|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
CHƯƠNG BẢYTIỂU PHẨM1. BHADDIYA (1) [360] Kinh Phật đầu tiên trong Tiểu phẩm: đối với chàng lùn Bhaddiya (Lakuṇṭakabhaddiyaṃ [1]): liên quan đến vấn đề này, Bhaddiya chính là tên của vị Trưởng lăo đó; nhưng họ lại đặt tên giễu cho ngài là “chàng lùn Bhaddiya” do ngài có thân h́nh thấp nhỏ. Người ta kể lại rằng, là thần dân thành phố Sāvatthi, trưởng lăo Bhaddiya là người giàu có, có rất nhiều tài sản, (nhưng) do thân h́nh lùn thấp khiến ngài không mấy vui vẻ[2], với dáng vẻ xấu xí, khó coi, và lưng gù. Ngài đă xuất gia sau khi đạt được niềm tin vừa khi nghe giáo lư của Đức Phật, một ngày kia ngài đă đi đến thiền viện cùng với các cận sự nam, trong khi Đức Phật lưu lại tại khu rừng Jeta; trong lúc đó, sau khi ngài đă được thọ cụ túc giới, ngài đă quán triệt được đề mục thiền này trước sự hiện diện của Đức Phật và rồi đang khi tinh tấn tu luyện thiền minh sát, ngài đă chứng đắc thánh quả nhập lưu. Vào thời đó, sau khi đă trở thành sekhas hầu hết các vị Tỳ khưu đều phải đến gặp Trưởng lăo Sāriputta và yêu cầu được chỉ cho đề mục thiền để đạt tới thánh đạo cao hơn. Thấu triệt giáo lư Phật Pháp và đặt nhiều câu hỏi với ngài; sau khi đă đạt được những ước nguyện đó ngài phải tŕnh lại cho họ về đề mục thiền ḿnh đă nhận, diễn giải Phật Pháp và trả lời những câu hỏi đó, khi họ đang c̣n tu luyện và tự tham gia việc tu hạnh đầu đà, có một số đă chứng đắc thánh quả nhất lai, một số khác chứng đắc thánh quả bất lai, một số đạt thánh quả A-la-hán,[3] một số lại đạt được tam minh, một số đạt được sáu phép thần thông và một số đạt đến được bốn đạt thông[4]. Vừa nh́n thấy họ, chàng lùn Bhaddiya, giờ đă là một người có nhu cầu được huấn luyện, nhận ra rằng đă đến thời điểm[5] cho chính họ nữa, quán xét [6] tâm[7] sẵn sàng và tính khiêm tốn[8] đem lại, họ đă đi lại gặp vị Tướng quân chánh pháp[9] và rồi sau khi đă trao đổi lời chào hỏi với nhau, sau khi đă chào đón, vị trưởng lăo đă yêu cầu được nhận giáo lư Phật Pháp, ngài cũng đàm đạo Phật Pháp[10] với ngài phù hợp với khả năng hiểu biết của ngài; v́ lư do đó có lời nói rằng. “và vào dịp đó vị trưởng lăo Sāriputta đă chỉ định cho trưởng lăo Bhaddiya, chàng lùn bằng vô vàn vô số cách trong cuộc thảo luận Phật Pháp đó.” v.v… [361] Về điểm này: Bằng vô vàn vô số cách (anekapariyāyena): bằng nhiều cách, tức là “chính v́ vậy ngũ uẩn đều vô thường, kể cả đau khổ, kể cả vô ngă.” Với cuộc đàm đạo Phật Pháp (dhammiyā kathāya): với cuộc đàm đạo Phật Pháp đă khiến nổi lên sanh diệt v.v…ngũ thủ uẩn (upādānakhandhas). Đang chỉ ra cho thấy : sandasseti = sammā [11] dasseti (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới dạng[12] ngữ pháp khác) những đặc tướng về vô thường v.v… nơi các ngũ uẩn đó và bản chất phải trải qua sanh và diệt được chỉ rơ: trước tiên những điều này như đang nắm lấy ngài bằng chính cánh tay.[13] Khiến cho ngài trưởng lăo tiếp tục: samādapeti = sammā ādapeti (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới dạng ngữ pháp khác) nhập thiền minh sát, lấy các đặc tướng đó làm đề mục thiền, khiến cho ngài chấp nhận chính những đề mục thiền đó ngay từ lúc thực hiện vừa hoà nhập với đám đông trên đường[14]. Khiến chúng trở nên sắc xảo (samuttejeti): khiến trí minh sát của ngài trở nên sắc sảo (sammā uttejeti, thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới dạng ngữ pháp khác): bằng cách ảnh hưởng đến trạng thái trong sáng rơ ràng[15] nơi các căn của ngài, thanh tịnh hoá[16] chúng bằng cách khiến chúng trở nên trong sáng rơ ràng, theo cách thức đó, sau khi ngài biến việc hành thiền của ḿnh đi theo trung đạo bằng cách tinh tấn liên tục các giác chi, kết quả là ngài đă nhận định vấn đề một cách dửng dưng[17] vô tư, khi thời điểm cần thiết để tán thành hay phê phán liên quan đến tính chất sanh diệt v.v…[18] nơi các hành như chúng tự xuất hiện tiếp theo sau nhập thiền minh sát sơ đẳng, tuệ quán thiền minh sát của ngài, giờ đây đă trở nên dũng mănh và trong sáng, có thể tự chịu đựng một cách tự nhiên[19]. Khiến dựng tóc lên do bị kích động (sampahaṃseti): khiến cho tâm xao động lên do bị kích động (sammā pahaṃseti, thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới dạng ngữ pháp khác) do kết quả việc tu luyện đó được duy tŕ cùng với thiền minh sát hiện vào lúc này đă khiến xuất hiện theo cách đó và cũng là kết quả do sức mạnh tu luyện ngài đă đạt đến sau này.[20] Nói cách khác khiến cho tâm ngài hoàn toàn sảng khoái là do kết quả đem lại hương vị ngọt ngào đó. Tâm ngài được giải thoát khỏi các phiền năo bằng cách không chấp thủ (anupādāya āsavehi cittaṃ vimucci): bằng bất kỳ cách nào vị tướng quân chánh pháp cũng diễn giải Phật Pháp, theo cùng một cách do thực chất là trí của ngài đă được trưởng thành do kết quả của uy lực giáo lư của Đức Phật đem lại, về phía vị trưởng lăo, ngài đă đạt được thiền minh sát, đă thâm nhập vào bản chất đích thực nơi những đặc tướng[21] đó, và do chính chứng đắc đầy tiềm năng của ngài, sau khi đă đoạn tận được hết các dục lậu, tâm ngài đạt được v.v... và khi trí của ngài liên tục phát triển phù hợp với giáo lư đó, chính ngài đă được giải thoát trong suốt quá tŕnh theo đuổi thánh đạo[22] không dư sót bất kỳ điều ǵ, có nghĩa là ngài chứng đắc thánh quả A-la-hán. Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm tra vấn đề này dưới mọi góc độ, chính là chứng đắc thánh quả A-la-hán,[23] về phía vị trưởng lăo Bhaddiya người lùn, đă khiến nổi lên Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ vấn đề đó. Về điểm này: Ở phía trên (uddhaṃ): xuất phát từ giới (thuộc cơi) sắc giới cho đến giới (thuộc cơi) vô sắc giới. Ở phía dưới (adho): xuất phát từ giới (thuộc cơi) dục giới [24]. Dưới mọi khía cạnh (sabbadhi): do liên quan đến bất kỳ điều ǵ có dính líu đến các hành. Được đoạn tận hoàn toàn (vippamutto): giải thoát bằng mọi cách thông qua giải thoát bằng chế ngự, ngay trong giai đoạn trước khi đạt đến thánh đạo[25] và bằng cách giải thoát thông qua triệt hạ đến tận gốc và giải thoát thông qua chỉ tịnh vào giai đoạn tiếp theo sau (chứng đắc[26] thánh đạo), và liên quan đến vấn đề này nhờ có điều “đoạn tận hoàn toàn ở trên”, đoạn tận được năm hạ phần kiết sử [27] [362] đang khi đó bằng thông qua cách này “dưới mọi khía cạnh đây là điều đă được đoạn tận hoàn toàn” ngài chỉ rơ cho thấy việc đoạn tận toàn bộ những pháp bất thiện c̣n sót lại[28]; hay nói cách khác, “ở trên” bao gồm cả thời gian sắp diễn ra, “ở dưới” lại bao gồm cả thời gian đă trôi qua; trong khi đó bằng cách bao gồm cả hai khoảnh khắc hiện tại cũng được gộp lại trong đó. Liên quan đến thời gian hiện tại lại nối cả hai khoảnh khắc đó lại với nhau; nhờ bao gồm vào điểm này khoảng thời gian sắp diễn ra th́ bao gồm cả ngũ uẩn, các xứ và các giới[29] sắp sửa diễn ra, đây cũng chính là phương pháp trong đó gồm cả các từ c̣n lại nữa. Dưới mọi góc độ (sabbadhi): liên quan đến toàn bộ hữu bắt đầu với cách phân loại dục hữu[30], đây chính là những ǵ đă được đề cập đến: “Đă giải thoát hoàn toàn liên quan đến toàn bộ hữu bao gồm cả ba thời [31], tức là tương lai, quá khứ và hiện tại.” Do thiếu tùy quán về “Chính ta đây” (ayam ‘ham asmī ti anānupassī) : người nào đă được giải thoát hoàn toàn như vậy, bắt buộc sẽ có thể tùy quán như vậy, do ảnh hưởng của ngă mạn tà kiến và si mê liên quan đến sắc uẩn và thọ uẩn v.v…cho rằng “ta chính là vật này” việc ám chỉ ở đây có nghĩa là nguời đó không có lư do ǵ nhận diện (pháp)[32] bằng cách này; hay nói cách khác, người này thiếu tùy quán về “chính ta đây” là cách giải thích làm rơ ư nghĩa việc chứng đắc giải thoát nói đến ở trên, v́ chính thiền minh sát sẽ dẫn ta thoát khỏi giai đoạn trước (chứng đắc thánh đạo) đó và thánh đạo này nổi lên sau khi quán xét làm rơ sự bất lực[33] của ngă mạn gồm chính bản chất là điều đang tiến hành theo cách “chính là của ta”; “đây chính là ta” là điều ta gọi là ngă của ḿnh.” Liên quan đến các hành thuộc tam giới bao gồm nơi ba thời (cũng chính là điều ta coi là “đây chẳng là của ta”, “đây chẳng phải là ta”; “chẳng phải điều dành cho bản ngă của chính ta” đă tạo thành nguyên nhân sâu xa để được giải thoát. Người nào được giải thoát như vậy, đă vượt qua khỏi bộc lưu, trước đó chưa vượt qua được, nhờ đó ta thoát khỏi tái sanh. (evam vimutto udatāri oghaṃ atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāya) người nào, được giải thoát bằng mọi cách như vậy, mà thoát khỏi mười kiết sử (fetters) và tránh xa mọi pháp bất thiện, trở thành vị A-la-hán do kết quả chứng đắc thánh đạo mà ra, sẽ khởi xuất khỏi (udatāri= uttiṇṇo [34], một dạng ngữ pháp khác, bốn bộc lưu, tức là dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu; hay nói cách khác đây chính là bộc lưu trong ṿng luân hồi vậy.Chưa vượt qua được trước đó ngay cả chỉ trong ước mơ[35] bằng cách đó mà thoát khỏi tái sanh tiếp theo, bằng cách đó mà níp bàn là điều chẳng c̣n bất kỳ sanh y sót lại, có nghĩa là sau khi ngài đă vượt qua được những bộc lưu đó, lúc đó ngài có thể đứng thẳng nơi bến bờ bên kia. Việc diễn giải Kinh Phật đầu tiên kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Chú giải Be giải thích là Lakuṇḍakao; xin đọc chú giải Ud. [2]. Apāsādiko; xin đọc chú giải Ud-a 368 dưới đây. [3]. Chú giải Ce Se giải thích là arahattaphalaṃ c̣n bản văn Be ghi là arahattaṃ. [4]. Xin đọc chú giải Ud-a 136tt ở trên. [5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kālaṃ c̣n bản văn ghi là okāsaṃ, có nghĩa là cơ hội. [6]. Chú giải Ce Se giải thích là sallakkhetvā, có nghĩa là được ghi nhận, c̣n bản văn Be ghi là paccavekkhitvā. [7]. Xin đọc chú giải Ud-a 283 ở trên. [8]. Chú giải Se bỏ qua. [9]. Sāriputta. [10]. Dhammīkathaṃ; chú giải Ce Be giải thích là kathaṃ, Se giải thích là dhammaṃ. [11]. Ce Se Be cũng giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là dhammā. [12]. Xin đọc chú giải Ud-a 242 ở trên và chú thích trong đó về điều này và các từ tiếp theo. [13]. Xin đọc chú giải Ud-a 286 ở trên. [14]. Chú giải Be giải thích là yathā vīthipaṭipannā c̣n bản văn Ce ghi là yathāvīthipaṭipannā, chú giải Se giải thích là yathā vīthipaṭipannaṃ. Điều này h́nh như có liên quan đến trí đầu tiên trong tám trí gồm có hành tri kiến thanh tịnh (paṭipadāñāṇa-dassanavisuddhi),Về điểm này xin đọc trong Thanh Tịnh Đạo 639tt (tuy nhiên trong đó Ñāṇamoli giải thích từ vīthipaṭipanna (Ppn 745. 747) kiên định nơi tiến hành đó” nhưng xin đọc thêm chú giải Ud-a 226 ở trên trong đó cùng một từ lại được giải thích là “gia nhập vào tiến hành” ư nghĩa này được sử dụng theo nghĩa ít chuyên môn hơn). Cũng xin đọc thêm Ud-a 397 ở trên. [15]. Xin cũng đọc chú giải Ud-a 190 ở trên trong đó chánh niệm cũng được cho là đă trở nên rơ ràng và sắc bén. [16]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vodapeti c̣n bản văn ghi là codāpeti, có nghĩa là thôi thúc, kích thích v.v… [17]. Chú giải Be Se giải thích là osamupekkhanehi c̣n bản văn Ce lại ghi là osamupekkhanena hi. [18]. Chú giải Be Se giải thích là udayabbayādīsu c̣n bản văn Ce ghi là udayabbayesu. [19]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sūraṃ pasannaṃ hutvā vahati c̣n bản văn ghi là suvipassannaṃ hutvā pavatteti; xin đọc chú giải Ud-a 191 ở trên. [20]. Ce Be Se giải thích là upariladdhabbabhāvanābalena c̣n bản văn ghi là upariladdhabbhāvanābalena. Xin đọc chú giải D iii 213 và Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 53 về sức mạnh tu luyện (bhāvanābala): cũng xin đọc thêm DA 982 trong đó có giải thích là thất giác chi dưới tiêu đề tinh tấn, và việc tu luyện liên tục các pháp thiện) và AA ii 98 (lại giải thích là sức mạnh phát triển (brūhanabala), sức mạnh gia tăng (vaḍḍhanabala). [21]. Chú giải Ce Be giải thích là tathalakkhaṇaṃ c̣n bản văn ghi là tathālakkhaṇaṃ, Se giải thích là yathālakkhaṇaṃ. [22]. Xin đọc chú giải Ud-a 206. [23]. Chú giải Ce Be Se giải thích là aññārādhanasaṅkhātaṃ c̣n bản văn ghi là aññārocanasaṅkhātaṃ; trong MA iii 193 giải thích về tập Trung Bộ Kinh (M) i 479 lại giải thích là arahatte patiṭṭhānaṃ, thiết lập nơi A-la-hán. [24]. Xin đọc chú giải Vibh 404tt. [25]. Chú giải Be Se giải thích là pubbabhāge c̣n bản văn Ce ghi là pubbabhāgena. [26]. Xin đọc chú giải Ud-a 32 đề cập đến những cách giải thoát này. [27]. Ư muốn nói là, năm thượng phần kiết sử đă cột chúng ta lại ở trên, nơi cơi sắc giới và cơi vô sắc giới, và năm hạ phần kiết sử cột chúng ta ở dưới nơi cơi dục giới, vị bất lai đă diệt trừ hạ phần kiết sử , vị nhất lai và vị nhập lưu cũng bị ràng buộc một phần như vậy, c̣n vị A-la-hán th́ được thoát khỏi cả hai loại này. [28]. Chú giải Ce Be Se giải thích là osabbākusalao c̣n bản văn ghi là osabbakusalao [29]. Xin đọc chú giải Ud-a 207 để biết thêm chi tiết; với danh nghĩa là một vị A-la-hán lẽ đương nhiên Bhaddhiya đă thoát khỏi những uẩn thuộc về tương lai, v.v… [30]. Các cơi khác là cơi sắc giới và cơi vô sắc giới. [31]. Xin đọc chú giải Ud-a 278 ở trên để biết thêm những chi tiết tương tự. [32]. Chú giải Ce Be Se giải thích là dassane kāraṇaṃ c̣n bản văn ghi là otaraṇaṃ. [33]. Anadhiṭṭhānaṃ katvā; biến công việc đó không c̣n có khả năng áp đặt việc thu thúc đối với những suy tư của chúng ta nữa. [34]. Ce Be Se giải thích là uttiṇṇo c̣n bản văn ghi là otiṇṇo. [35]. Xin đọc chú giải Ud-a 191 ở trên để biết thêm những chi tiết giống nhau. |
|