NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chữ Viết Tắt

Xuất bản tập chú giải  Phật Tự Thuyết  (Udānaṭṭhakathā)

Ee  Bản văn tiếng Anh, Hội Thánh điển Pāli (PTS ) F. L Woodward,xb. 1925

Ce   Bản văn Tiếng Tích Lan (Sinhale), xuất bản  tại. Colombo. 1928

Be  Bản văn tiếng Miến Chaṭṭhasaṅgāyana, xuất bản tại. Rangoon. 1958

Se    Bản văn Tiếng Thái, xuất bản tại Bangkok, 1922

 

Bản văn  (TĐ CG Pāli (CPD)  Tiếng Pāli              Tiếng Việt

 

A               AN            Aṅguttaranikāya           Tăng chi bộ kinh

AA             Mp             Cty on A                     C/g Tăng chi bộ

Abhp          Abh           Abhidhānappadīpikā      

Ap             Ap             Apadāna                           Thí Dụ Kinh

Ap-a          Ap-a          Cty on Ap                     C/g Thí dụ Kinh

Asl             As             Cty on Dhs                     C/g Bộ Pháp Tụ

Bv              Bv             Buddhavaṃsa                    Phật tông

Bv-a           Bv-a          Cty on Bv                      C/g  Phật tông

D               DN            Dīghanikāya                   Trường Bộ Kinh

DA                 Sv              Cty on D                                      C/g Trường bộ kinh

Dhp            Dhp           Dhammapāda                    Pháp cú kinh

Dhp-a        Ahp-a        Cty on Ahp                   C/g Pháp cú kinh

Dhs            Dhs          Dhammasaṅgaṇī                Bộ pháp tụ

Gv              Gv            Gandhavaṃsa              

It                It                Itivuttaka                            Bản sự kinh

It-a            It-a             Cty on It                    C/g Bản sự Kinh

J                Ja               Jātaka                            Kinh bản sinh

Khp-a        Pj I     Khuddakapāha cty         C/g Tiểu tụng kinh

Kvu           Kv      Kathāvatthu                       Thuyết Sự Luận

M              MN     Majjhimanikāya                    Trung Bộ Kinh

MA           Ps        Cty on M                        C/g  Trung Bộ Kinh

Mhv          Mvu    Mahāvastu                    Phật bản hạnh tập kinh

Miln          Mil      Milindapañha                Những câu hỏi vua Mil

Nd1         NiddI    Mahāniddesa                      Đại Xiển Minh

Nd2         Nidd II   Cullaniddesa                   Tiểu Xiển Minh

Nett         Nett       Nettipakaraṇaṃ

Pe            Pe        Peakopadesa

Pm       Vism-mh   Visuddhimagga-īkā

Ps         Pais      Paisambhidāmagga             Vô Ngại Giải Đạo

Pugg-a    Pp-a       Puggalapaññatti cty

Pv           Pv           Petavatthu                               Ngă quỉ Sự

Pv-a       Pv-a        Cty on Pv                     C/g về Ngă quỉ Sự

S            SN         Saṃyuttanikāya           Tương ưng Bộ Kinh

SA         Spk        Cty on Pv               C/g về Tương ưng bộ Kinh

Sn          Sn          Suttanipāta                               Tập Kinh

Sn-a      Pj II        Cty on Sn                      C/g về Tập Kinh

Sp-       Sp-        Sāratthadīpanī

Sv-p     Sv-p      Dīgha-īkā

Thag      Th          Theragāthā                          Trưởng Lăo Kệ

Thag-a   Th-a      Cty on Thag                C/giải Trưởng Lăo Kệ

Thīg        Thī        Therīgāthā                           Trưởng lăo ni kệ

Ud          Ud          Udāna                         Phật tự thuyết Kinh

Ud-a      Ud-a       Cty on Ud              C/g Phật tự thuyết Kinh

Vibh      Vibh      Vibhaga                             Phân biệt luận

Vibh-a   Vibh-a   Cty on Vibh                Chú giải phân biệt luận

Vin         Vin      Vinayapiaka                            Luật Tạng

Vin-a      Sp           Cty on Vin                  Chú giải Luật Tạng

Vism      Vism    Visuddhimagga                   Thanh Tịnh Đạo

Vv          Vv        Vimānavatthu                     Thiên cung sự

Vv-a       Vv-a       Cty on Vv                  C/g Thiên Cung sự

 

Các Bản Dịch

AIWS   As It Was Said (= bản dịch tập It = bản sự kinh)

BA       Tập Phân Tích (= bản dịch Vibh  Phân Biệt Luận)

B Disc  Tập các đồ đệ (bản dịch cuốn Vin Luật Tạng)  

Brethren  Tập vịnh các Đồ Đệ (= C.A.F bản dịch tập

Trưởng lăo Kệ của bà Rhys Davids

BL  Các truyền thuyết Phật Giáo (= một phần bản dịch tập chú giải Pháp Cú Kinh.

Compendium Tóm lược triết học (= bản dịch tập Abhidhammatthasaṅgaha)

CSM  Người diễn giải ư nghĩa ngọt ngào (= bản dịch tập chú giải Phật tông)

DD.Xua Tan Si(= bản dịch tập chú giải Phân Bộ Phân Tích)

Dial Đối thoại với Đức Phật (bản dịch tập Trường Bộ Kinh)

EV i  Trưởng Lăo Kệ (thi Tụng)  I (= K.R bản dịch tập Trưởng Lăo Kệ của Norman)

EV ii  Trưởng Lăo Kệ (thi tụng) II (= K.R bản dịch tập Trưởng Lăo Ni kệ của Norman)

Expos  Chú Giải Kinh (= bản dịch Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Asl)

GD   Nhóm các bài thuyết pháp II (K.R bản dịch tập Kinh của Norman)

GS  Tập Kinh Gradual Sayings (bản dịch tập Tăng Chi Bộ Kinh)

Guide Tập hướng dẫn (=bản dịch tập Kinh Nettipakaraṇaṃ)

Inception  Khởi đầu tập Luật tạng (bản dịch tập Luật Tông (Vinaya) Nidāna)

Ireland  Phật Tự Thuyết (Udāna) (bản dịch tập Phật tự Thuyết  của Ireland)

KS   Tập Kindred Sayings (bản dịch cuốn Tương ưng bộ Kinh)

MLS  Middle Length Sayings (bản dịch tập Trung Bộ Kinh)

MQ  Câu hỏi của ngài Milinda (bản dịch câu hỏi của ngài Milinda)

MR&I  Tiểu bộ Kinh & Chú giải (bản dịch tập Chú Giải Tiểu Tụng Kinh)

P Contr  Những điểm Tranh Luận (bản dịch tập thuyết sự luận)

PD  Đạo Vô Ngại Giải (bản dịch tập Paisambhidāmagga)

Pp  Thanh Tịnh Đạo (bản dịch tập Thanh Tịnh Đạo của Pe Maung tin)

Ppn Thanh Tịnh Đạo (Bản dịch Thanh Tịnh Đạo của Ñāṇamoli)

PS  Truyện Ngạ quỷ (bản dịch tập chú giải Ngạ quỉ sự)

Sisters  Thơ vịnh tu nữ (bản dịch Trưởng lăo ni kệ của bà Rhys Davids)

SOM  Truyện kể về mansion (bản dịch Ngạ quỉ sự của Horner

VofU    Bản dịch Phật Tự Thuyết (Udāna) của Woodward)

VS       Bản dịch chú giải Thiên Cung Sự

 

Các cuốn tự điển

 

BHSD                Tự điển Phật Giáo-Do thái-Phạn (BHSD)           

BSOAS              Tạp chí nghiên cứu Đông Phương và Phi châu.

Buddhist Dic       Tự điển Phật Giáo (Nyanatiloka)

Childers              Tự điển ngôn ngữ Pāli

CPD                   Tự điển Chú Giải Pāli (CPD)

DPPN                 Tự điển Danh từ riêng Pāli

Ency. Buddhism   Bách khoa tự điển Phật Giáo.

JPTS                   Tạp chí Hôi Bản Văn Pāli

PED                    Tự điển Pāli-Anh (PED)

SED                    Tự điển Phạn-Anh (Monier Williams)     

 

LỜI GIỚI THIỆU

Những lần xuất bản tập chú giải Phật Tự Thuyết được sử dụng trong suốt quá tŕnh dịch thuật sau đây:

(1)   Trong lần xuất bản bằng mẫu tự Latinh, do ngài F.L. Woodward làm chủ biên và do Hội Thánh điển Pāli xuất bản vào năm 1926  (được tham khảo “bản văn” trong các chú thích)

(2)   Trong lần xuất bản bằng tiếng Tích Lan (Sinhale), do Thượng Tọa Bihalpola Siri Dewarakkhita Thera, do Thượng Tọa Mahagoda Siri Ñāissara Thera biên tập lại. Lần biên tập cuối cùng lại do Trưởng lăo Kahawe Siri Sumangala Ratanasara Nayaka Thera, và được xuất bản thành Tập VI trong loạt bài Simon Hewavitarne Bequest, tái bản lần hai, Colombo, 1928 (được tham khảo với “Ce”trong bản chú thích)

(3)   Bản dịch bằng tiếng Miến, Chaṭṭhasagāyana xuất bản, tại Rangoon năm 1958. (tham khảo trong phần chú thích bằng “Be”)

(4)   Xuất bản bằng tiếng Thái, Trưởng lăo Kittisobhanatthera biên tập và do nhà xuất bản Mahāmakut Rājavidyālaya, Bangkok, 1922 (2465 BE) nhằm kỷ niệm ngày mất của Trưởng lăo chao

(5)   Sobhā Rājinī vào năm 1919 (được tham khảo trong chú thích bằng “Se”)

Thêm vào đó, tôi cũng thường xuyên tham khảo bản dịch hiện đại tập chú giải Phật Tự Thuyết bằng tiếng Thái xuất bản năm 1982, để kỷ niệm 200 năm ngày sanh của giáo chủ Cakriroyal, cho dù rơ ràng là bản dịch này không được tốt và rất nghèo nàn, hầu như những cư dân nói tiếng Thái b́nh thường cũng khó ḷng hiểu được và tôi cũng được biết là bản dịch này đă bỏ qua toàn bộ những từ nguyên khó hiểu.

C̣n với bản dịch tập chú giải Phật Tự Thuyết, đôi khi có một số từ xuất hiện trong bản văn xuất bản này, lại không thấy xuất hiện trong các bản in khác, và đến lúc chúng ta không thể nào quyết định được nên giữ lại các từ đó trong các bản dịch đang c̣n tranh luận chăng. Tôi đă quyết định giữ lại do cẩn thận và đưa các từ đó vào trong ngoặc (  ).

Xuyên suốt bản dịch tôi đă bám sát, hầu như không có ngoại lệ ǵ, với cách chấm câu trong bản dịch tiếng Miến (Be). Hầu như bỏ qua hoàn toàn cách chấm trong của bản văn do Woodward đưa ra v́ có quá nhiều sai sót khó hiểu, những hiểu lầm, và in sai cũng thường thường tương đương với vô dụng vậy.

Để dẹp sang một bên một thực tế là lần xuất bản, bản văn của Woodward, giống như những chi tiết trong  tự điển Chú Giải Pāli (CPD), đa phần được dựa trên lần xuất bản đầu tiên bản văn xuất bản bằng tiếng Tích Lan (Sinhale) (Ce). Sau ba năm xuất bản, cũng chưa có bản văn tái bản lần thứ hai mà tôi đă truy cập. Một điều chắc chắn là có biết bao nhiêu lỗi không thể tha thứ được Woodward đă mắc phải trong lần xuất bản đầu tiên, không chỉ có những câu văn mới, mà cả một đoạn, ngay cả với các mệnh đề phụ nơi các câu trước đó (tasmiṃ kāle… apaññattattā, Ud-a 296) hay với một thực tế khác nữa là trong nhiều trường hợp cách giải thích lại gồm rất nhiều những phần chú giải cuối trang, vẫn dựa trên nguyên văn những ǵ đă đưa ra trước đó rất cần phải thay đổi. (Ud-a 67 n 12; 204 n 2; 280 n 1; 421 n 8; v.v…). Không kể đến một số hiểu lầm to lớn (td. ’ ’ās-ange. Ud-a 801), những nhận dạng sai về nguồn gốc và trên hết, là cách ngạo mạn h́nh như tác giả đă tự cho ḿnh được áp đặt cách giải thích riêng về những đoạn văn h́nh như mọi người đều tin tác giả Dhammapāla rơ ràng rằng đă xuất hiện sau  Buddhaghosa, dịch giả đă thường xuyên trích dẫn lầm giữa hai vị này (Ud-a 141 n 4) hay c̣n thêm vào một số chi tiết hết sức sai lầm (Ud-a 383 n 7) của  vị tiền nhiệm lỗi lạc này. Một điều đă không diễn ra nơi Dhammapāla có thể đă sử dụng những nguồn tư liệu tương tự  nhưng không phải những ǵ  Buddhaghosa đă sử dụng. Đối với một sự kiện có thật là chúng lại thuộc nhiều truyền thống bhāaka khác nhau, kết quả là, lúc nào cũng vậy tôi cảm thấy cần thiết phải chấp nhận cách giải thích chính xác hơn nơi những tập xuất bản khác, có rất nhiều cách giải thích, thực tế Woodward sử dụng, thường thấy xuất phát từ các nguồn đó “C” đó. Tuy nhiên loại chú giải nào thực sự không biết lư do rơ đă bị loại bỏ; có điều không thể tránh khỏi đó là, vấn đề này đă làm nổi lên rất nhiều chú giải đă ghi lại việc chấp nhận những cách chú giải và nếu không có những chú thích đó th́ các độc giả phương Tây, chỉ có thể tận dụng được bản dịch của Woodward, phải thất vọng v́ thiếu rất nhiều những tham khảo giữa bản dịch và bản văn hỗ trợ cơ bản.

Như đă khẳng định ngay từ lúc đầu, Phật Tự Thuyết là một tác phẩm rất khó và văn bản lại hết sức phức tạp đồng thời đ̣i hỏi các độc giả phải đạt đến hiểu biết Phật Pháp nhất định, hay một giai đoạn Phật Pháp có hệ thống tương đương với các vị trong Đại Thiền Viện ở thế kỷ thứ mười lăm. Tương tự nếu không muốn nói là ngang bằng. Có rất nhiều từ kỹ thuật, nhưng đơn giản chỉ được nói bóng gió sơ qua, và không được giải thích, theo cách cẩm nang bảo tŕ xe hơi thường làm vậy. Không có lời giải thích về các từ như “Bộ Chuyển Động”, “b́nh hứng dầu”, “tay quay” (maniven), “pít tông” và “ bộ chế hoà khí” v.v… với  giả định là độc giả đă có một số hiểu biết về các từ kỹ thuật này rồi, độc giả hẳn đă biết được các bộ phận nắm giữ chức vụ ǵ trong toàn cách vận hành của một hệ thống máy móc; và chính v́ một cuốn cẩm nang đó chỉ nhằm cung cấp thông tin cho những ai đă nắm được kỹ thuật máy móc xe hơi. Cũng như vậy “Tập Chú Giải” Dhammapāla cũng chỉ nhằm cung cấp thông tin cho những ai đă quen với hệ thống Phật Pháp và chỉ cần lướt qua nhưng không bao giờ được giải thích một cách đầy đủ.

Một cách mô tả trung thực và ngắn gọn nơi toàn hệ thống liên quan h́nh như đă không tiếp tục tồn tại trong suốt 1500 năm và tôi cũng không được chứng kiến bất kỳ một ấn phẩm nào, cho dù là bản văn hay bất kỳ nguồn gốc thứ yếu nào, để biết chắc một số điều căn bản vẫn tồn tại trong tập  Thanh Tịnh Đạo, nhưng những phần vụn vặt đó đă một thời là cấu trúc căn bản, cho dù có tản mác rải rác nơi nhiều tập chú giải khác nhau,  giờ đây chưa được thấy hay biến mất, không để lại bất kỳ dấu vết nhỏ nào liên quan đến những ǵ họ đă một lần nắm giữ trong toàn khối. Chính v́ thế nhiều lần chúng ta đă cố gắng nhận dạng các từ kỹ thuật khác nhau mà Dhammapāla đă lướt qua, ghi lại bất kỳ thông tin đáng tin cậy nào nơi các chú thích, cho dù phải ngăn chặn cái gọi là cách chú giải tràn lan một tập chú giải đă trở nên quá dài ḍng rồi. Một cách chính thức, tôi đă sử dụng các chú thích đó để lái độc giả đang quan tâm theo một hướng đúng đắn, hơn là hướng dẫn họ trong một “tua du lịch” đă được hướng dẫn; tuy nhiên, có điều thường xảy ra đó là, h́nh như tôi chỉ vẽ ra được phần trống và chính v́ thế có nhiều vị trí trong bản dịch vẫn là tạm thời và nhất thiết vẫn tồn tại cho đến khi nào xuất hiện những đoạn văn có một hệ thống được giải tŕnh rơ ràng. Có lẽ bản dịch tiếp theo đây về các tập chú giải và các īkā  được làm sáng tỏ.

Mặc dù tôi đă gợi ư tập chú giải này cũng giống như cuốn cẩm nang sử dụng xe hơi. Tuy nhiên, nó c̣n hữu ích hơn thế rất nhiều, v́ cùng một lúc vừa là một thành tựu văn chương và cũng là một thành tựu chứa đầy tính hùng biện nữa. Hay rất có thể từ “văn chương” có thể không phải là từ lựa chọn tối ưu ở đây, v́ cho dù được biên soạn dưới dạng một cuốn sách, dù sao chăng nữa Dhammapāla cũng đă vạch ra được các nhận định kết luận đó là: tập chú giải của ông đă chấp nhận ba mươi tư đoạn kinh tụng, như vậy đang khi nhắc nhở chúng ta một sự thật là: truyền thống Phật Giáo cơ bản luôn mang đặc tính truyền khẩu mà thôi và ngay cả sau khi bản văn đă được viết ra, kết quả công tŕnh đó dù sao cũng chỉ nhằm mục đích kinh tụng mà thôi, hay để nghe, hơn là để đọc một cách b́nh thản. Tuy nhiên  chúng ta cũng có thể nói là tập chú giải Pāli ở một mức độ nào đó những chú giải căn bản (cước chú thần học) cũng được khẳng định trước tiên, xung quanh đó các vị chú giải thêu dệt những ứng biến tín lư của ḿnh, đồng thời làm đẹp và nhấn mạnh chủ đề nguyên bản. Thí dụ, hăy so sánh Dhammapāla giải thích tập Phật Tự Thuyết căn bản (VIII. 6) sau đây:

“Những kẻ nào đă vượt biển đầy sóng gió, vượt thác ḍng chảy xiết. Sau khi một cây cầu đă được xây dựng, lại quên đi mất những chiếc đập nước nhỏ đang khi những người họ hàng thân thuộc đi chung trên một chiếc mảng, th́ họ cũng cùng nhau vượt qua đại dương vậy.” Như sau:

“ Đây là điều được nói tới: những ai vượt đại dương luân hồi đầy sóng gió, bao la mênh mông và sâu thẳm và ḍng thác ái dục, sau khi đă hoàn thành một cây cầu là thánh đạo họ lại quen mất chiếc đập nước nhỏ. Ngay cả không c̣n chú ư đến những chỗ trũng sâu hoắm chứa đầy nước.  Mặt khác những đoàn người này lại ước ao vượt qua con nước tầm thường, họ cùng làm một chiếc mảng, với biết bao cực khổ mới hoàn thành được. Những cư dân thông minh này đă vượt qua được, do họ được phú bẩm tính thông minh như thể hiểu biết liên kết với thánh đạo, có nghĩa là Chư Phật và đồ đệ của các ngài đă vượt qua và được thiết lập nơi bến bờ bên kia mà không phải dùng đến bất kỳ chiếc mảng nào cả.

Người ta cho rằng ít nhất một trong những mục tiêu của bản dịch là phản ánh được “toàn bộ những sắc thái nguyên bản, để cho độc giả cảm nghiệm được những phản ứng giống như được nghe họ đọc chính nguyên bản.” (K.R. Norman “viết về bản dịch từ tiếng Pāli”,  các bản nghiên cứu III. Tr. 60) đưa ra lời quả quyết này, thế nên tôi cố gắng giữ lại trong bản dịch, càng nhiều nhịp điệu bản nguyên tác càng tốt. Bao gồm nhiều câu kéo dài được chấm câu thành câu ngắn hơn và súc tích bao gồm có thể. Cũng như tôi có ư định tŕnh bày những điểm khó hiểu trong bản dịch, hơn là đem vào những thông tin thêm chèn trong ngoặc kép mà kết quả rất có thể trong bản dịch lại nói nhiều hơn hay nói ngược lại điều mà Dhammapāla cố ư đưa ra trong bản nguyên thủy. Tôi đoán chắc là ông sẽ làm như vậy, nếu như các độc giả đôi khi thấy bản dịch khó hiểu đây là điều tôi rất sợ sẽ xảy ra, v́ nguyên bản cũng rất khó hiểu nơi những đoạn đó; trong những trường hợp như vậy, tôi đề nghị dừng lại và nhớ lại một sự thật đó là bản văn  ngài đang chú giải đó, xét cho cùng cũng chỉ là một đoạn văn hùng hồn trong thực tế mà thôi và cũng chỉ là một đoạn kệ để tụng mà thôi; nếu như độc giả cố gắng thay v́ đọc bản dịch lớn tiếng lại đọc chậm chậm cho chính ḿnh nghe, dừng lại ở những vị trí thích hợp, các vị không những có thể khám phá ra bản dịch sẽ đem lại nhiều ư nghĩa hơn,  nhưng nó c̣n có thể đánh giá tốt hơn về nguyên bản mang ư nghĩa ǵ; hay nói cách khác, độc giả cũng có thể nghĩ tới khả năng đọc những đoạn trên như được trích những cuộc đối thoại thực sự, với một cách chú giải những cước chú Kinh Phật nơi những đoạn dài bằng cách chỉ nghiên cứu các từ viết nghiêng mà thôi.

Vẫn c̣n một mức độ khác đối với bản văn hùng hồn phức tạp, gồm có cả chính trị nữa. Cho dù bề ngoài xem ra có vẻ đơn giản, một tập chú giải chỉ nhằm giải thích nhiều từ khác ta bắt gặp. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể phát hiện ra nơi các đoạn đó đôi điều được gọi là “các nhân tố ẩn h́nh” Dhammapāla đă t́m cách chứng minh. Thông qua cách chú giải của ngài, các bản văn kinh điển được chú giải hoàn hảo lại hỗ trợ cho cả một hệ thống, tự bản thân đó cũng chính là điều  Đức Phật đă cố gắng động viên cổ vũ.

Để kết thúc, tôi c̣n muốn lưu ư độc giả một điều đó là tác phẩm Phật Tự Thuyết luôn là một tác phẩm rất khó dịch đồng thời đ̣i hỏi phải tuân thủ những qui định rất khắt khe trong khi dịch. Tác phẩm này được biên soạn do một người rất thành thạo các điều khoản giới luật khác nhau, kể cả triết học, thực tiễn văn phạm và ngôn ngữ học, chưa kể đến toàn bộ kho tàng văn hoá Ấn Độ hay ít nhất bao quanh ngài là những nhân vật dịch giả có thể đến để xin hỗ trợ thêm thông tin; không những vậy dịch giả ở thế kỷ hai mươi c̣n có được toàn bộ bản văn ngài chưa hề biết đến. Mục tiêu cuối cùng đă đạt đến do có hai nhân vật đă hào hiệp đáp lại lời kêu gọi trợ giúp, cụ thể là ngài Ole Holten Pind, là chủ biên cuốn tự điển chú giải Pāli (CPD), thông qua những trao đổi bằng điện thoại dài, ông đă giúp làm sáng tỏ một số khá nhiều các điểm, đặc biệt những ǵ liên quan đến ngữ pháp; người thứ hai đó là một Tỳ khưu đă chứng đắc giác ngộ, ông là một nhà sư người Mỹ đang sinh sống tại Sri Lanka và cũng là một vị Bồ Tát đích thực, ngài không những chỉ giúp tôi giải quyết một số lớn các vấn đề đáng quan tâm – cụ thể trong lănh vực truyền thống thực tiễn và chuyên môn, ngài c̣n tỏ ra hết sức vô tư và chỉ trong một thời gian ngắn ngủi ngài đă đọc xong và duyệt lại toàn bộ bản dịch của tôi trong phần chú giải cực kỳ khó khăn và cần đến chú giải về ba kinh đầu tiên (Ud-a 6=51).

Tôi phải hết ḷng chân thành cám ơn cả hai vị đó, cũng như cám ơn ban cố vấn Hội Thánh điển Pāli v́ những hỗ trợ thật quảng đại mà họ đă dành cho tôi, bằng cách trợ giúp một ngân khoản nghiên cứu trong suốt quá tŕnh công tác, và nếu không có sự trợ giúp này th́ bản dịch hiện hành sẽ chẳng bao giờ được ra mắt độc giả.

 

                                                 Peter Masefield

Sydney, tháng 12 năm 1993.