CHƯƠNG HAI
PHÂN TÍCH CÁC XỨ
(Āyatanavibhaṅga)
A. CHƯƠNG
PHÂN TÍCH THEO KINH TẠNG
208. [45] Giờ đây, trong phần mô tả về xứ (sense
bases) được triển khai tiếp theo ngay sau đây. Trước
tiên để chứng tỏ Chương phân tích theo kinh Tạng, Ngài
phán: Dvādasāyatanāni: cakkhāyatanaṃ rūpāyatanaṃ
<70.1> (“mười hai xứ: nhăn xứ, sắc xứ) v.v...
(a) Định
Nghĩa
209. Về điểm này, trước tiên theo phương pháp ta không
thấy đề cập đến trong bản văn Pāli.
210. (1) Ư nghĩa, (2) trạng thái, (3) nhiều đến
vậy..(4) tŕnh tự, rồi (5) ngắn gọn và chi tiết, (6)
giống như thể quan sát là vậy [như vậy] ta nên biết rơ
định nghĩa là ǵ.
211. 1. Về điểm này, trước tiên [liên quan đến ư nghĩa]
cách đặc biệt là: “thưởng thức” (cakkhati),[55]
như vậy ta thấy có yếu tố con mắt (cakkhu) ở đây;
có nghĩa là [con mắt] tận hưởng một cảnh sắc (rūpa)
và tiết lộ cảnh sắc đó ra ngoài... “biến thành hữu h́nh”
(làm cho nh́n thấy được) (rūpayati).[56]
Như vậy đây là cảnh sắc (rūpa);
ư muốn nói, thông qua thay đổi dáng vẻ bên ngoài
(màu sắc), cảnh sắc đó thể hiện được hiện trạng nào ta
đang suy nghĩ trong tâm (nghĩa đen: trong tim). “Nghe
được” (suṇāti) như vậy có liên quan đến tai (sota).
“phát ra đươc” (sappati)[57]
như vậy ở đây có yếu tố thinh (sadda); ư nghĩa
là: “điều được thốt ra” (udāharīyati)[58]
“ngửi thấy” (ghāyati), như vậy điều này liên quan
đến mũi (ghāna). “điều ngửi được” (gandhayati),[59]
như vậy đây là cảnh khí (gandha);
ư nghĩa ở đây là: nó lộ ra (sūcayati)
[60]
chính vật (vatthu) của ḿnh”.
“nó kích thích (avhayati) sự sống (jīvita),
như vậy đó là lưỡi (jivhā). “ nếm” (rasanti)[61]
vậy đây là cảnh vị (rasa);
“họ thưởng thức điều đó.” ư muốn nói như vậy. “ Đây
chính là nguồn gốc (āya) mọi hiện trạng bất thiện
tuỳ thuộc vào các ung rữa” Đây lại đề cập đến thân xác (kāya),
“nguồn gốc” là vị trí điều ǵ đó xuất hiện. “Điều
đụng chạm tới được” (phusiyati), như vậy đây
chính là cảnh xúc. (phoṭṭhabba). “nó tạo ra suy
nghĩ ” (manayati)
[62],
như vậy nó là ư (mano). “chúng
mang (dhārayanti) chính trạng thái riêng của
ḿnh”; như vậy đây là các pháp (dhammā).
212. Tuy nhiên nh́n chung “xứ” (āyatana) nên được
hiểu như (a) do đặc tính mở rộng (đẳng trương) (āyatanato)[63]
(b) là do lănh vực (phạm vi=tananato)
[64] nguồn gốc (āyānaṃ)[65]
của nó và (c) v́ lư do đem
đến (nayanato)[66]
của nó trên những ǵ đang
mở rộng ra (đẳng trương) (āyatassa).
213. Đối với (a) những hiện trạng tâm và những hiện
trạng sở hữu tâm cùng xảy ra (cetasika) [sở hữu
các môn và đối tượng] trải rộng ra (āyatanti)[67]
trên mỗi đặc điểm riêng nơi chính các hiện trạng đó với
từng cặp một như con mắt và cảnh sắc, thông qua nhiệm vụ
cảm nghiệm của từng cặp đó, v.v... chúng trở nên sinh
động, cố gắng và phấn đấu trong đó là điều ta muốn nói ở
đây.
214. (b) Những cặp này lại tạo phạm vi (tanonti)
cho những hiện trạng đó, để trở thành nguồn gốc (āya);
đem lại cho chúng mục tiêu phấn đấu là ư nghĩa muốn nói
đến ở đây.
215. (c) Cho đến bao lâu nỗi đau khổ do ṿng luân hồi
hồi đang diễn ra qua đặc tính vô thủy (không có khởi
thủy) ṿng luân hồi hồi trải rộng trong (āyata)
quá khứ
[68] không có dấu hiệu rút
đi, cho đến bao lâu cái ṿng luân hồi hồi đó vẫn c̣n đem
đau khổ đến (nayante); đến lúc đó chúng vẫn c̣n
tạo ra biết bao nhiêu hiện trạng tâm, v.v...
[69] xuất hiện.
216. Chính v́ thế toàn bộ những hiện trạng này ta gọi là
những xứ (lănh vực), ư nghĩa ở đây là do chúng trải rộng
ra. Chính là lănh vực nguồn gốc và bởi v́ đem đến những
ǵ được trải rộng ra đây đó.
217. Hơn thế nữa, “xứ” nên được hiểu theo nghĩa là nơi
cư trú. [46], kho,[70]
nơi hội họp, nơi sanh và nguyên nhân. V́ thế ta thấy ư
nghĩa trên thế gian này [trong các câu như] “xứ đại
vương” “xứ Vasudeva” v.v... đây là nơi cư trú và ta gọi
là xứ (āyatana); trong [các câu như] “xứ vàng ”
“xứ bạc ”, v.v... th́ đó là một mỏ, một kho. Nhưng trong
Giáo Pháp, ta lại thấy trong các đoạn như:
“Và chính v́ thế nơi cơi hoan lạc (āyatana)
Những kẻ nào bay trên trời, bắt phải phục tùng Ngài.”
(A. iii. 43)
Đây c̣n là nơi hội họp; như trong các câu như: “ vùng
đất miền nam là nơi những đàn gia súc đông đúc trú ngụ.”
Đây lại là một nơi sanh; trong các đoạn như: “Ngài đạt
được tài cán khi cơ hội tới để chứng tỏ điều đó (āyatana)”
(M I 494) đây lại là một nguyên nhân.
218. Và những hiện trạng tâm này cũng như những sự kiện
sở hữu tâm cùng diễn ra trong mắt v.v... là do đặc tính
phụ thuộc vào nhau; như vậy con mắt v.v... chính là nơi
cư trú của chúng và có rất nhiều các hiện trạng xảy ra
nơi con mắt là do cả hai phụ thuộc lẫn nhau chính [con
mắt] lấy chúng làm đối tượng; chính v́ thế con
mắt,v.v... là một cái kho của chúng. Và con mắt v.v...
là nơi hội họp v́ là nơi gặp gỡ của một trong số các
vật, c̣n là môn và là đối tượng. Và con mắt v.v... lại
là nơi sanh v́ chúng xuất hiện ngay tại đó, con mắt coi
chúng là niềm hỗ trợ cũng như là đối tượng. Con mắt
v.v... lại c̣n là nguyên nhân v́ thiếu con mắt th́ các
pháp này cũng không xuất hiện nơi các sự kiện này.
219. Chính v́ những lư do trên, các pháp được gọi là
“xứ” (āyatana); hiểu theo nghĩa như là nơi cư
trú, là kho, là nơi hội họp, nơi sanh và là nguyên nhân
nữa.
220. Chính v́ thế theo ư nghĩa đă được khẳng định: “ Đây
chính là con mắt, tức một xứ”, ta cũng có thể gọi là
“nhăn xứ”... “chúng chính là pháp và đó cũng c̣n là xứ
nữa.” do vậy chúng chính là “pháp xứ” Do vậy, ngay vị
trí ban đầu đây chính là ư nghĩa cần hiểu rơ về định
nghĩa vậy.
221. (2) Trạng thái: ở đây cũng vậy, chúng ta nên
hiểu rơ định nghĩa như là trạng thái của con mắt v.v...
nhưng những trạng thái này nên được hiểu theo phương
pháp ta đă khẳng định ở trên trong phần mô tả về sắc uẩn[71]
222. (3) Liên quan đến ư nghĩa cụm từ: nhiều đến như
vậy. V́ các hiện trạng “hữu” nhiều vô số kể. Đây là
điều người ta thường nói: v́ con mắt v.v... và pháp xứ
cũng vậy (dhamma), nhưng tại sao lại c̣n đề cập
đến “mười hai xứ” thay v́ chỉ cần nói đến “pháp xứ” mà
thôi? V́ ta định nghĩa về môn cộng đối tương – làm cho
các nhóm thức nổi lên. V́ ở đây, chính việc định nghĩa
sáu nhóm thức nhờ định nghĩa hiện trạng các môn cũng như
hiện trạng đối tượng, thế nên ta phải chia ra theo kiểu
này; Như vậy ta có mười hai nhóm, chính v́ chỉ có nhăn
xứ mới là môn khởi xuất, và chỉ có sắc xứ mới có thể trở
thành đối tượng của nhóm thức được gộp lại thành các qui
tŕnh (vīhi) tâm nhăn thức. [47] Những môn
khác cũng giống như vậy, nhưng chỉ có ư xứ mới được gọi
là tâm hữu phần (bhavaṅga) sở hữu tâm nổi lên và
pháp xứ lại không chung nhất với toàn bộ làm đối tượng
cho nhóm thức thứ sáu này. Chính v́ thế ta mới gọi đó là
“mười hai”. V́ việc định nghĩa môn cộng với đối tượng
làm cho sáu nhóm thức này khởi xuất. Như vậy định nghĩa
ở đây nên được hiểu là “nhiều đến như vậy”.
223. (4) theo tŕnh tự: Ở đây cũng vậy, xuất phát
từ “tŕnh tự sanh khởi” v.v... được khẳng định ở trên,[72]
chỉ có “tŕnh tự thuyết pháp” là thích hợp. V́ trong số
các nội xứ th́ nhăn xứ được diễn giảng đầu tiên. Điều
này là rơ ràng bởi v́ nhăn xứ có đối tượng bao gồm hữu
kiến (sanidassana) và hữu đối chiếu
(sappaṭigha) của nó. Sau đó nhĩ xứ v.v... có
đối tượng là vô kiến và hữu đối chiếu. Hay ngược lại
nhăn xứ và nhĩ xứ được diễn giảng đầu tiên trong số các
nội xứ là do đặc tính hữu ích to lớn của chúng làm
nguyên nhân tạo ra thấy vô thường và nghe vô thường (xin
đọc A. iii. 325) Sau đó ba nhóm khác bắt đầu khởi sanh
với tỷ xứ và cuối cùng mới giải thích đến ư xứ v́ ư xứ
đóng vai tṛ hành xứ làm đối tượng cho năm xứ khác.
Nhưng v́ chúng lần lượt lấy nhăn xứ làm hành xứ v.v...
sắc xứ v.v... trong số các ngoại xứ, được diễn giải tiếp
theo sau từng loại tương ứng với từng nội xứ.
224. Hơn nữa, tŕnh tự này nên được hiểu như là định
nghĩa nguyên nhân khiến tâm nổi lên; và điều này đă được
nói đến: “Do mắt và cảnh sắc mà nhăn thức xuất hiện... .
Do ư và các pháp mà ư thức nổi lên” (M. i 111-2) chính
v́ thế ta nên hiểu định nghĩa ở đây “theo tŕnh tự ” là
như vậy.
225. (5) [Hiểu theo cách] ngắn gọn và chi tiết:
Ngắn gọn, mười hai xứ chỉ đơn giản là danh sắc v́ ư xứ
và một phần pháp xứ được gộp chung với danh và số xứ c̣n
lại được gộp chung với sắc .
226. Nhưng [hiểu một cách] chi tiết. Trước tiên liên
quan đến các nội xứ, nhăn xứ chỉ đơn giản là một loại
sắc thần kinh nhăn mà thôi; nhưng khi ta sắp loại theo
nguyên nhân, sanh thú (gati) theo nhóm (nikāya)
và con người, th́ lại rất đa dạng. Cũng giống vậy liên
quan đến bốn nhóm bắt đầu với nhĩ xứ, ư xứ có tới 81
loại theo như cách phân loại dựa trên tâm thiện, tâm bất
thiện, tâm qủa và tâm duy tác thuộc ba cơi; nhưng theo
cách sắp loại căn cứ vào xứ, tiến hành[73]
v.v... th́ lại vô cùng đa dạng. Sắc xứ, khí xứ, vị xứ
theo cách sắp xếp dựa trên sở sanh, gồm tới bốn đặc
tính. Thinh xứ có hai đặc tính, nhưng cách sắp xếp theo
nét tương đồng và bất tương đồng toàn bộ lại vô cùng đa
dạng. Các xúc xứ lại chia thành ba loại dựa trên địa
đại, hỏa đại và phong đại. Và xét theo cách sắp xếp sở
sanh chúng lại chia thành bốn loại; và theo cách tương
đồng và bất tương đồng thật là vô cùng đa dạng. Pháp xứ
cũng thuộc nhiều loại theo cách lấy cảnh pháp thuộc ba
cơi làm đối tượng. Chính v́ thế ta nên hiểu rơ định
nghĩa theo cách ngắn gọn và chi tiết.[74]
[48]
227. (6) quan sát xứ như thế nào: Nhưng ta nên
coi toàn bộ những xứ này[75]
không có nguồn gốc (lai lịch) và điểm đến, v́ chúng
không đến từ bất kỳ nơi nào trước khi xuất hiện cả. Cũng
như chẳng đi được nơi nào sau khi diệt cả. Nhưng do
trước lúc xuất hiện chúng không có thực tính (sabhāva)
riêng cho ḿnh và sau khi diệt th́ thực tính đó lại
tan vỡ hoàn toàn; khoảng giữa trước và sau, chúng chẳng
có được sức mạnh nào [khả dĩ có thể sử dụng được] v́ lư
do chúng hoàn toàn lệ thuộc vào nguyên nhân. Chính v́
thế ta nên coi chúng không có lai lịch và không có điểm
đến nào cả.
228. Cũng vậy ta nên coi chúng hoàn hoàn thụ động và
không bị chiếm đoạt. V́ xứ này không xuất hiện trước con
mắt và cảnh sắc v.v... : “Tâm này có thể xuất hiện từ sự
hội họp của chúng ta” chăng? Và chúng không thụ động
cũng như không tự chiếm cho ḿnh tư cách là môn, các vật
và đối tượng làm mục tiêu cho tâm nổi lên chăng? v.v...
nhưng là qui luật nhăn thức này chỉ nổi lên do sự hội
họp với mắt và cảnh sắc v.v... chính v́ thế chúng được
coi như: hoàn toàn thụ động và không bị chiếm đoạt.
229. Hơn nữa, các nội xứ giống như một ngôi làng trống
vắng v́ thiếu đặc tính thường, tịnh, lạc và bản ngă; và
các ngoại xứ lại giống như những kẻ trộm đột nhập vào
ngôi làng, (xin đọc S iv. 175) v́ chúng tấn công bất ngờ
các nội xứ. Chính v́ thế Đức Phật nói rằng: “Hỡi Chư vị
Tỳ Khưu, cảnh sắc vừa ḷng hay khó chịu thường tấn công
con mắt.” Hơn nữa, ta nên coi các nội xứ giống như sáu
thọ sanh[76]
và các ngoại xứ là nơi cư trú. Như vậy ta hiểu rơ định
nghĩa ở đây “ xứ được quan sát như thế nào”.
(b) Vô thường, v.v...
230. Giờ đây để chỉ rơ thông qua thiền quán ta có thể
nhận rơ các khía cạnh khác nhau nơi các xứ này Đức Phật
nói: Cakkhuṃ aniccaṃ <70.5> (“con mắt chỉ là
vô thường mà thôi”) v.v... ở đây, đầu tiên con mắt
là vô thường hiểu theo nghĩa phi hữu sau khi đă xuất
hiện.
231. Con mắt có đặc tính vô thường v́ bốn lư do [cụ thể]
như sau: do đặc tính sanh diệt, do thay đổi (vipariṇāma),
do đặc tính tạm thời (tāvakālika) và đặc tính
loại trừ khỏi tính vĩnh cửu (niccapaṭikkhepa).
232. Chính
xứ chỉ là đau khổ (dukkha) hiểu theo nghĩa bị đàn
áp. Hoặc v́ xứ này sau khi đă trụ (ṭhiti), trong
lúc trụ xứ đó tăng triển, (lớn lên) già đi và bị bệnh
tật kiệt sức và đang khi đạt đến tuổi già th́ qua đi
(chết), chính v́ thế đau khổ xuất hiện v́ bốn lư do nêu
trên, [cụ thể là], v́ bị đàn áp liên tục, v́ khó khăn
lắm (dukkhama) mới xuất hiện được và v́ chính xứ
là đau khổ và v́ đặc tính loại bỏ hết mọi an lạc.
233. Nhưng xứ là vô ngă (anattā) hiểu theo nghĩa
bất lực. Hay v́ không thể thực thi sức mạnh trong ba
trường hợp cụ thể như sau: “xứ này, thực chất không đạt
đến trụ, khi đă đạt đến trụ lại không tránh khỏi già
cỗi, khi đă già cỗi, không tránh khỏi diệt”; và không
đắc thủ đặc tính khả dĩ đem lại khả năng hành sử sức
mạnh này(vasavattana). Chính v́ thế xứ là vô ngă
v́ bốn lư do trên, cụ thể như sau: v́ xứ th́ trống rỗng,
v́ không phải là chủ sở hữu, v́ không thể hành sử theo ư
muốn (akāmakāriya) và v́ đặc tính bị loại khỏi
bản ngă.
234. [49] Dễ dàng thay đổi v́ lấy phi hữu làm vận
mệnh, v́ phải liên tục di chuyển từ điểm quá độ hiện hữu
này sang hiện hữu khác và v́ đă loại bỏ mất bản chất
nguyên thủy của ḿnh. Đây chỉ là những từ đồng nghĩa với
vô thường mà thôi.
235. Liên quan đến rūpa aniccā <70.,6> (“Sắc
pháp th́ vô thường”) v.v... phương pháp này cũng
tương tự như các phương pháp nêu trên.
236. Hơn thế nữa ở đây, ngoại trừ con mắt, các pháp
thuộc ba cơi đều là vô thường, nhưng chúng không phải là
con mắt; nhưng con mắt lại vừa là con mắt và vô thường.
Giống như vậy các pháp c̣n lại đều là đau khổ [nhưng
không phải] là mắt; nhưng con mắt gồm cả đặc tính vừa là
con mắt lại vừa là đau khổ nữa. Các pháp khác đều là vô
ngă [nhưng không phải] là con mắt; nhưng con mắt lại gồm
cả hai đặc tính, vừa là con mắt vừa là vô ngă nữa. Cũng
như vậy, đối với các cảnh sắc,v.v... phương pháp được sử
dụng cũng tương tự như vậy.
237. Nhưng trong chương phân tích theo Kinh Tạng này vị
Như Lai (Đức Phật) muốn diễn giải điều ǵ vậy? Đó là vô
ngă tướng nơi thập nhị xứ. V́ khi giảng thuyết về vô ngă
tướng này, Đức Phật đă diễn giải đặc tính này bằng cách
diễn giải vô thường tướng, hoặc thông qua khổ năo tướng
hay thông qua cả hai vừa vô thường lẫn đau khổ nữa.
238. Về điểm này, trong đoạn Kinh Phật sau đây: “Nếu có
ai đó cho là bản ngă chính là con mắt, đó là điều không
thể chấp nhận được v́ đặc tính sanh diệt nơi con mắt đă
quá rơ ràng. Nhưng chính v́ đặc tính sanh diệt của con
mắt đă quá hiển nhiên như vậy, nên vị ấy đă có thể kết
luận: “Chính bản ngă của tôi cũng đă sanh rồi diệt.”
chính v́ thế mà (con mắt là bản ngă) là điều không thể
chấp nhận được... Như vậy con mắt là vô ngă( M. iii 282)
Ngài (Đức Phật) đă thuyết pháp về vô ngă tướng bằng vô
thường tướng vậy.
239. Trong đoạn Kinh sau đây, (Đức Phật) đă diễn giải vô
thường tướng thông qua khổ năo tướng như sau: “Hỡi các
vị tỳ khưu, sắc chẳng phải bản ngă đâu, nếu sắc là bản
ngă, th́ sắc này không thể dẫn đến bệnh tật, và rồi
chúng ta có thể lệnh cho sắc như sau: “sắc của tôi phải
như thế này, sắc của tôi không như thế nọ mới đúng”. (S
iii. 67)
240. Trong các đoạn như sau: “Hỡi các vị tỳ khưu, sắc
chỉ là vô thường mà thôi; điều ǵ là vô thường cũng lại
là đau khổ cả. Cái ǵ gây đau khổ là vô ngă; điều ǵ là
vô ngă th́ chẳng phải của tôi, chẳng phải là tôi. Đó
không phải là bản ngă của tôi.” (S iii 82.) Ngài đă
thuyết pháp vô ngă tướng thông qua cả hai tướng vô
thường và đau khổ.
241. Tại sao vậy? Là bởi v́ tướng vô thường và đau khổ
đă quá hiển nhiên. V́ khi ta cầm trong tay một chiếc đĩa
đựng ly uống nước, chẳng may tuột tay và vỡ cả: ta vội
kêu lên: “Ôi! Vô thường cả” Như vậy tướng vô thường quả
thật rất hiển nhiên. Nhưng liên quan đến con người (attabhāva)
th́ sao: khi mụn nhọt hay ung bứu trong người phát ra,
hay chân ta vấp phải đá hoặc đạp phải gai: ta la lên: “
Ôi! Đau quá.” Chính v́ thế đau khổ là điều hiển nhiên.
Đặc tính “vô ngă” thật khó hiểu, không rơ ràng, tối tăm
và khó ḷng thấu triệt được, khó ḷng làm cho người khác
[50] hiểu được.
242. Cho dù Vị Như Lai có xuất hiện hay không th́ mọi
người cũng đă hiểu rơ tướng vô thường và đau khổ là như
thế nào. Chúng ta chẳng hiểu được tướng vô ngă, nếu như
các Chư Phật không xuất hiện; và chỉ khi nào Chư Phật
xuất hiện ta mới hiểu rơ được tướng vô ngă mà thôi. V́
các vị hành giả và ẩn sĩ (tāpasa) như thể: Thiền
Sư Sarabhaṅga[77]
chẳng hạn, các vị tỏ ra rất dũng mănh, đầy dũng lực và
các Ngài đă diễn đạt thấu đáo tướng “vô thường và đau
khổ”: [nhưng các Ngài không thể diễn đạt được “vô ngă”
là ǵ. V́ nếu các Ngài có thể diễn đạt được “vô ngă là
ǵ” và nếu các Ngài diễn tả được “vô ngă” nơi Tăng Già
hiện hành, kết quả là sự thâm nhập thánh đạo và thánh
quả sẽ diễn ra nơi Tăng đoàn đó. V́ làm cho tướng “vô
ngă” được am tường không thuộc phạm vi của bất kỳ ai cả;
nhưng chỉ thuộc phạm vi của các vị Toàn Giác mà thôi.
Như vậy tướng vô ngă không thể hiện rơ ràng được. Chính
đây là lư do tại sao khi thuyết pháp về tướng vô ngă,
Ngài đă diễn giải bằng cách thuyết pháp tướng vô thường
và đau khổ hay nói cách khác, thông qua cả vô thường và
khổ năo Ngài đă diễn giải về vô ngă vậy. Nhưng ở đây ta
nên hiểu Ngài đă diễn giải “vô ngă tướng” thông qua cả
hai tướng vô thường và khổ năo vậy.
243. Nhưng bởi v́ không hiểu rơ, do không thâm nhập được
vào chân đế đó, do bởi chân đế đó bị che dấu ở đâu mà
chúng đă không xuất hiện? Trước tiên tướng vô thường
không xuất hiện v́ ta đă không hiểu rơ và không thể thâm
nhập vào qui tŕnh “sanh diệt” do tương tục tính (santati)
đă che dấu mất . Khổ năo tướng không
thể xuất hiện do không thể giữ lại được trong tâm, do
không thể thâm nhập và hiểu rơ áp bức liên tục diễn ra
và do những oai nghi (iriyāpatha) tướng che dấu
mất. C̣n tướng vô ngă không thể xuất hiện cũng do
không thể giữ lại được trong tâm, không thể thâm nhập
được những quyết định trong nhiều giới khác nhau (nānādhātuvinibbhoga),
tướng che dấu do kết khối. Nhưng khi tương tục tính được
mổ xẻ để nghiên cứu bằng cách phân biệt sanh diệt, th́
tướng vô thường xuất hiện, như là bản chất đích thực của
nó. Khi những oai nghi được giải bày bằng việc kiềm chế
trong tâm sự đàn áp liên tục, khổ năo tướng xuất hiện,
với bản chất đích thực của nó. Khi phân biệt kết khối (ghanavinibbhoga)
bị ảnh hưởng do xác định với nhiều giới khác nhau
th́ vô ngă tướng cũng xuất hiện với bản chất đích thực
của nó.
244. Và đến đây ta nên hiểu rơ sự khác biệt sau đây giữa
giới vô thường và tướng vô thường, giữa khổ năo và khổ
năo tướng, giữa vô ngă và vô ngă tướng[78]
245. Về điểm này, ngũ uẩn (pañcakkhandha) là vô
thường. Tại sao vậy? V́ ngũ uẩn sanh diệt và thay đổi.
Hoặc là v́ ngũ uẩn có tướng vắng mặt sau khi đă trở
thành hiện hữu. Sanh diệt và thay đổi chính là vô thường
tướng. Hoặc giả phong thái chuyển đổi thay đổi (ākāravikāra)
( xin đọc Vis, 590) được gọi là vắng mặt sau khi đă hiện
hữu.
246. Nhưng cũng chính ngũ uẩn đó lại gây đau khổ là do
các từ sau đây: “ Điều vô thường lại là điều gây đau khổ
” (S. iv.1) Nhưng tại sao vậy? Là do tính chất áp bức
liên tục mà ra. Phong thái bị áp bức liên tục chính là
khổ năo tướng vậy.[51]
247. Nhưng cũng chính ngũ uẩn đó lại là vô ngă do các từ
sau: “Điều gây đau khổ cũng là vô ngă” (S. iv.1) Tại sao
vậy? v́ chẳng có sức mạnh nào ảnh hưởng trên đó cả.
Phong thái không dễ thâm nhập để tiếp thu có khả năng
hành sử chính là vô ngă tướng vậy.
248. Chính v́ lư do đó: vô thường, khổ năo và vô ngă chỉ
là một trong số những tướng của vô thường, khổ năo và vô
ngă có khác nhau mà thôi. V́ toàn bộ những ǵ gộp lại
trong ngũ uẩn, thập nhị xứ và thập bát giới tất cả đều
là vô thường, đau khổ và vô ngă cả; và các trạng thái
chuyển đổi nơi các đặc tính vừa nêu trên chỉ là những
tướng của vô thường, đau khổ và vô ngă mà thôi.[79]
249. Nhưng ở đây nói tóm lại, mười xứ lại thuộc dục
giới; hai xứ thuộc ba cơi. Nhưng qui tŕnh quán phổ
thông (sammasanacāro) (xin đọc Vis. 607, 609,
611) nên được hiểu như đă giải thích dưới mọi góc độ
vậy.
Kết thúc chương phân tích theo Kinh
Tạng
B. CHƯƠNG PHÂN TÍCH THEO VI DIỆU PHÁP
250. Trong chương phân tích theo Vi Diệu Pháp, thay v́
khẳng định các xứ thành từng cặp như : “nhăn xứ, sắc
xứ”, như đă thực hiện ở trên nhằm mục đích trợ giúp cho
những ai sử dụng thiền jhana, [ở đây] nhằm mục đích
chứng tỏ bản chất nội phần và ngoại phần, chúng chỉ được
khẳng định không trộn lẫn chung với nhau,[80]như
sau: cakkhāyatanaṃ sotāyatanaṃ <70.18> (“nhăn
xứ, nhĩ xứ”) theo như phương pháp định nghĩa nội xứ
và ngoại xứ.
251.Trong các chương ghi lại những lời giải thích [về
các xứ trên] tattha katamaṃ cakkhāyatanaṃ ?
<70.24> (“ở đây, nhăn xứ là ǵ?”) v.v... nên được
hiểu theo cách chúng ta đă khẳng định ở trên.[81]
Nhưng ư nghĩa những ǵ đă nói trong phần mô tả về pháp
xứ, [cụ thể như:] Tattha katamā asaṅkhatā dhātu?
Rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo <72.35> (“Ở đây,
vô vi giới là ǵ? đó chính là hoại diệt tham, hoại diệt
sân và hoại diệt si.”) và ở đây: vô vi giới chính là
Níp bàn, có bản chất là vô vi (sabhāva). Nhưng v́
tham, v.v... được hoại diệt ngay khi đạt đến Níp bàn (etaṃ
āgamma) chính v́ thế mà ta gọi là hoại diệt tham,
hoại diệt sân và hoại diệt si” đây là bài diễn giải đă
được đa số các vị Thiền sư đồng ư.
252. Nhưng có người chống lại (vitaṇḍavādin) nói
rằng: “Chẳng hề tồn tại một Níp bàn độc lập nào cả; Níp
bàn chỉ là sự hoại diệt mọi phiền năo (defilements)
(phiền năo). Ngài cho biết: hăy trích một đoạn Kinh
Phật.” Kinh Jambukhādaka được trích dẫn như sau: Ngài
nói: “Níp-bàn ư, hỡi Sāriputta, Níp-bàn là ǵ vậy?’ “đó
chính là hoại diệt tham, hoại diệt sân và hoại diệt si”,
những sự việc đó được gọi là Níp Bàn (S. iv. 251).
[Rồi sau đó] Ngài nói tiếp: thông qua đoạn kinh này ta
nên hiểu rằng chẳng hề tồn tại bất kỳ một Níp bàn độc
lập nào cả; Níp bàn chính là hoại diệt mọi lậu hoặc
(phiền năo). Người ta đă hỏi lại Ngài: “Nhưng làm
sao được? Liệu có phải ư nghĩa của đoạn kinh Phật này
được hiểu theo nghĩa đen như vậy không?” Chắc chắn Ngài
sẽ nói: vâng, chính vậy chẳng c̣n ư nghĩa nào khác ngoài
ư nghĩa trong bản kinh này cả.[82]
253. Thế rồi sau đó người ta lại hỏi Ngài: “Giờ th́ Ngài
đă trích đoạn kinh này ; xin Ngài cũng trích một đoạn
khác nói về điều đó xem sao”. Đoạn Kinh tiếp theo sau đó
[cho thấy rằng:] “Bậc A-la-hán, hỡi bạn hữu Sāriputta,
bậc A-la-hán là lẽ ǵ vậy?” “đó chính là hoại diệt tham,
hoại diệt sân và hoại diệt si, điều đó được gọi là bậc
A-la-hán.” (S iv. 251). Đây chính là trích đoạn Kinh
Phật tiếp theo sau nhưng về đoạn trích này, họ thưa lại
Ngài rằng: Níp-bàn chính là cảnh pháp bao gồm trong pháp
xứ; bậc Alahán chính là tứ vô sắc uẩn. Vị tướng quân
Chánh Pháp là (có nghĩa là, Sāriputta) Ngài đă thực
chứng được Níp bàn và an trú trong đó. Được hỏi về Níp
bàn và được hỏi về Bậc A-la-hán Ngài chỉ nói là:
đó chính là hoại diệt được lậu hoặc (phiền năo). Nhưng
bằng cách nào? Thế rồi, Níp bàn và bậc A-la-hán là lư
ǵ? là một hay là nhiều? cho dù cả hai có thể là một hay
là nhiều. Theo bạn là người đă phân biệt
[83] rơ ràng th́ đâu là ư
nghĩa ở đây? Bạn đă chẳng biết được pháp ǵ là một và là
nhiều chứ. Chắc chắn rằng khi người ta đă biết rơ pháp
đó, phải chăng đó là điều thiện chăng? Được hỏi lại liên
tục. Không thể nào gian lận được nữa, Ngài liền nói:
“Chính là v́ Níp Bàn đă xuất hiện nơi kẻ nào đă hoại
diệt được tham lam, v.v... mà người ta gọi là Bậc
A-la-hán tức là sự hoại diệt tham sân và si.”
254. Rồi họ lại nói với Ngài: Ngài đă thực hiện một công
việc vĩ đại! và ngay cả khi có ai đó đến nói với Ngài là
đó chỉ là một phần thưởng. Th́ Ngài cũng chỉ nói như vậy
thôi sao? Và chính v́ Ngài đă giải thích đoạn Kinh Phật
này; chính v́ thế Ngài phải xác định như vậy. Chính v́
đạt đến Níp bàn mà tham, sân si v.v... đă bị hoại diệt.
Và chính v́ thế Níp bàn cũng được gọi là hoại diệt tham,
sân và si. Và đây cũng chính là ba từ dùng để chỉ Níp
bàn vậy.
255. Nếu như ngay cả khi có ai đó đă nói họ đă thâm tín
(saññattiṃ gacchati) như vậy, điều đó là tốt.
Bằng không th́ Ngài đă phải công nhận có nhiều Níp-bàn
khác nữa. Bằng cách nào vậy? Đây là điều nên vấn nạn
trước tiên: “Liệu chỉ hoại diệt được tham là đủ hay c̣n
phải hoại diệt sân và si nữa? có phải chỉ cần hoại diệt
và sân là đủ, hay c̣n phải hoại diệt tham và si nữa?
Phải chăng đă hoại diệt si và chỉ cần hoại diệt si nữa
là đủ? Hay phải có hoại diệt tham và hoại diệt sân nữa
mới đủ? Chắc chắn ngài sẽ nói: hoại diệt tham chỉ là
hoại diệt tham; hoại diệt sân chỉ là hoại diệt sân và
hoại diệt si chỉ là hoại dịêt si mà thôi. Do đó Ngài đă
nói thêm: theo như lời Ngài khẳng định, “hoại diệt tham
là một Níp bàn, hoại diệt sân là một Níp bàn và hoại
diệt si lại là một Níp bàn khác nữa.” Trong việc hoại
diệt ba xứ bất thiện, ba Níp bàn sẽ hiện hữu; hoại diệt
bốn chấp thủ, th́ bốn Níp bàn sẽ xuất hiện; hoại diệt
năm triền cái, lại có năm Níp bàn xuất hiện, hoại diệt
sáu nhóm tham ái, th́ có sáu Níp bàn xuất hiện, hoại
diệt bảy thùy miên (khuynh hướng tiềm ẩn) th́ bảy Níp
bàn xuất hiện. Hoại diệt tám tà tánh th́ cũng có tám Níp
bàn xuất hiện. Hoại diệt đến chín pháp căn tham ái,
[50] th́ có tới chín Níp bàn xuất hiện vậy. Nếu hoại
diệt được mười kiết sử th́ có mười Níp bàn; hoại diệt
đến 1500 lậu hoặc (phiền năo) th́ cũng xuất hiện từng đó
Níp bàn đặc biệt cho mỗi thứ. Có rất nhiều Níp bàn sẽ
xuất hiện, nhưng chẳng có một giới hạn nào cho các Níp
bàn đâu. Nhưng thay v́ cho là như vậy, tốt hơn ta nên
nói là: Chính là v́ đạt được đến Níp bàn mà tham ... v.v
đă bị hoại diệt. Điều đó cũng giống như Níp bàn được gọi
là hoại diệt tham, hoại diệt sân và hoại diệt si vậy.
Hăy xem ba từ này chính là ba từ ám chỉ Níp bàn vậy.
256. Nếu như điều Ngài nói ra mà người đó không chấp
nhận điều đó, hẳn người đó đă thực hiện một công việc
thô.[84]
Bằng cách nào vậy? những kẻ khờ dại, mù quáng và cả
những con gấu, con báo, nai, khỉ v.v... cũng đă bị lậu
hoặc xâm chiếm, thông dâm (vatthuṃ paṭisevanti).
Rồi, khi công việc thông dâm của họ kết thúc các lậu
hoặc chế ngự họ.Theo lời khẳng định của Ngài th́ gấu,
báo, nai, khỉ v.v... cũng đă đạt tới Níp-bàn sao? Tuy
nhiên Níp bàn của bạn có thể là thô, và lỗ măng; điều
duy nhất là bạn không thể cảm thấy êm tai bạn được[85]
Nhưng thay v́ nói như vậy, [bạn nên nói là:] Chính v́ ta
đạt đến Níp bàn mà tham, v.v... bị hoại diệt, Níp bàn
này cũng giống hệt như điều ta gọi là hoại diệt tham,
sân và si nên coi cả ba chỉ là ba từ để chỉ Níp bàn vậy.
257. Nhưng nếu ngay cả khi đă nói ra điều này, người đó
vẫn chưa chấp nhận, th́ anh ta nên chuyển tánh (gotrabhū)
bằng cách nào đây? Trước tiên anh ta nên tự hỏi như sau:
Ḿnh có khẳng định việc chuyển tánh này tồn tại chăng?”
“Có, tôi chấp nhận.” Ngay vào sát na chuyển tánh. Hăy
hoại diệt những phiền năo, liệu ta đă hoại diệt chúng
hay chúng sẽ tự hoại diệt? Chúng chưa bị hoại diệt,
chúng đang bị hoại diệt, hay đúng hơn chúng sẽ bị hoại
diệt. Nhưng chuyển tánh lấy điều ǵ làm đối tượng?
“chính là Níp bàn đó” trong sát na bạn chuyển tánh th́
các phiền năo chưa bị hoại diệt, chúng vẫn c̣n chưa bị
hoại diệt, hay đúng hơn là chúng sẽ bị hoại diệt; đang
khi các phiền năo vẫn chưa được hoại diệt bạn đă nhận ra
rằng Níp bàn chính là việc hoại diệt các phiền năo; đang
khi các tuỳ miên vẫn chưa bị loại bỏ, bạn nhận ra rằng
Níp bàn chính là đoạn trừ các tuỳ miên đó. Điều này
không thích hợp chăng? Nhưng thay v́ nói như vậy [tốt
hơn ta nên nói:] “ Chính v́ đạt đến được Níp bàn mà
tham. v.v... đă bị hoại diệt.” Đây cũng chính là Níp bàn
mà ta gọi là hoại diệt tham, sân và si. Hăy xem ba điều
này chỉ là ba từ để chỉ Níp bàn vậy.”
258. Nhưng ngay cả khi đă nói như vậy, người đó vẫn chưa
công nhận, người đó nên quyết định tu luyện thánh đạo.
Bằng cách nào đây? Trước tiên người đó nên tự hỏi như
sau: Liệu bạn có công nhận thánh đạo không? “vâng, tôi
khẳng định” ‘Ngay sát na thánh đạo, các phiền năo đă
hoại diệt, đang hoại diệt, hay sẽ hoại diệt ?” Tôi biết,
người đó sẽ nói: ‘Thật không đúng chút nào nói rằng:
phiền năo đă bị hoại diệt hay sẽ bị hoại diệt, [54]
đúng hơn ta nên nói: đang hoại diệt. Nếu như vậy th́
thánh đạo cũng chính là Níp bàn thể hiện ở việc hoại
diệt tham,sân và si chăng? Đâu là những phiền năo thánh
đạo đă hoại diệt? Những phiền năo nào thánh đạo đă hoại
diệt bằng cách: cho rằng Níp bàn nào đă hoại diệt các
phiền năo làm đối tượng? Chính v́ thế chớ nên nói như
vậy, [tốt hơn nên nói:] “Đang lúc đạt đến Níp bàn mà
tham,v.v... đă bị hoại diệt.” Cùng một Níp bàn đó lại
được gọi là hoại diệt tham, sân và si. Ba điều này chỉ
là ba từ ám chỉ Níp bàn mà thôi.
259. Sau khi đă nói như vậy, Ngài phán thêm: bạn nói
“đang khi đạt đến Níp bàn”[86]
bạn có khẳng định điều này ở đâu? Ta thấy câu này được
trích trong Kinh Phật (xin trích kinh phật) Chính v́ thế
vô minh và tham ái đă bị hoại diệt, đang khi đạt đến Níp
bàn, chẳng c̣n bất luận điều ǵ ở nơi nào khác nữa”.
(xin đọc M. iii 220) khi nói lên điều này; người kia đều
phải im lặng (xin đọc Vis. 507tt)
260. Ở đây chính là mười xứ dục giới. Nhưng c̣n có hai
xứ thuộc bốn cơi, thế nên điều này được coi như có sự
pha trộn giữa hiệp thế và siêu thế.
Kết thúc Chương
phân tích theo Vi Diệu Pháp.
C. PHẦN VẤN
ĐÁP.
261. Đến đây ta thấy xuất hiện lên phần vấn đáp. Sau khi
đă nêu ra toàn bộ những ǵ thích hợp hay không thích
hợp. Câu trả lời được khẳng định là khớp với những ǵ
thích hợp mà thôi.Và không những chỉ áp dụng với những
vấn đáp nêu lên ở đây nhưng c̣n có thể áp dụng với toàn
bộ những vấn đáp khác nữa.Và đây là phương pháp đă được
chấp nhận.
262. Nhưng ở đây pháp vô kư (avyākatatā) nên hiểu
như là sắc pháp thuộc mười xứ. Pháp thiện, v.v... nơi
hai xứ nên được hiểu tương tự như bốn vô sắc uẩn trong
phần phân tích các uẩn, trừ bốn uẩn chỉ là hữu duyên hay
các hữu vi mà thôi. Nhưng pháp xứ có thể vô duyên và
cũng có thể là vô vi; như vậy đây chính là điều đă được
(Đức Phật) truyền đạt mà thôi.
263. Và liên quan đến các tam đề cảnh. Pháp xứ không có
đối tượng kèm theo và được gọi là sắc tế và được xếp vào
phần dành cho những điều không nên đề cập đến [để có
được những đối tượng như vậy]; và những điều này không
có đối tượng, chứ không phải lấy cảnh là pháp xứ mà ta
chẳng nên nói tới cảnh hy thiểu; đây là điều khác biệt
duy nhất. Những ǵ c̣n lại đều giống nhau cả.
264. V́ ở đây cũng vậy, giống như bốn uẩn, có hai xứ với
cảnh hy thiểu, đối với những ai tham dục, sân hận, si
mê, th́ người đó lại thu thúc, quán phổ thông và phản
khán trên cơ sở 55 pháp thuộc dục giới; như vậy đây là
toàn bộ vấn đề đă được khẳng định liên quan đến các uẩn.
Kết thúc mô
tả về phân tích các xứ
-ooOoo-
[55]
Không có trong
tự điển PED
[56]
Không có trong tự điển PED; từ
rūpayati chỉ được đề cập chung
với từ rpa
[57]
Không có trong tự điển PED
[58]
Không có trong tự điển PED
[59]
Không có trong tự điển PED
[60]
Không có trong tự điển PED
[61]
Không có trong tự điển PED
[62]
Không có trong tự điển PED; Thanh
Tịnh Đạo 481 có ghi munāti có
nghĩa là “thước đo”
[63]
Danh từ do từ āyatati mà ra;
xin đọc dưới đây, phụ chú số 13
[64]
danh từ do từ tanoti mà ra;
Không có trong tự điển PED nhưng lại
xuất hiện trong đó bằng từ
āyatana trong trích đoạn từ KhA
82
[65]
Sở hữu cách số nhiều của từ āya.
[66].
Nayana hiểu theo nghĩa trực
tiếp như là một danh từ neti
không có trong tự điển PED.
[67].
Không có trong tự điển PED
[68]
Atīta-āyataṃ ; C va Thanh
Tịnh Đạo 481 có viết thành
Atīva-āyataṃ
[69]
Toàn bộ các từ bắt nguồn từ đó thực
chất chỉ là tṛ chơi chữ.
[70]
Ākara được hiểu hoặc là “kho
tàng” (tiền kư quỹ) hay là “mỏ quư”,
trong tự điển PED ghi là “mỏ đá quư’
(xin đọc từ ratanākara)
[71]
Rūpakaṇḍaniddesa. Dhs § 583
tt và Asl 296tt chính do điều tham
khảo này, câu này khác với câu ghi
trong Thanh Tịnh Đạo.
[72]
Xin đọc ở trên §129 và Thanh Tịnh
Đạo 476
[73]
có nghĩa là bốn khả năng bắt đầu với
hành nan (paṭipadā) đắc tŕ (abhiññā)
[74]
đọan này khác với đoạn ghi trong
Thanh Tịnh Đạo 483-4)
[75]
Tāni; Thanh Tịnh Đạo ghi là
Saṅkhatāni
[76]
Rắn, cá sấu, chim, chó, chó rừng,
khỉ, xin đọc S iv. 198.
[77]
Sarabhaṅga (“người bẻ găy mũi
tên”) rất có thể đây là tên riêng ám
chỉ vị ẩn sĩ Sarabhaṅga câu
chuyện kể về ngài đựơc ghi trong
Kinh Bản Sinh Jat. 522 (Ny)
[78]
phần tiếp theo của đoạn văn trên
được ghi ngắn gọn trong Thanh Tịnh
Đạo 640tt
[79]
trong E và C có ghi anicca-
dukkhānatta-lakkaṇānī ti suttanta
bhājanīyaṃ như là những từ cuối
cùng trong đoạn này. Bản chép tay
của dịch giả tiếp theo sau cách dịch
này lại thêm các từ “Chương phân
tích theo Kinh Tạng” vào phần cuối
của đọan này, sau đó lại c̣n có một
đoạn nhỏ khác trước “Chương phân
tích theo Vi Diệu Pháp” bắt đầu. Tuy
nhiên trong B, th́ từ áp chót trong
đoạn lại kết thúc bằng. . .lakkhaṇāni
ti. Trong khi đó các từ Tạng
Kinh Suttanta-bhājaniya-vaṇṇanā
lại xuất hiện trong câu cuối cùng.
Cho thấy phần kết cuả đoạn này. V́
đó là cách sử dụng trong toàn bộ các
chương trong tác phẩm này, bản dịch
Tiếng Miến cũng đă được chấp nhận ở
đây (Ny).
[80]
đọc là
abbokārato ( a+vokra+to) với
E, C sabbākārato.
[81]
xin đọc Dhs §596 và Asl (hay liệu
điều này có ám chỉ
Suttantabhājaniya hay không?
[82]
Mṭ điều này có nghĩa là ư nghĩa ở
đây là quá rơ ràng (nīto attho)
chính là các từ dùng trong
Kinh Phật (LSC)
[83]
Tayā atibahuṃ cuṇṇikaraṇaṃ
karontena
[84]
Olārikatāya kāretabbo; Mṭ
ghi là
oḷārikabhāva-dosāpattiyābodhetabbo,
niggahetabbo... = “Nếu hiểu
được điều đó ra sao hoặc chỉ nên
từ chối” [Ny]
[85]
Kaṇṇehi piḷanditum na sakkoti.
[86]
Āgamma – muốn ám chỉ những
điều nhắc lại ở trên về “việc đạt
đến Níp bàn”(nibbānaṃ āgamma,
v.v...)
|