|
CHÚ GIẢI BỘ PHÂN TÍCH
Nguyên
Tác Pāli: Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG MƯỜI LĂM
PHÂN TÍCH CÁC
ĐẠT THÔNG A. CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO KINH TẠNG. (a) Phần tóm tắt. 1938.[386] Giờ đây trong phần phân tích các đạt thông tiếp theo sau đó. Catasso <393.1> (“bốn”) là cách phân chia số học. Paṭisambhidā (“các đạt thông”) là những phạm trù (pabheda). Nhưng v́ atthe ñāṇaṃ attha-paṭisambhidā <293.3> (“trí có liên quan đến ư nghĩa chính là nghĩa đạt thông”) điều này sẽ được đề cập đến sau này, chính v́ thế ta chỉ nên hiểu như là các phạm trù trí mà thôi, chứ không phải phạm trù của bất kỳ điều ǵ khác. Chính v́ thế nhờ cách diễn tả Catasso paṭisambhidā (“bốn đạt thông”) ư nghĩa này được xét đến, cụ thể như sau: “có bốn loại phạm trù trí (ñāṇappabheda)”. 1939. Atthapaṭisambhidā (“nghĩa đạt thông”) là đạt thông liên quan đến ư nghĩa (atthe paṭisambhidā) ư nghĩa là “trí rơi vào phạm trù có liên quan đến ư nghĩa” trí này có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức, việc diễn giải và định nghĩa ư nghĩa các phạm trù. Chính v́ thế đối với những cách diễn tả c̣n lại. 1940. Dhammapaṭisambhidā (“pháp đạt thông”) là trí rơi vào phạm trù pháp (dhamma), trí này có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức, giải thích, định nghĩa về phạm trù pháp. 1941. Niruttipaṭisambhidā <293.2> (“ngữ đạt thông”) là trí rơi vào phạm trù liên quan đến việc thốt ra một ngôn ngữ nào đó. Trí này có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức, giải thích, định nghĩa về phạm trù ngôn ngữ. 1942. Paṭibhāṇapaṭisambhidā (“trí đạt thông”) là trí rơi vào phạm trù liên quan đến trí thông minh. Trí này có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức, giải thích, và định nghĩa phạm trù trí thông minh. 1943. Giờ đây atthe ñāṇaṃ attha-paṭisambhidā <2933> (“nghĩa đạt thông chính là trí liên quan đến ư nghĩa”) v.v... được nói đến, nhằm chứng tỏ những đạt thông bằng cách phân tích chúng theo như chúng đă được đưa ra. 1944. Về điểm này, attho (“ư nghĩa. Mục tiêu”) nói vắn gọn chính là kết quả của nguyên nhân, (hetuphalaṃ). V́ điều đó phải được phục vụ (araṇīya)[6] phải tới được, phải đạt đến do nguyên nhân; chính v́ thế ta gọi là ư nghĩa (mục tiêu). Nhưng đặc biệt có năm điều, cụ thể là, bất luận điều ǵ được tạo ra có điều kiện, níp bàn, ư nghĩa điều được nói đến, kết quả (vipāka), tâm tố (volition) (kiriyā). Nên được hiểu như là ư nghĩa (attha). Khi ta duyệt xét lại ư nghĩa. Trí rơi vào phạm trù liên quan đến ư nghĩa chính là nghĩa đạt thông vậy. (atthapaṭisambhidā) 1945. Dhammo (“Pháp”) ngắn gọn là điều kiện (paccaya).V́ cái gọi là “pháp” (dhamma) do xoay sở kiếm cách thực hiện (vidahati) bất luận điều đó là ǵ, đều khiến nó xuất hiện và cho phép điều đó tới được. Nhưng đặc biệt, có năm điều, cụ thể là: bất luận nguyên nhân tạo ra quả, (hetu), thánh đạo, [387] điều được nói ra, là pháp thiện, là pháp bất thiện, cũng nên được hiểu là “Pháp” (dhamma). Khi người nào đó duyệt xét lại Pháp đó, trí rơi vào phạm trù liên quan đến pháp luật chính là pháp đạt thông vậy. 1946. Tattha dhammaniruttābhilāpe ñāṇaṃ (“trí liên quan đến việc thốt ra pháp ngữ đó”) cái gọi là ngôn ngữ tự nhiên (sabhāvanirutti) liên quan đến ư nghĩa đó và pháp đó; [trí] liên quan đến việc thốt ra ngôn ngữ đó. Khi một người duyệt xét lại ngôn ngữ tự nhiên đó bằng cách tạo ra tiếng động âm thanh của đối tượng. Trí đó rơi vào phạm trù liên quan đến việc phát ra ngôn ngữ tự nhiên chính là ngữ đạt thông (niruttipaṭisambhidā). Như vậy ngữ đạt thông này dẫn đến tạo ra một âm thanh (các từ) làm đối tượng, chứ không phải một khái niệm làm đối tượng. 1947. Tại sao vậy? V́ trong khi nghe một tiếng động, ta biết rằng đây là ngôn ngữ tự nhiên, đây không phải là ngôn ngữ tự nhiên. V́ người nào đạt đến đạt thông này biết rơ khi xúc phasso[7] được cho là đây chính là việc thốt ra ngôn ngữ tự nhiên; và người đó biết rằng Phassā hay Phassaṃ[8] được cho là đây không phải là ngôn ngữ tự nhiên. Cũng chính v́ vậy đối với thọ vedanā[9] v.v... Nhưng liệu người đó có biết ngoài điều đó ra từ này c̣n là một danh từ (nāma), động từ (ākhyāta), tiếp đầu ngữ (upasagga), tiếp vĩ ngữ (byañjana) hay không? Từ thời điểm như vậy, khi nghe một từ, người đó biết rằng : đây là một ngôn ngữ tự nhiên; đây không phải là một ngôn ngữ tự nhiên. Kể từ đó th́ người đó cũng biết được là như vậy. 1948. Nhưng câu chuyện sau đây được kể lại [trong tập chú giải][10] lại chối bỏ điều này, nói rằng Không phải nhiệm vụ của đạt thông này. H́nh như Trưởng Lăo Tissadatta đă cầm lấy chiếc gậy bằng vàng để thuyết giảng tại Wisdom Site và đưa ra cho thấy: “Điều ǵ ngoài mười tám ngôn ngữ tôi sắp nói đây? Nhưng điều ngài đưa ra không dựa vào đạt thông. V́ với đại trí của ngài, ngài đă học mỗi ngôn ngữ đó bằng cách nói ngôn ngữ đó. Chính v́ thế sau đó ngài đă đưa ra cho thấy là chỉ nhờ vào việc học hành mà thôi. 1949. Nhưng ở đây, v́ cho rằng chúng sanh học nói một ngôn ngữ, điều này chỉ có thể khẳng định được như vậy sau khi chúng sanh đă nói thạo ngôn ngữ đó; đối với người cha và người mẹ, khi con cái c̣n nhỏ, đặt chúng trên giường hay trên một chiếc ghế và họ nói ra từ này từ nọ, họ làm công việc này công việc kia. Những đứa trẻ sẽ định nghĩa được âm thanh này âm thanh nọ của cha mẹ như thế này: “ Nhờ điều này ta nói ra được điều đó, nhờ điều này ta nói ra điều nọ”, và thời gian trôi qua, chúng biết được toàn bộ một ngôn ngữ. Người mẹ là người Tamil. Người cha là ngươi Andhaka. Những đứa trẻ do họ sanh ra, nếu như chúng được nghe tiếng người mẹ nói trước th́ nó sẽ nói ngôn ngữ Tamil; nếu đứa trẻ nghe tiếng nói của người cha trước th́ nó sẽ nói ngôn ngữ Andhaka. Nhưng nếu nó không nghe được tiếng nói của cả cha lẫn mẹ chúng, th́ nó sẽ nói tiếng Magadha.Và người nào được sanh ra giữa rừng sâu không có lấy bất kỳ ngôi làng nào và ở đó cũng chẳng có người nào mà nói cả th́ người đó cũng vậy, khi tạo ra âm thanh tiếng nói. Theo chính sở thích của người đó, [388] người đó chỉ nói tiếng Magadha mà thôi và trong hoả ngục, trong kiếp sống súc sanh nơi cơi quỉ ma nơi cơi con người, và nơi cơi Phạm Thiên. Ở mọi nơi ngôn ngữ Magadha là tuyệt vời nhất. 1950. Về điểm này, ngôn ngữ c̣n lại trong số mướ tám ngôn ngữ bắt đầu tiếng Oṭṭa. tiếng Kirāta, tiếng Andhaka, tiếng Hy lạp và tiếng Tamil, đều thay đổi; chỉ có tiếng Magadha này thôi được chính xác gọi là hoàn hảo nhất được các vị Phạm Thiên sử dụng. Không bao giờ thay đổi. Kể cả Đức Thế Tôn khi công bố Phật ngôn trong Tam Tạng cũng đă sử dụng tiếng Magadha. Tại sao vậy? Chính v́ bằng cách này th́ dễ dàng suy diễn ra được ư nghĩa. V́ có sự chậm trễ duy nhất đối với Phật ngôn được công bố trong bản văn viết bằng tiếng Magadha là điều đă diễn ra khi lọt đến tai những vị nào đă đạt đến đạt thông mà thôi; Nhưng khi tai nghe chỉ đụng phải. Th́ ư nghĩa xuất hiện theo hàng trăm kiểu khác nhau, thậm chí cả hàng ngàn kiểu là đàng khác. Nhưng một bản văn được công bố bằng một ngôn ngữ khác, cần phải được học hỏi bằng những chuyên chỉ liên tục. Nhưng đối với một người b́nh thường th́ chẳng bao giờ đạt đến được đạt thông, cho dù người đó có học rất nhiều đi chăng nữa và cũng chẳng có bất kỳ một vị đồ đệ thánh nào lại không đạt đến được đạt thông đâu.[11] 1951. Ñāṇesu ñāṇaṃ <293.5> (“trí liên quan đến các loại trí”) khi chúng ta duyệt xét lại trí bằng cách biến trí đă hoàn tất trở thành đối tượng, th́ trí rơi vào phạm trù trí đạt thông (paṭibhāṇa-paṭisambhidā). 1952. Nhưng ta cũng nên hiểu bốn đạt thông này cũng được phân thành hai giai đoạn và hiển hiện v́ năm lư do. 1953. Hai giai đoạn nào đây? Giai đoạn thuộc nơi bậc hưữ học và nơi bậc vô học (asekkha-bhūmi).Về điểm này, những đạt thông nơi Trưởng lăo Sāriputta,Trưởng lăo Mahāmoggallāna, Trưởng lăo Đại Ca Diếp, Trưởng lăo Mahākaccāyana, Trưởng Lăo Mahākoṭṭhita và tám mươi vị đại Trưởng lăo rơi vào phạm trù những bậc vô học. Những đạt thông nơi Trưởng Lăo Ananda, Gia chủ Citta, Cận sự nam Dhammika, Gia chủ Upāli, Cận sự nữ Khujjuttarā v.v... lại rơi vào phạm trù những bậc hưữ học. Chính v́ thế mà các đạt thông này có thể phân loại thành hai lănh vực. 1954. Chúng xuất hiện nhờ năm lư do nào vậy? (1) Qua chứng đắc (adhigama). (2) Qua khả năng, am hiểu Kinh Phật (pariyatti). (3) Qua thính giác (nghe) (savaṇa), (4) qua đặt câu hỏi, (5) qua những việc thực hiện trong quá khứ (yoga). 1955. Về điểm này. (1) “Chứng đắc” chính là bậc A-la-hán; v́ những đạt thông trở nên hiển nhiên nơi vị nào đă đạt đến bậc đó. (2) “Khả năng” thông hiểu Kinh Phật, chính là biết rơ Phật ngôn; v́ những đạt thông chỉ trở thành hiện hữu nơi những ai đang học hỏi điều đó. (3) “Lắng nghe” chính lắng nghe giáo Pháp, v́ những đạt thông chỉ trở thành hiện thực nơi vị nào lắng nghe Phật Pháp một cách chăm chú. (4) “Đặt câu hỏi, vấn nạn.” Chính là cách giải thích về ư nghĩa (atthakathā); [389] V́ những đạt thông, chỉ trở nên hiện hữu nơi vị nào đă giải thích được ư nghĩa Kinh Phật Pāli người đó đă học hỏi. (5) “Công việc trước đó” Chính là công việc tu thiền trước đó, nắm bắt được các đề mục thiền trong kiếp quá khứ, bằng phương pháp “đi tới đi lui”[12] v́ những đạt thông chỉ trở nên hiện hữu nơi vị nào trước đó đă hành thiền. 1956. Về điểm này, (1) những đạt thông trở thành hiện thực nơi Trưởng Lăo Tissa là con trai của một điền chủ tên là Punabbasu (punabbasukuṭumbikaputta) do ngài đă chứng đắc A-la-hán. H́nh như sau khi ngài đă học hỏi Phật ngôn tại Ceylon. Ngài đă đi tới bờ biển bên kia; và học hỏi Phật ngôn dưới sự hướng dẫn của một vị thiền sư người Hy lạp tên là Dhammarakkhita. Sau khi ngài đă quay trở về. Nghi ngờ nổi lên nơi ngài liên quan đến một câu Kinh Phật duy nhất khi ngài đă đặt chân đến cảng và bước lên tàu; ngài đă quay trở lại để thực hiện một cuộc hành tŕnh hàng trăm dậm đến gặp thiền sư của ngài. Trên đường đi, ngài đă giải thích câu hỏi của người điền chủ, là người đă đặt niềm tin, đưa cho người đó một chiếc áo len trị giá một trăm ngàn đồng tiền [bạc]. Người đó đem chiếc áo đến vị thiền sư và dâng cho ngài. Vị Trưởng lăo liền cắt chiếc áo ra thành từng mảnh bằng con dao nhỏ và đem treo ở đàng sau chiếc ghế ngồi của ngài. Với mục đích ǵ vậy? Nhằm mục đích tỏ ḷng từ bi nhân hậu với những thế hệ tiếp theo. H́nh như ngài suy nghĩ như sau: “Bằng cách nghĩ về con đường chúng ta đă vượt qua, trong tương lai, những bạn hữu trong cuộc sống phạm hạnh sẽ tin tưởng rằng việc tu luyện cần phải được thực hiện, và vị Trưởng Lăo Tissa đă gỡ bỏ được mối nghi ngờ với sự trợ giúp của ngài thiền sư của ḿnh. Vào lúc xuống tàu rời hải cảng Jambukola, ngài đi đến một thiền viện có tên là Vālika vào thời điểm người ta đang quét sân thượng ngôi chùa và cả ngài nữa cũng tham gia quét chùa tại đó.[13] Ngắm nh́n nơi ngài đă quét qua và suy nghĩ: Đây là nơi vị Tỳ khưu đă thoát khỏi mọi tham lam quét dọn. Các vị Tỳ khưu cư trú tại chùa đặt câu hỏi về mục tiêu quan sát của vị Trưởng lăo v́ ngài đă đạt đến đạt thông; vị Trưởng lăo đă giải thích từng câu hỏi các vị Tỳ khưu nêu lên. 1957.(2) Nhưng những đạt thông được thể hiện nơi vị Trưởng lăo Tissadatta và Trưởng lăo Nāgasena do “khả năng” thông hiểu Kinh Phật của ngài. 1958. (3) Những đạt thông trở thành thể hiện nơi vị Thầy Sadi Sudhamma thông qua lắng nghe Phật Pháp một cách chăm chú. H́nh như thầy Sadi là cháu trai của Trưởng Lăo Dhammadinna, là cư dân tại Vālaṅgara[14] và ngài đă chứng đắc A-la-hán ngay tại pḥng Razor (Khuragga) chính lúc đang ngồi và lắng nghe nơi vị trí vị Trưởng Lăo Matula đang định nghĩa Phật Pháp là ǵ, th́ Tam Tạng đă trở thành quen thuộc với ngài. 1959. (4) Nhưng đạt thông trở nên hiển hiện nơi Trưởng lăo Tissadatta đă trở thành hiện hữu khi ngài diễn giải ư nghĩa kinh Phật Pāli ngài đă học hỏi được. 1960. (5) Tuy nhiên vẫn c̣n có [390] vô số các vị thiền sinh trong quá khứ đă biến đạt thông được thể hiện thông qua nhiệm vụ đi tới đi lui, đang khi tự tu luyện một đề mục thiền thích hợp. 1961. Nhưng trong số những lư do này, ba lư do, cụ thể là, khả năng (thấu hiểu Kinh Phật), lắng nghe và đặt câu hỏi. Là những lư do mạnh mẽ đối với chính phạm trù,[15] công việc tiền kiếp là nguyên nhân mạnh để đạt đến chứng đắc.[16] Nhưng đối với phạm trù, phải chăng hay không phải những phạm trù trở thành nguyên nhân chăng? đúng là như vậy, nhưng không theo cách thức này[17]; mặc dù có hay không có khả năng, lắng nghe và được đặt câu hỏi. Trong quá khứ, th́ chẳng có đạt thông nào được thể hiện thông qua những công việc trong quá khứ; chẳng có đạt thông nào xuất hiện nơi các công việc quá khứ mà không thấu hiểu được các hành (formation) cả trong quá khứ lẫn hiện tại, nhưng cả hai yếu tố này lại khiến cho những đạt thông được thể hiện bằng cách hỗ trợ lẫn cho nhau. Kết thúc chú giải đoạn tóm lược (b) Đoạn phạm trù. 1962. Giờ đây để phân tích các đạt thông bằng phương pháp chứng tỏ năm ư nghĩa (attha) và năm pháp (dhamma) nơi các phạm trù (pabheda) [đa dạng] đă được giải thích chung với nhau trong đoạn tóm lược (saṅgahavāra). Ta bắt đầu đề cập đến phạm trù (pabhedavāra) theo phương cách như sau với từ Catasso <293.6> (“bốn”) trở lại. Gồm có năm đặc tính như thể đoạn “chân đế”(saccavāra), đoạn “nguyên nhân” (hetuvāra), đoạn “pháp” (dhammavāra), đoạn “duyên khởi” (paccayākāravāra), và phần “khả năng thông hiểu” Kinh phật (pariyattivāra). 1963. Về điểm này, đoạn “chân đế” <293.8> được khẳng định cho thấy (a) “thực trạng ư nghĩa” (atthabhāva) có nghĩa là, “hiện trạng quả” về phía Khổ đế nổi lên có điều kiện; và về phía Níp bàn phải được đạt đến thông qua một điều kiện, và (b) về phía “hiện trạng pháp” (dhammabhāva) “hiện trạng nguyên nhân” về phía nguyên nhân xuất khởi tạo ra thánh quả và về phía thánh đạo giúp ta đạt đến Níp bàn. 1964. Nhưng trong đoạn “nguyên nhân” <293.14> được khẳng định cho thấy (a) thực trạng “pháp” về phía bất kỳ nguyên nhân nào tạo quả của một nguyên nhân, và (b) “hiện trạng ư nghĩa” của quả nơi một nguyên nhân bất kỳ. Và ở đây, do có sự tiếp nối liên tục, “nguyên nhân và hiệu quả” th́ pháp đạt thông (Dhammapaṭisambhidā) mô tả đầu tiên theo thứ tự.[18] 1965. Nhưng đoạn các “pháp” (dhamma) <293.20> được khẳng định để cho thấy (a) “hiện trạng ư nghĩa” về phía những hiện trạng được phát sanh từ nguyên nhân này nguyên nhân nọ được phân thành sắc giới và vô sắc giới, và (b) “hiện trạng Pháp” về phía nguyên nhân này nguyên nhân nọ cũng được phân thành sắc giới và vô sắc giới.[19] 1966. Nhưng đến đoạn “duyên khởi” <294.1> được khẳng định để cho thấy (a) “hiện trạng ư nghĩa” liên quan đến lăo và tử, v.v... và (b) “hiện trạng pháp ” liên quan đến sanh, v.v... được gọi là “nguồn gốc” của lăo, nguồn gốc của tử v.v... [20] 1967. Sau đó đến đoạn “khả năng thông thạo [Kinh Phật] <294.19> được khẳng định để cho thấy (a) “hiện trạng pháp” về phía bất kỳ điều ǵ được đề cập đến và được gọi là “khả năng” và (b) “hiện trạng ư nghĩa” về phía ư nghĩa thuộc những ǵ phải được đạt đến thông qua nguyên nhân được gọi là “điều được đề cập đến” 1968. Và về mặt ấy, v́ nhờ hiểu biết điều được đề cập đến, ta biết được ư nghĩa của nó. Chính v́ thế, do có liên tục tính nơi “điều được đề cập tới” chính là ư nghĩa những ǵ ta nói đến ở đây. “Pháp đạt thông được mô tả đầu tiên. Theo thứ tự này và chỉ nhằm mục đích cho thấy loại khả năng (pariyatti) về pháp mà đoạn tái khẳng định (paṭiniddesa) được khẳng định tiếp theo sau câu hỏi Tattha katamā dhammapaṭisambhidā? <294.21> (“về mặt ấy, pháp đạt thông là ǵ vậy?”) [391] Về điểm này, các bản văn được trích một cách toàn diện[21] bằng chín chi phần bắt đầu với khế kinh sutta <294.22>. Ayaṃ imassa bhāsitassa attho, ayaṃ imassa bhāsitassa attho <294. 25> (“đây chính là ư nghĩa của điều đă được nói ra, đây chính là ư nghĩa của điều đă được đề cập đến.”): và trong thí dụ này, cũng vậy các bản văn được trích toàn diện bằng “điều đă được đề cập tới” Kết thúc chương phân tích theo Kinh Tạng B. Chương phân tích theo Vi Diệu Pháp. 1969. Về điểm này, có ba loại đạt thông thuộc hiệp thế. Nghĩa đạt thông được pha trộn giữa yếu tố hiệp thế và yếu tố siêu thế; v́ đạt thông đó cũng được coi là siêu thế bằng trí thánh đạo và thánh quả lại có níp bàn làm đối tượng. Trong chương phân tích theo Vi Diệu Pháp ta thực hiện việc giải thích với bốn đoạn bằng cách đặc tính thiện, bất thiện, quả và duy tác. Về điểm này, những đạt thông nên được hiểu [22]là bốn trong trường hợp mỗi cách mô tả về tâm một cách toàn bộ như là tâm thiện như đă được phân loại ở trên trong đoạn bàn về Tâm Khởi Xuất (Cittuppādakaṇḍa).Chính v́ thế trong trường hợp các tâm bất thiện liên quan đến đoạn quả và duy tác. Chỉ có ba đạt thông được sắp loại mà thôi trong trường hợp mỗi tâm quả và tâm duy tác. Loại ra ngoài pháp đạt thông do bao gồm các đoạn quả và duy tác vào ư nghĩa. Nhưng Kinh Phật Pāli lại tóm lược bằng cách chỉ đưa ra cho thấy các chủ đề mà thôi ta nên hiểu theo chi tiết được truyền lại như đă đề cập đến ở trên. 1970. Nhưng tại sao, như đă được đề cập đến trong trường hợp các đoạn nói về thiện và bất thiện như sau tesaṃ vipāke ñānaṃ atthapaṭisambhidā <295.3> (“trí về quả chính là nghĩa đạt thông”) lại không được đề cập đến một cách thích đáng ở đây: “ Trí về Pháp về những ǵ là kết quả chính là pháp đạt thông vậy” (yesaṃ dhammānaṃ ime vipākā tesu ñāṇaṃ dhammapaṭisambhidā)? V́ điều này đă được nói đến ở trên. Nếu như vậy, liệu có phải v́ “trí về kết quả là nghĩa đạt thông chăng? (tesaṃ vipākā ñāṇaṃ atthapaṭisambhidā)”? đă được đề cập đến ở trên không nên nói đến ở đây hay sao? Tại sao vậy? Chính là v́ ta không nói đến chúng ở trên thông qua khởi sanh tâm quả và tâm duy tác; và trong trường hợp đoạn duy tác. Đoạn “thuộc các pháp nào là duy tác (yesaṃ dhammānaṃ ime kiriya), thật là không thích hợp. Chính v́ thế trong trường hợp cả hai thuộc đoạn này chỉ có ba đạt thông được phân tích mà thôi. 1971. Về điểm này, yāya niruttiyā tesaṃ dhammānaṃ paññatti hoti <295.4> (“ngôn ngữ nhờ đó chúng ta biết được các pháp đó.”) có nghĩa là “ngôn ngữ (nirutti) thông qua phương tiện đó chúng ta biết được như sau: “Đây là xúc, đây là thọ” thuộc những pháp đó như đă được khẳng định theo cách thức sau đây: đă có xúc nổi lên.” 1972. Tatra dhammaniruttābhilāpe ñāṇaṃ <295.5.> (“về điểm này trí liên quan đến việc công bố ngôn ngữ về Pháp, đă trở thành một cách tự nhiên khiến ta nhận biết được những pháp trên đời này (sabhāvapaññatti),[23] Khi điều ǵ đó diễn ra liên quan đến ư nghĩa và pháp; chỉ có trí nổi lên bằng cách phát ra âm thanh th́ đối tượng của nó mới được diễn giải ở đây.” 1973. Yena ñāṇena <295.6> (“trí nhờ đó... ”): nhờ trí có được về trí đạt thông nhờ đó. [392] Tāni ñāṇāni jānāti (“ngài biết được những loại trí”): ngài biết được ba loại trí đạt thông”). Ngài thông suốt được ba loại trí đạt thông khác. 1974. Giờ đây để cho thấy trí nào giúp ta biết được những loại trí liên quan đó xuất hiện, ngài nói tiếp imāni ñāṇāni idam atthajotakāni (“những loại trí này soi sáng cho biết ư nghĩa này.”) Về điểm này, Idam-atthajotakāni <295.7> (“soi sáng cho biết ư nghĩa này”): có nghĩa là chúng mang đặc tính soi sáng, làm rơ ư nghĩa này, ư nghĩa ở đây chính do chúng soi sáng, làm rơ phân định được ư nghĩa đặc biệt này; Iti ñāṇesu ñāṇaṃ (“trí liên quan đến những loại trí như sau”): trí xuất hiện liên quan đến ba loại trí theo cách này là paṭibhāṇaṭisambhidā (“trí đạt thông”). Về điểm này, cho dù trí đạt thông biết rơ nhiệm vụ các loại đạt thông khác như vậy: “ Đây chính là nhiệm vụ, đây chính là nhiệm vụ” Tuy nhiên nó không thể tự thực hiện những nhiệm vụ, giống như vị diễn giảng Phật Pháp có rất nhiều trí so với một vị thuyết giảng Phật Pháp có ít hiểu biết hơn. 1975. H́nh như có hai vị Tỳ khưu; một vị có rất nhiều hiểu biết, c̣n vị kia có học thức ít hơn. Cả hai người cùng tham dự một khóa thuyết giảng Phật Pháp (dhammakathāmagga). Về vấn đề này, vị Tỳ khưu có ít học thức lại có giọng nói tốt; giọng nói của vị kia thật nghèo nàn hơn. Ở mỗi nơi họ đi tới, vị có ít học thức song lại có giọng nói tốt giảng giải Phật Pháp và làm say mê toàn thể thính giả nhờ giọng nói tuyệt vời của ḿnh, chúng sanh nghe thuyết pháp và tâm họ được khơi động và sảng khoái. Họ nói: “Theo cách thức thuyết pháp người đó chắc chắn phải là vị thấu hiểu Tam Tạng nằm ḷng.” Nhưng vị thuyết pháp tốt lại nói: “Chính do việc nghe thuyết pháp mà các người biết được người đó có phải là người thuộc nằm ḷng Tam Tạng hay chăng và do ngài có thể diễn giảng Phật Pháp và làm cho toàn bộ thính giả cảm động. Về điểm này, ta nên hiểu rằng cho dù trí đạt thông biết rơ những nhiệm vụ của người khác, chính là v́ vị Tỳ khưu có kiến thức sâu rộng th́ biết rơ nhiệm vụ của ḿnh hơn là vị có ít học thức, chính v́ thế người đó không thể thực hiện được nhiệm vụ đó. Điều c̣n lại đă rơ ràng. 1976. Sau khi đă phân tích những cách đạt thông theo pháp thiện... v.v... tâm khởi sanh, giờ đây ngài nói Catasso paṭisambhidā <303.5> (“bốn cách đạt thông”) để cho thấy lănh vực chính là vị trí các đạt thông khởi sanh. 1977. Về điểm này, có câu này tisso paṭísambhidā kāmāvacarakusalato catūsu ñāṇasampayutta cittesu. <303.7> (“ba loại đạt thông[khởi sanh] v́ liên quan đến pháp thiện thuộc cơi dục giới, trong bốn tâm tương ưng với trí.”) do cách thức các vị hưữ học (sekkha) khẳng định. Đối với pháp đạt thông khởi sanh nơi bốn tâm thiện tương ưng với trí, bằng cách biến giới pháp nơi năm khía cạnh đă nói đến ở trên làm đối tượng vào thời điểm duyệt xét ngôn ngữ. Trí đạt thông nổi lên [393] bằng cách biến hiểu biết hoàn tất được toàn bộ đạt thông đối tượng này vào thời điểm duyệt xét lại trí. 1978. Kiriyato catūsu <303.8> (“liên quan đến duy tác, nơi bốn tâm tương ưng với trí”) : tuy nhiên, theo cách các vị vô học (asekkha) đă khẳng định. Do việc pháp đạt thông nổi lên nơi bốn tâm duy tác tương ưng với trí bằng cách biến pháp theo năm khía cạnh đă đề cập đến ở trên về làm đối tượng vào thời điểm duyệt xét lại. Cũng giống như vậy ngữ đạt thông nổi lên bằng cách tạo ra tiếng động là đối tượng vào thời điểm duyệt xét lại ngôn ngữ. Trí đạt thông nổi lên bằng cách biến trí, đă hoàn tất toàn bộ điều này làm đối tượng vào thời điểm duyệt xét lại trí. 1979. Atthapaṭisambhidā etesu c’eva uppajjati <303.9> (“nghĩa đạt thông khởi xuất liên quan đến những vấn đề này.”): Tuy nhiên, cả bậc hưữ học lẫn bậc vô học đều khẳng định điều này theo cách riêng của họ theo đó đạt thông này nổi lên nơi bậc hưữ học bốn tâm thiện tương ưng với trí, bằng cách biến ư nghĩa năm khía cạnh đă đề cập đến ở trên về đối tượng vào sát na duyệt xét lại; nơi thánh đạo và thánh quả của họ vào sát na thánh đạo và thánh quả; nhưng lại nổi lên nơi bốn tâm duy tác tương ưng với trí của bậc vô học bằng cách biến ư nghĩa thuộc loại đối tượng nói đến ở trên vào sát na duyệt xét lại; và vào sát na thánh quả nơi thánh qủa cao nhất của bậc sa môn; như vậy những vấn đề này khi nổi lên nơi bậc hưữ học và nơi bậc vô học cũng xảy ra giống như vậy nơi các lănh vực này. Chính v́ thế phương pháp này được giải thích nhằm mục tiêu cho thấy rơ các lănh vực đạt thông vậy. C. PHẦN VẤN ĐÁP. 1980. Trong phần vấn đáp bốn đạt thông có thể là pháp thiện.v.v..nên được hiểu theo Kinh Phật Pāli. 1981. Nhưng liên quan đến Tam đề cảnh, v́ ngữ đạt thông chỉ nghe cảnh thinh là đối tượng thế nên có cảnh hy thiểu. Nghĩa đạt thông có cảnh hy thiểu nơi người nào duyệt xét lại ư nghĩa vừa được gọi là kết quả thuộc dục giới và thuộc duy tác và y tương sinh; cảnh đáo đại nơi vị nào đang duyệt xét lại ư nghĩa thuộc loại đạt thông về cơi sắc giới và cơi vô sắc giới, đạt thông này có cảnh vô lượng nơi người nào duyệt xét lại ư nghĩa thánh quả siêu thế và ư nghĩa tối thượng, tức là Níp Bàn. 1982. Pháp đạt thông có cảnh hy thiểu nơi vị nào duyệt xét lại pháp thiện thuộc cơi dục giới, pháp bất thiện và cả pháp thiện làm nguyên nhân nữa; đạt thông này có cảnh đáo đại nơi vị nào duyệt xét lại pháp thiện thuộc cơi sắc giới và thuộc cơi vô sắc giới. [394] nó có một cảnh vô lượng nơi vị nào duyệt xét lại pháp thiện siêu thế và lấy pháp làm nguyên nhân. 1983. Trí đạt thông có cảnh hy thiểu nơi vị nào duyệt xét lại các loại trí thiện thuộc cơi dục giới và các loại trí thánh quả và duy tác. Đạt thông này cũng có cảnh đáo đại nơi vị nào duyệt xét lại các loại trí thuộc thiện, quả, duy tác sắc giới và vô sắc giới, và nơi vị nào đang nhận ra các cảnh đó; đạt thông này cũng có cảnh vô lượng nơi vị nào duyệt xét lại các loại trí thiện và thánh quả siêu thế nữa. 1984. Nghĩa đạt thông cũng có thể lấy thánh đạo làm nguyên nhân thông qua câu sanh duyên, thông qua tu tập thánh đạo với tinh tấn dẫn đầu lại có đạo thành trưởng với dục hay tâm dẫn đầu, điều này không được coi là như vậy; pháp đạt thông lại lấy đạo thành cảnh vào sát na duyệt lại thánh đạo nơi vị nào đang duyệt lại bằng cách chú tâm đến thánh đạo. Đạt thông có đạo thành trưởng thông qua cảnh trưởng. Biện tài đạt thông cũng có đạo thành cảnh vào sát na duyệt xét lại trí thánh đạo nơi vị nào đang duyệt xét lại bằng cách duyệt xét lại các loại trí c̣n lại điều này không thể coi đó như là cảnh trưởng như vậy. 1985. Ngữ đạt thông. V́ đạt thông này chỉ lấy cảnh thinh hiện tại làm đối tượng, cũng có cảnh hiện tại. Nghĩa đạt thông nơi vị nào đang duyệt xét lại ư nghĩa quả và ư nghĩa duy tác quá khứ; nơi vị nào đang duyệt xét lại y tương sinh cũng có cảnh quá khứ; nơi vị nào đang duyệt xét lại đạt thông hiện tại th́ có cảnh hiện tại; nơi vị nào đang duyệt xét lại ư nghĩa tột đỉnh siêu thế th́ không thể cho là có đối tượng như vậy. Pháp đạt thông, nơi vị nào đang duyệt xét lại điều thiện, bất thiện và cả pháp làm nguyên nhân quá khứ cũng có một cảnh quá khứ, nơi vị nào đang duyệt xét lại điều đó trong tương lai cũng có một cảnh tương lai; nơi vị nào đang duyệt xét lại điều đó trong hiện tại th́ có cảnh hiện tại. Biện tài đạt thông nơi vị nào đang duyệt xét lại trí thiện quá khứ. Trí quả và trí duy tác quá khứ có cảnh quá khứ, nơi vị nào đang duyệt xét lại điều đó trong tương lai th́ có cảnh tương lai, nơi vị nào duyệt xét lại trong hiện tại th́ có cảnh hiện tại. 1986. Ngữ đạt thông, v́ có cảnh thinh làm đối tượng, nên chỉ có cảng ngoại phần mà thôi. Liên quan đến ba đạt thông khác, nghĩa đạt thông nơi vị nào đang duyệt xét lại ư nghĩa quả nội phần, ư nghĩa duy tác nội phần và ư nghĩa y tương sinh có cảnh nội phần; nơi vị nào đang duyệt xét lại cảnh ngoại phần có cảnh ngoại phần; nơi vị nào đang duyệt xét lại cảnh nội và ngoại phần có cả cảnh nội [395] và ngoại phần đều xuất hiện nơi vị nào đang duyệt xét lại ư nghĩa tuyệt đối th́ cảnh ngoại phần cũng xuất hiện. Pháp đạt thông vào sát na duyệt xét lại cảnh nội phần thiện, bất thiện và pháp như là nguyên nhân có cảnh nội phần... ngoại phần... ; vào sát na duyệt xét lại điều thiện, bất thiện nội ngoại phần và pháp như là nguyên nhân làm cảnh ta có cảnh nội ngoại phần. Trí đạt thông vào sát na duyệt xét lại điều thiện nội phần, trí quả và duy tác, th́ cũng có cảnh nội phần và ngoại phần; vào sát na duyệt xét lại điều thiện nội và ngoại phần, trí quả và duy tác có cảnh nội và ngoại phần. 1987. Và ở đây ba biện tài là hiệp thế. Nghĩa đạt thông vừa là hiệp thế vừa là siêu thế. V́ trong phần phân tích các đạt thông này chính Đức Phật đă diễn giải ba phương pháp như đă được phân chia theo cùng một cách v́ có sự pha trộn giữa hiệp thế và siêu thế. Do liên quan đến ba đạt thông này, có ba đạt thông mang tính siêu thế c̣n nghĩa đạt thông lại pha trộn vừa siêu thế lẫn hiệp thế. Như vậy việc phân tích đạt thông này cũng được diễn giải bằng cách phân tích trong ba chu kỳ. Kết thúc phân tích về đạt thông.
-ooOoo-
[6] không thấy ghi trong Tự điển Pāli-Anh (PED); xin đọc MA i. 21. 173 [7] = “xúc”; chính xác là giống đực chủ cách số ít. [8] không chính xác chủ cách giống cái và chủ cách vô tính số ít. [9] xin đọc Thanh Tịnh Đạo 442 trong đó có đưa ra những ví dụ điển h́nh về vedanā, vedano [10] theo như ghi trong Mt. [11] toàn bộ đoạn văn này được tóm lược trong Thanh Tịnh Đạo 441-2 [12] Haraṇapaccāharaṇa. xin đọc ở trên. Chương mười hai (§§ 1723-40) [13] xin đọc thêm chuyện kể được ghi trong Sp 1336 [14] xin đọc Chú giải Tăng Chi Bộ về Ekakanipāta ii 6 trong đó ghi lại tên Talaṅga. Chú Giải Tăng Chi Bộ I 42 (Ee) Ee và Ce 1932 giải thích là Talaṅgara; vl trong Ce 1932 giải thích là Vāḷaṅkara. [15] Mṭ : đối với Phạm trù : để gia nhập được vào phạm trù các đạt thông do đạt được các thánh đạo [Ny] [16] Mṭ: chứng đắc, thiền chứng: việc đạt đến được (paṭilābho) nhờ thánh đạo (có nghĩa là, nhờ thánh đạo). chính v́ thế chứng đắc là siêu thế trong khi đó phạm trù thuộc về cơi dục giới. (kāmāvacara). Anuṭ: cái ta gọi là việc chiếm được triệt tiêu si có đối tượng là ư nghĩa. v.v... thông qua toàn vẹn do việc tu luyện ở tiền kiếp; tuy nhiên điều này chỉ là nhiệm vụ của thánh đạo mà thôi. chính v́ ta cho rằng chứng đắc mang đặc tính siêu thế. nhưng v́ việc phân tích, giải thích và định nghĩa theo các phạm trù ư nghĩa, v.v... (xin đọc ở trên §1938 tt) lại chính là các tâm đại duy tác. (mahā-kiriya) tương ứng. Người ta nói rằng phạm trù thuộc cơi dục giới. [Ny] [17] mṭ : có nghĩa là, không giống như nguyên nhân mạnh mẽ như trong trường hợp chứng đắc [Ny]. [18] Uppatipāṭiyā: ư nghĩa đưa ra trong Tự điển Pāli-Anh (PED) đối với các tham khảo đưa ra trong Thanh Tịnh Đạo là sai và nên được sửa lại. [19] Theo như Mṭ. khác nhau giữa hetuvāra và dhammavāra chính là từ đầu có liên quan đến quá khứ, hiện tại và tương lai trong khi đó từ thứ hai. V́ quá khứ và hiện tại pha trộn lẫn với nhau nhằm mục tiêu thuyết pháp, thế nên chỉ có các pháp (dhammas) quá khứ và hiện tại được liên hệ tới như là atthā. Điều này được chỉ cho thấy có sự thiếu vắng uppannā “khởi sanh”. v.v... như Anuṭ. đă vạch rơ, các pháp khởi sanh được tách khỏi hiện taị; xin đọc Dhs §1040 [LSC] [20] Trong bản văn đoạn này được tŕnh bày tại trang. 294tt. 1-18; 11-13 (như đă chỉ định trong Ms trích trong note số 1) nên được giải thích kỹ càng v́ mỗi thứ đều liên kết với paṭiccasamuppāda [21] Nippadesato – trong tự điển Pāli-Anh (PED) không hiểu theo nghĩa này. (xin đọc tr. 112 đến chương 6 ở trên [LSC] [22] Ce 1932 giải thích là : vibhattā ti veditabbā [LSC] [23] Mt. giải thích là sabhāvapaññatti hoặc được coi như là “chúng sanh không được biết đến” v.v... hay là một chúng sanh được biết tới mà không đi ngược lại với bản chất tự nhiên của pháp.]’[LSC]
|
|