khi trí này mang tính chất hiệp thế, chỉ xuất hiện như để thắng vượt mọi nỗi ám ảnh, trí khổ đế sẽ chấm dứt thân kiến đó; trí tập đế sẽ chấm dứt đoạn kiến; trí diệt đế sẽ chấm dứt thường kiến, và trí đạo đế sẽ chấm dứt vô hành kiến. Hay nói cách khác, trí khổ đế sẽ chấm dứt sai lầm về quan điểm học thuyết chánh quả.[144] được gọi là thường tịnh, lạc và ngă nơi ngũ uẩn chẳng có được đặc tính thường, tịnh, lạc và ngă đó; có trí Tập đế sẽ giúp chấm dứt khỏi sai lầm trong tư tưởng về học thuyết liên quan đến nguyên nhân diễn ra đang diễn ra trong việc t́m kiếm lư do ở nơi chẳng tồn tại bất kỳ lư do nào như là: trời đất xuất hiện v́ có vị tạo hóa, làm nguyên lư đầu tiên, kệi gian, bản chất cá nhân: v.v... [145] trí diệt đế đặt dấu chấm hết cho việc nhầm lẫn học thuyết tịch diệt cho là việc giải thoát chung cuộc diễn ra nơi vô sắc giới hay tại một thế giới tột đỉnh v.v... [146] c̣n đối với trí đạo [88] đế chấm dứt việc lầm lẫn học thuyết về các phương tiện diễn ra trong lúc ta đề cập đến các phương tiện thanh tịnh điều không phải là phương tiện thanh tịnh. Và bao gồm việc sùng bái đam mê dục lạc và tự khổ hạnh. Chính v́ thế người ta đề kệ như sau: “Và đang khi,
hiểu biết về thế giới hiệp thế, Như vậy ta nên hiểu định nghĩa ở đây “liên quan đến phận sự trí” là như vậy. 431. (9) C̣n cách phân loại theo nội dung. Ngoại trừ tham lam và các pháp vô lậu hoặc, toàn bộ các pháp khác đều gộp lại trong Khổ đế. Có tới 36 hành vi ái dục (Vbh 392, 396) được gộp trong Tập đế. Diệt đế là bất hoại, c̣n Đạo đế, bao gồm dưới tiêu đề Chánh Kiến lại có Tứ thần túc gồm: thẩm thần túc; tuệ quyền, tuệ lực và giác chi trạch pháp. Với từ Chánh tư duy lại bao gồm các loại tầm bắt đầu với tầm xuất ly. Với từ Chánh ngữ bao gồm bốn loại khẩu thiện hạnh. Với từ Chánh nghiệp gộp trong ba loại thân thiện hạnh. Với từ chánh mệnh gộp lại đặc tính tri túc và tri túc; hay do toàn bộ ba chánh đạo này [có nghĩa là, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng] làm thành giới được các vị tôn giả hàng yêu mến, và v́ chúng ta nên chấp nhận [ba chánh đạo này] bằng đức tin. Tín quyền, tín lực, và thần túc. Đầu tiên gồm dục thần túc chúng do có sự hiện hữu của ba nhân tố này. Với từ Chánh Tinh Tấn, được gồm trong bốn chánh tinh cần, cần quyền, cần lực, và giác chi tinh tấn. Với từ Chánh Niệm được gộp trong Tứ niệm xứ, niệm quyền, niệm lực và niệm giác chi. Với từ Chánh định lại bao gồm ba loại chánh định bắt đầu với định hữu tầm, hữu tứ, tâm định, định quyền, định lực và giác chi hỷ, an tịnh, định và xả. Như vậy ở đây ta nên hiểu định nghĩa theo “như cách phân loại theo nội dung” 432. (10) C̣n liên quan đến cách dùng ẩn dụ: Khổ đế nên được so sánh với một gánh nặng, tập đế chính là gánh lấy gánh nặng đó, diệt đế được coi như đặt gánh nặng xuống và đạo đế là những phương tiện ta dùng để loại bỏ gánh nặng đó. (xin đọc S iii 25) Khổ đế được ví như một bệnh tật, tập đế là nguyên nhân bệnh tật đó, diệt đế giống như chữa trị căn bệnh và đạo đế giống như dược liệu để trị bệnh. Hoặc giả khổ đế c̣n giống như một nạn đói, tập đế giống như hạn hán, diệt đế giống như kệi sung túc,[89] và đạo đế giống như cơn mưa đúng lúc. Hơn thế nữa các chân đế này nên được hiểu như là ẩn dụ bằng cách áp dụng những cách sau đây: Kẻ địch, nguyên nhân thù địch, loại bỏ thù địch và phương tiện để loại bỏ thù địch đó. Giống như cây độc dược, giống như rễ cây, cắt rễ cây, và phương tiện để cắt đứt rễ cây đó. Lại có thể ví các chân đế này với nỗi lo sợ, nguyên nhân lo sợ, giải thoát khỏi lo sợ, và phương tiện đạt đến sự giải thoát đó. Cũng có thể ví như bờ sông bên kia, cơn đại hồng thủy, bờ bên kia và cố gắng để đến được bờ bên đó. Như vậy đây là cách ta nên hiểu định nghĩa về điểm này như là cách dùng ẩn dụ vậy”. 433. (11). Bằng cách dùng tứ đế. Về điểm này (i) có đau khổ không phải là Thánh đế, (ii) có Thánh đế lại không phải là đau khổ. (iii) có trường hợp gồm cả hai yếu tố này. Đau khổ và Thánh đế. Và (iv) c̣n có trường hợp chẳng phải đau khổ cũng không phải Thánh đế. Cũng như vậy trong trường hợp tập đế v.v... 434. (1) Về điểm này các pháp tương ưng với thánh đạo và thánh quả ở bậc Samôn chính là những đau khổ, như thế đau khổ thuộc các hành, v́ có lời: “Những ǵ là vô thường đều gây ra đau khổ.” (S. ii 53, iii22) Nhưng đâu có phải là khổ đế, (ii) Tịch diệt chính là thánh đế nhưng không phải là đau khổ. (iii) Nhưng hai loại thánh đế c̣n lại rất có thể đau khổ là do đặc tính vô thường, nhưng không thể hiểu theo nghĩa thực sự của nó đối với biến tri cuộc sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Đức Phật. Nhưng dưới mọi khía cạnh lấy ngũ uẩn [làm đối tượng] chấp thủ, ngoại trừ tham lam, cả hai đều là đau khổ và thánh đế. (iv) Các pháp tương ưng với thánh đạo và thánh quả ở bậc samôn th́ chẳng phải là đau khổ hiểu theo nghĩa đích thực của những ǵ cần phải biến tri về đời sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Đức Phật, chúng cũng chẳng phải là thánh đế. Như vậy bằng cách áp dụng những điều này với những ǵ thích hợp liên quan đến tập đế, v.v... th́ định nghĩa về điểm này cũng nên được hiểu theo tứ đế là như vậy. 435. (12) Như hư không, và độc nhất vô nhị, v.v... trước tiên về điểm này “như là hư không” hiểu theo nghĩa tuyệt đối: toàn bộ thánh đế nên được hiểu như là “hư không, trống rỗng” nếu một khi thiếu bất kỳ ai cảm nghiệm không có người thực hiện, không có người dập tắc và không có người tiến hành. Chính v́ thế Ngài [Đức Phật] đă nói: “V́ đau khổ tồn
tại nhưng chẳng ai phải khổ cả. [90] Hoặc có ba thánh đế trống rỗng diệt tịch, và diệt tịch cũng trống rỗng nơi ba chân đế khác. Hay nguyên nhân ở đây do trống rỗng thánh quả v́ không có đau khổ nơi tập khởi và thiếu vắng tịch diệt nơi thánh đạo, và chẳng có thai nghén kết quả như Pakati (bản chất cơ bản) của những ai khẳng định được sự tồn tại của Pakati[147] (bản chất cơ bản) này; và kết quả lại thiếu vắng nguyên nhân do bởi không có tùy miên (khuynh hướng tiềm ẩn) nơi tuỳ miên đau khổ và nơi tập khởi tịch diệt trên thánh đạo. Kết quả của nguyên nhân không nguyên nhân tuỳ miên trong đó giống như nhị đề, v.v... nơi những ai khẳng định được tùy miên (samavāyavādino).[148] Do đó có lời nói rằng: “Tịch diệt về
điểm này chỉ là trống rỗng tam đề Chính v́ vậy đầu tiên ta nên hiểu định nghĩa “như là trống rỗng”[149] 436. (13) Như là độc nhất vô nhị. Và về điểm này toàn bộ đau khổ chỉ thuộc một loại như là một pháp diễn ra (pavatti); có hai loại đau khổ đó là: đau khổ tâm, đau khổ thân xác; lại có ba loại như đă được chia thành qui tŕnh tái sanh nơi dục giới, sắc giới và vô sắc giới đau khổ có bốn loại do chia thành tứ thực; đau khổ lại có năm loại như đă chia thành ngũ thủ uẩn. 437. Tập khởi (đau khổ) cũng là một loại khiến (đau khổ) xuất hiện; nguyên nhân cũng có hai loại: tương ưng hoặc không tương ưng với tà kiến; có ba loại là dục ái, hữu ái và phi hữu ái; có tới bốn nguồn gốc với đặc điểm đoạn trừ được do thánh đạo, và có tới sáu nguyên nhân được chia thành sáu nhóm ái dục. 439. C̣n về Thánh Đạo chỉ có một loại thánh đaọ, nếu xét về cách thức ta phải tu luyện; được chia thành hai loại thánh đạo đó là chỉ tịnh và quán minh.[150] Hoặc giả c̣n được chia thành tri kiến và tu tiến, c̣n có ba loại như được chia thành ba uẩn (giới, định và tuệ) đối với thánh đạo này v́ nó chỉ là một phần trong số đó, lại được gộp lại trong ba uẩn là điều dễ hiểu, như một thành phố hiểu theo nghĩa là một vương quốc. Như có lời nói rằng: “Hỡi bạn thân Visākha, có ba uẩn không được bao gồm trong bát chánh đạo, nhưng bát chánh đạo lại được gồm trong ba uẩn này. Hỡi bạn hữu Visākha, pháp ǵ là Chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng; ba loại này được gộp lại trong nhóm giới uẩn; c̣n chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định lại được gồm trong định uẩn; chánh kiến, chánh tư duy [91]lại được gồm trong tuệ uẩn. (M i. 301) Về điểm này ba chánh đạo bắt đầu với chánh ngữ lại là giới, chính v́ thế chánh đạo này được gộp chung trong giới uẩn, v́ thuộc chung một loại. Cho dù trong phần mô tả tiếp theo được viết ở định sở cách “trong giới uẩn”. Tuy nhiên [ta nên hiểu ư nghĩa điểm này theo cách sử dụng cách [có nghĩa là “nhờ giới uẩn”]. 440. Nhưng liên quan đến ba pháp bắt đầu với chánh tinh tấn, th́ thiền định tự bản chất không thể sửa chữa chính ḿnh bằng nhất hành tâm trên đối tượng được, nhưng nó có thể làm được điều này nếu có tinh tấn hoàn tất được nhiệm vụ tự nỗ lực, và chánh niệm chu toàn được nhiệm vụ lơ đểnh (apilāpana-kicca). Về điểm này, có một ẩn dụ như sau: Giống như khi ba người bạn thân, [nghĩ rằng:] chúng ta sẽ cử hành một lễ lớn. Họ đă vào một công viên nh́n thấy một cây Champak đầy hoa quả nhưng không thể nào với tới được những cành cây để bẻ một cành hoa. Thế rồi người bạn thứ nh́ liền cúi lưng xuống để cho người kia leo lên lưng, [Nhưng] cho dù có leo lên lưng người bạn đó, th́ hắn vẫn không thể hái được ǵ cả, là do người đó đứng không vững. Rồi người bạn thứ ba lại đưa vai đỡ cho hắn. [Và thế là] hắn leo lên lưng người bạn thứ và lấy vai người bạn thứ hai làm điểm tựa. Người này đă hái được rất nhiều hoa theo ư muốn, rồi tự trang điểm và thưởng ngoạn buổi lễ tưng bừng. Và điều này cũng đúng như vậy; giống như ba người bạn cùng nhau vào công viên, là ba pháp khởi sanh với chánh tinh tấn, cùng khởi sanh với ba pháp này. Giống như cây compak đầy hoa trái làm đối tượng. Giống như người bạn không thể đưa cánh tay ra để hái hoa chính là định không thể tự bản chất của ḿnh nhờ vào nhất hành tâm (one – pointedness) mà tự tập trung vào đối tượng được ví giống như người bạn cúi xuống đưa lưng ra cho ông bạn [trèo lên], tinh tấn giống như người bạn đứng đưa vai cho [làm điểm tựa] chính là chánh niệm. Chính nhờ đứng trên lưng một người và tựa vào vai người khác hắn có thể hái được rất nhiều hoa như ư muốn. Chính v́ vậy, khi tinh tấn hoàn thành nhiệm vụ đưa vào sử dụng và khi chánh niệm hoàn tất nhiệm vụ không lơ đểnh, với trợ giúp như vậy có thể khiến cho việc định tự tập trung vào nhất hành tâm (one-pointedness) trên đối tượng. Chính v́ thế về điểm này chỉ có chánh định (concentration) được gộp lại trong định uẩn (concentration) như là cùng một loại vậy. Nhưng tinh tấn và chánh định cũng được gộp chung lại trong uẩn này do bởi hành vi hỗ trợ của nó. 441. Cũng liên quan đến chánh kiến và chánh suy tư. Kiến thức không thể tự bản chất có thể xác định được đối tượng mang tính chất “vô thường, khổ và vô ngă.” Nhưng với tầm liên tục hỗ trợ bằng cách ảnh hưởng lên đối tượng. Bằng cách nào vậy? Giống như một người đổi tiền. Có bạc cắc trong tay [92] lại muốn nh́n vào mặt trái của đồng cắc chỉ bằng khả năng của mắt mà thôi. Nhưng bằng cách lấy tay lật mặt trái của đồng cắc lên, th́ người đó có thể nh́n thấy được mọi mặt. Cũng giống vậy trí năng không thể do bản chất mà xác định được đối tượng là vô thường, v.v... nhưng với sự trợ giúp của tầm với đặc tính tập trung trí tuệ và với nhiệm vụ là chạm tới, đập vào, như thể nó đang nện lên và lật tới lật lui th́ trí năng có thể có được những ǵ đưa ra và xác định được đối tượng. Chính v́ thế chỉ có chánh kiến về điểm này được gộp chung lại vào nhóm trí năng v́ thuộc cùng một loại, nhưng chánh tư duy cũng được gồm lại v́ do hành vi hỗ trợ vậy. 442. Như vậy thánh đạo được gộp chung lại thành ba uẩn trên: chính v́ thế Ngài [Đức Phật] đă nói rằng: thánh đạo được chia ra thành ba loại, ba uẩn và lại có bốn loại như thế thánh đạo của Đấng nhập lưu v.v... 443. Hơn thế nữa toàn bộ chân đế lại chỉ có một loại mà thôi. V́ chúng không phải không thật hay v́ chúng nên được thắng tri. Chúng được phân thành hai loại đó là hiệp thế và siêu thế hoặc hữu vi và vô vi; chúng lại có ba loại : phải đoạn trừ thông qua tri kiến và tu tiến, thuộc loại không phải đoạn trừ và thuộc loại chẳng đoạn trừ cũng như không phải không đoạn trừ. Chúng lại có bốn loại chỉ thành điều nên được hiểu một cách trọn vẹn, v.v... Như vậy định nghĩa về điểm này nên được hiểu như là điều độc nhất vô nhị v.v... là v́ vậy.” 444. Với đặc điểm giống nhau và không giống nhau. Toàn bộ các chân đế đều giống nhau v́ toàn thể chân đế đều trung thực, vô ngă và khó thấu triệt đựơc. Theo như lời Ngài [Đức Phật] đă nói như sau: “Hỡi Ananda, nhà ngươi suy nghĩ ǵ, có điều ǵ khó thực hiện hơn, khó hoàn thành hơn là một người phải bắn một mũi tên xuyên qua một lỗ khóa nhỏ xíu ở một khoảng cách khá xa, người này thực hiện hết lần này sang lần khác mà không được.” “Hay có ai đó phải xỏ vào lỗ ở đầu một sợi tóc cả trăm lần với đầu một sợi tóc khác giống như vậy]. Thưa Trưởng lăo, đây là điều rất khó thực hiện; c̣n khó thực hiện hơn là xỏ một sợ tóc vào chân lỗ tóc trên đầu với một trăm lần như vậy mà không thất bại. Hỡi Ananda, c̣n có một điều khó thực hiện hơn thế nữa. Liệu người đó có thấu triệt được một cách chính xác như vậy chăng? Đâu là phương cách dẫn đến diệt khổ.” (S. v. 454) phương cách này rất khác biệt nhau trong việc xác định được những đặc tính riêng vậy. 445. Và hai chân đế đầu tiên giống nhau v́ chúng rất cao siêu và rất khó hiểu, v́ cả hai đều thuộc hiệp thế và câu hành với các lậu hoặc. Chúng khác biệt nhau [93] v́ được phân ra thành hậu quả và nguyên nhân và lần lượt cần được biến tri và phải được đoạn trừ. Cũng như vậy hai chân đế sau cùng tương tự như nhau v́ chúng rất khó hiểu do quá cao siêu và cả hai thuộc loại siêu thế và không câu hành với lậu hoặc. Chúng khác biệt nhau v́ được phân chia thành đối tượng và cả hai đều có một đối tượng và lần lượt được thực chứng và tu tiến. Rồi chân đế đầu tiên và chân đế thứ ba lại giống nhau v́ cả hai xuất hiện dưới tiêu đề quả:[151] chúng khác biệt nhau là v́ cả hai đều thuộc dạng hữu vi (được tạo) và vô vi (không được tác tạo mà thành). Cũng vậy chân đế thứ hai và thứ tư giống nhau v́ chúng xuất hiện dưới tiêu đề nguyên nhân chúng khác nhau v́ là pháp thiện và pháp bất thiện. Chân đế thứ nhất và chân đế thứ tư giống nhau v́ là pháp hữu vi; chúng khác biệt nhau do xuất hiện dưới đặc tính hiệp thế và siêu thế. Cũng vậy chân đế thứ hai và thứ ba giống nhau v́ chúng là những pháp chẳng phải của người hữu học và chẳng phải của người vô học; chúng khác biệt nhau do cả hai xuất hiện với đối tượng cũng như không với đối tượng. “chính v́ vậy
người nào thấy rơ được (b) Đau khổ 446. Giờ đây, để làm rơ bằng cách sắp loại đau khổ v.v... và tŕnh bày ngắn gọn phần mô tả được bắt đầu như sau: Tattha katamaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ? Jāti pi dukkhā (“Về điểm này, khổ thánh đế là ǵ vậy? Sanh là khổ”). Về điểm này, sanh được hiểu là đau khổ: sau khi sanh ta nên được hiểu là, có tuổi già và chết. . . buồn thảm. . .than văn. . . thương tiếc. . .thống khổ... ta nên hiểu sanh liên kết với người không yêu mến và xa ĺa người ta yêu. Đó là ư nghĩa đau khổ liên kết với người không yêu mến và xa ĺa người ta yêu. Về cầu điều tốt lành, về điểm này, ta nên hiểu ư nghĩa đau khổ trong những lời cầu điểm này, ta nên hiểu đến các uẩn, ư nghĩa đau khổ nơi các uẩn. Về điểm này, đây là danh sách (mātikā) nhằm mục tiêu giải thích Khổ thánh đế. V́ đau khổ có nhiều loại và rất đa dạng, có nghĩa là: khổ thuần tuư. Đau khổ gây ra v́ phải thay đổi. Đau khổ nơi các hành, đau khổ được dấu kín, đau khổ được phơi bày, đau khổ văn hoa (pariyāya) đau khổ theo nghĩa đen. 447. Về điểm này, thân khổ thọ và tâm khổ thọ có tên gọi là “ khổ tuyệt đối” v́ bản chất cá nhân của loại đau khổ, v́ tên của chúng là chính đặc tính đau khổ đó. Thọ lạc thân và tâm được gọi là đau khổ do thay đổi (biến khổ) v́ đó là nguyên nhân làm hiện khởi đau khổ do chuyển biến mà ra. Thọ xả và các hành lại thuộc ba cơi được gọi là “đau khổ nơi các hành” v́ chúng bị thúc ép do sanh diệt mà ra. Nhưng cũng có thúc ép giống như vậy ngay cả nơi thánh đạo và thánh quả nữa. Chính v́ thế các pháp này nên được hiểu và gọi là “đau khổ thuộc các hành” do bởi chúng được gộp chung[152] lại vào Khổ Đế.” 448. Một số đau khổ cả về thân lẫn tâm như: đau tai, đau răng, cảm sốt do tham ,cảm sốt do sân . v.v... [94] được gọi là “đau khổ được dấu kín” v́ chỉ được biết tới bằng cách đặt câu hỏi. Và v́ việc tấn công của loại đau khổ này không mấy hiển nhiên: chúng được goi là “đau khổ chưa hiển nhiên”. Một số đau khổ được tạo ra do 32 loại tra tấn v.v... được gọi là “đau khổ được phơi bày ra” v́ ta có thể biết được không cần phải đặt câu hỏi và v́ những tấn công đó đă quá hiển nhiên. Đau khổ đó cũng được gọi là đau khổ hiển nhiên (nhăn tiền). Trừ loại khổ khổ, c̣n các loại khác đều được truyền lại trong tác phẩm Dukkhasaccavibhaṅga (Vbh 99). Cũng vậy toàn bộ những đau khổ có liên quan đến sanh khởi đựơc gọi là “đau khổ văn hoa,” v́ sanh là bản của một hay nhiều loại đau khổ khác nữa, nhưng đó lại là “khổ khổ ” có nghĩa là “đau khổ theo nghĩa đen” 449. Về điểm này, khổ đế nên được diễn giải bằng cách tạo ra những từ sau đây “đau khổ văn hoa” đau khổ theo nghĩa đen” các khổ căn bản, và Khổ thánh đế này đă được truyền lại trong kinh Pāli ngắn gọn và đầy đủ chi tiết. Ở một nơi nào đó Khổ thánh đế được truyền lại một cách ngắn gọn ta có quyền giải thích ư nghĩa hoặc ngắn gọn hoặc theo chi tiết. Nhưng ở nơi nào được truyền lại theo chi tiết th́ ta chỉ có quyền giải thích theo chi tiết mà thôi. V́ khổ thánh đế được truyền xuống ở vị trí theo chi tiết th́ chỉ nên giải thích theo chi tiết, chính v́ thế đề cập đến các từ được ghi trong đoạn nói về mô tả. Bắt đầu với điểm này, Khổ thánh đế là ǵ vậy? Sanh là khổ như [Đức Phật] đă nói ở trên:“Sanh nên được hiểu với ư nghĩa Sanh là Khổ.” (1) Sanh 450. Về điểm này, trước tiên sanh v.v... nên được hiểu theo cách đă được phân loại các từ, cụ thể là, Tattha katamā jāti? Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti. <99.10> (“Về điểm này, sanh là ǵ vậy? là điều thuộc nhiều trật tự chúng sanh khác nhau chính là sanh ra nơi các chúng sanh này chúng sanh nọ, chính là sanh ra nơi các chúng sanh đó.”). Về điểm này, đây là phân diễn giải về ư nghĩa. 451. Tesaṃ tesaṃ sattānaṃ (“thuộc chúng sanh này chúng sanh nọ”): đây là cách biểu lộ chung ngắn gọn dành cho nhiều loại chúng sanh. V́ các chúng sanh gồm vô vàn vô số, ta có thể hiểu được cho dù chỉ nói đến một hay toàn bộ chúng sanh như vậy: đó chính là sanh nhật của Devadatta, đó là ngày Somadatta chào đời. Chẳng c̣n ư nghĩa nào được hiểu ngầm ở đây, chính v́ thế [Đức Phật] nói: yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ. Tamhi tamhi (“thuộc nhiều hạng chúng sanh khác nhau”): đây là cách biểu thị chung chung về nhiều hạng chúng sanh khác nhau nhờ vào định mệnh và sanh khởi. (xin đọc MA I 215). Sattanikāye (“đoàn thể chúng sanh”) = sattānaṃ nikāye “đám đông chúng sanh” “đoàn chúng sanh” đó là ư nghĩa. 452. Jāti (“sanh”) – từ jāti này có nhiều ư nghĩa. Như trong đoạn này: [“Ngài nhớ... ] một kiếp (jāti) hai kiếp (xin đọc I 22. v.v... ) điều này đă được truyền dạy như hiện hữu. Trong đoạn [95]: “Hỡi Visākha. Có một loại (jāti) các vị ẩn sĩ được gọi là Nigaṇṭhas (Jains)” (A. I 206) đây là một nhóm. Trong đoạn sau: tirī nāma tiṇajāti nābhiyā uggantvā nābhaṃ āhacca ṭhitā (A īi 240) đây là một khái niệm. Trong một đoạn khác : “sanh (jāti ) được gộp trong hai uẩn” Dhk 15) đây là trạng thái của hữu vi. Trong đoạn: “sự sanh của Ngài tuỳ thuộc vào thức đầu tiên hiện khởi, thức đầu tiên được thể hiện” ngay trong ḷng người mẹ. (Vin. I 93) đây là Tái sanh thức. Trong đoạn : “kẻ nào không bị từ chối và khinh miệt do sanh ra trong bộ tộc” A. iii 152), đây là một bộ tộc. Trong đoạn: “Hỡi chị, v́ tôi được sanh ra do một thánh sanh,” (. M. ii. 103) đây chính là thánh giới. Tuy nhiên ở đây, đây là điều thích hợp liên quan đến các uẩn thuộc dạng sản phẩm đầu tiên thuộc loại đó.[153] Chính v́ thế jāti <91.11> tức là nhờ được sanh ra; ở đây chính là điều kỳ diệu của thiên nhiên. Sañjāti. (“được sanh khởi”) Ch́nh là nhờ hành vi sanh ra, chào đời; từ này đă được thêm vào một tiếp đầu ngữ. Okkanti (thai sanh) có nghĩa là ngự xuống, xuống thai trong ḷng mẹ. 453. Hay nói cách khác, “sanh[154]” hiểu theo nghĩa được sanh ra; điều này được áp dụng cho những ai có dục xứ chưa hoàn chỉnh. “được sanh khởi” hiểu theo nghĩa được hạ sanh; điều đó áp dụng[155] cho những ai có dục xứ đă hoàn chỉnh. “Hạ sanh” hiểu theo nghĩa được sanh xuống; điều này áp dụng cho những ai noăn sanh hay thai sanh, v́ họ hạ sanh trong vỏ trứng và trong ḷng mẹ.[156] Họ được tái sanh như thể được hạ sanh hay nhập vào trong ḷng mẹ. Abhinibbatti (“quá tŕnh sanh sản”) hiểu theo nghĩa được sanh sôi nẩy nở. Điều này được áp dụng cho những ǵ được thấp sanh hay là hoá sanh. V́ những loại này được gọi là sanh ra ngay khi được hiện hữu. Đây là đoạn đầu tiên giải thích theo kiểu qui ước. 454. Giờ đây đến phần giải thích theo ư nghĩa cao siêu nhất. V́ theo ư nghĩa cao siêu nhất đó là các uẩn xuất hiện,chứ không phải con người.Về điểm này khandhānaṃ (“đối với các uẩn”) được hiểu như là chấp nhận lấy một uẩn chỉ là một thành phần hiện hữu duy nhất. Trong số bốn thành phần hiện hữu và nằm trong số năm thành phần hiện hữu. Pātubhāvo. (“hiện khởi”) đang xuất hiện. Āyatanānaṃ (“thuộc các xứ”): ở đây ta nên hiểu là bao gồm các xứ khi xuất hiện dưới dạng hiện hữu này nọ. Paṭilābho (“có được”) tức là hiển hiện nơi tương tục tính. V́ những vật này được gọi là “có được” chỉ khi nào chúng xuất hiện mà thôi. 455. Ayaṃ vuccati jāti <99.13> (“ta gọi điều này là khởi sanh”) đây là điều được gọi là sanh như đă được giải thích. Nhưng đây chỉ mang đặc tính là lần tái sanh đầu tiên đây kia nơi hữu. Bản chất thực của sanh sản chính là ấn định; thành tựu của sanh sản là xuất hiện tại nơi đây [nơi hữu này] từ sự hiện hữu quá khứ. Hay sự hiện hữu chính là đặc tính đa dạng của đau khổ thông qua kết quả. 456. Giờ đây “ư nghĩa đau khổ trong lúc sanh nên được hiểu” [như đă nói ở trên]: v́ bản chất sanh tự nó không phải là đau khổ. Nhưng v́ sanh là căn bản cho sự xuất hiện đau khổ [96] nên được gọi là đau khổ. Nhưng căn bản này thuộc loại đau khổ nào? Đau khổ thuộc các hiện trạng thống khổ đă được Đức Phật làm rơ bằng những ẩn dụ ở các nơi như trong Bālapaṇḍitasutta. ( M īi 165 ff) và cả đau khổ xuất hiện nơi các hiện trạng sung sướng tột độ nơi cơi nhân loại này và được liệt kê thành căn bản trong việc tái sanh trong ḷng mẹ, v.v... nơi cơi nhân loại đây là căn bản cho toàn bộ những pháp đó. 457. Về điểm này, đau khổ được sắp loại thành “nguồn gốc nơi tái sanh trong ḷng mẹ v.v... ”là như vậy: V́ khi chúng sanh được sanh ra (xin đọc Vis. 500tt và 598) nơi ḷng mẹ th́ chúng sanh này không được sanh ra bên trong đoá hoa sen xanh hay trắng,v.v... nhưng ngược lại giống như con ḍi nơi con cá đang rữa thối, nơi sửa đông thối, nơi hầm chứa phân, v.v... nó được sanh ra từ vùng bụng bên dưới chỗ đựng những thứ đồ ăn không thể tiêu hoá được (nơi dạ dày); ở phần trên là những thứ đồ ăn đă được tiêu hóa trong trực tràng. Ở giữa vùng bụng và xương sống, được coi như là một nơi tù túng, nơi tối tăm. Tràn ngập những thứ rác rến không tinh khiết[157] vô cùng hôi hám. Sực những mùi phân tro khó chịu và ghê tởm khác thường và được tái sanh trong ṿng mười tháng con người đó phải trải qua đau khổ cực kỳ đựơc nấu chín như chiếc bánh ngọt (pudding) trong một cái bao nóng được tạo ra trong ḷng người mẹ và bốc hơi giống như một chiếc bánh bao làm bằng bột nhào. Không thể cúi xuống, cũng không trải ra được.,v.v... chính v́ thế đau khổ đầu tiên này được bén rễ nơi việc tái sanh trong ḷng mẹ. 458. Nhưng khi người mẹ th́nh ĺnh vấp chân, hay di chuyển, hoặc ngồi xuống hay đứng lên và quay quanh th́ một sự đau đớn cực kỳ người đó phải trải qua do bị kéo tới kéo lui và bị xóc lên xóc xuống, giống như đứa bé bị rơi vào tay một gă say rượu và giống như con rắn nhỏ phải rơi vào tay một kẻ dụ rắn; và cũng vậy người đó phải trải qua những đau khổ đột ngột như vậy, như thể người đó xuất hiện trong địa ngục lạnh lẽo. Khi người mẹ uống nước lạnh, và cả khi bị ngợp trong trận mưa than hồng khi người mẹ nuốt vội bát cháo nóng bỏng, hay bát cơm, v.v... và như thể phải lâm vào cơn tra tấn bằng “ngâm trong chất kiềm” khi người mẹ nuốt phải chất mặn hay chất axít. Đây là loại đau khổ có căn nơi thai nghén.. 459. Nhưng khi người mẹ bị xảy thai, th́ đau đớn lại hiện khởi trong người đó do bị cắt và xẻ ra nơi những chỗ đau đớn hiện khởi không thích hợp để cho bạn bè nh́n thấy. Cũng như người thân và các bạn bè khác. Đây chính là đau khổ do bị xảy thai. 460. Đau đớn hiện khởi khi người mẹ lâm bồn. V́ bị lật ngược đầu xuống do nghiệp tạo gió và bị ném qua một lối thoát khủng khiếp từ ḷng mẹ ra ngoài, [97] giống như một vực thẳm hỏa ngục, và bị lôi qua một cửa hẹp giống như một con voi chui qua lỗ khóa; giống như một dân cư hỏa ngục bị nghiến thành vụn do đụng phải những tảng đá; đây là đau khổ do nguyên nhân từ sanh đẻ mà ra. 461. Nhưng đau khổ lại hiện khởi sau khi đă được sanh ra, và thân quá mỏng manh và yếu mềm được cầm trong tay, được tắm, lau sạch và xoa bóp bằng khăn v.v... và đau đớn đó giống như kim đâm và rạch bằng lưỡi dao cạo.,v.v... đây là đau đớn xuất phát từ chuyến mạo hiểm ra khỏi bụng mẹ. 462. Đau đớn c̣n hiện khởi trong quá tŕnh cuộc sống nơi những kẻ tự sát, nơi những kẻ thực hiện tự hành hạ thân xác và hăm dẹp theo như lời thề của các vị ẩn sĩ lơa thể. Nơi những kẻ do tức giận mà nhịn ăn, tự treo cổ; đây là đau khổ xuất phát từ nguyên nhân tự ngược đăi chính ḿnh. 463. Nhưng đau đớn hiện khởi nơi những người phải trải qua đánh đập roi vọt, tù đày, v.v... do tay người khác; chính là đau đớn do người khác ngược đăi. Như vậy sanh là cội nguồn của mọi đau khổ trên đời này. 464. Chính v́ thế Đức Phật đă dạy rằng: Nếu chẳng ai
phải tái sanh nơi hoả ngục. | |