NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. YASOJA

Trong Kinh Phật thứ ba: có Yasoja lănh đạo (yasojappamukhāni): về việc này, Yasoja[1] là tên của vị Trưởng Lăo đó; trong khi đó năm trăm vị Tỳ khưu được cho là  “có Yasoja lănh đạo” thực tế là Yasoja đi trước họ khi họ xuất gia và rồi sau đó họ đă du hành khắp nơi. Đây chính là mối liên kết trước kia của họ.

Người ta kể lại[2] rằng trong quá khứ có một vị Tỳ khưu an trú trong giáo Pháp của vị Như Lai Thập Lực Kassapa đang trú ngụ trong một hang động lợp bằng lá trên một chỏm đá nhô lên khỏi mặt đất; và vào dịp[3] đó, có năm trăm kẻ trộm đang sống bằng số tiền thu được do việc trộm cướp đem lại, bằng cách lục soát các làng mạc v.v… đă chạy vào trong rừng đang khi họ bị dân chúng trong làng rượt bắt, sau khi họ đă thực hiện hành vi trộm cướp; không t́m thấy bất kỳ một cánh rừng rậm nào hay một nơi trú ngụ nào khác trong đó. Không xa lắm bọn cướp đă nh́n thấy một vị Tỳ khưu đang ngồi trên tảng đá, chúng kính lễ chào ngài thông báo cho ngài về biến cố vừa xảy ra, và năn nỉ ngài nói rằng “Ngài phải là nơi nương nhờ cho chúng tôi, thưa ngài.” vị Trưởng lăo nói, đối với các ngươi chẳng có nơi nương nhờ nào giống như giới luật cả, tất cả các ngươi hăy thọ tŕ ngũ giới đi.” “Tốt lắm” chúng đồng ư, thế rồi cùng nhau thọ tŕ giới luật. Vị trưởng lăo thông báo cho bọn chúng về phương pháp (chủ trương) trong chuyện dụ ngôn Cái Cưa (Trung Bộ Kinh (M) i 129) nói rằng, “Giờ đây các ngươi đă thiết lập nơi giới luật, các ngươi không được gây ra thù oán[4]trong tâm[5] ngay cả khi chúng đang kết liễu chính cuộc sống của các ngươi” “được lắm” họ đồng ư. Thế rồi những người nông thôn cũng đă đuổi kịp đến địa[6] điểm đó và đang đi t́m bọn cướp khắp nơi đó[7] họ nh́n thấy bọn cướp và đă giết hết bọn chúng. Không gây ra bất kỳ mối thù nhỏ nào trong tâm đối với các cư dân đồng quê đó. Họ đă mạng chung với giới luật không gián đoạn và đă tái sanh trong số các chư thiên thuộc cơi dục giới.[180] Tên trộm lớn tuổi nhất trong bọn chúng trở thành vị devaputta[8] lớn tuổi nhất, số c̣n lại trở thành những người trong đoàn tùy tùng. Đang khi luân chuyển liên tục, chúng đă trải qua một Phật Kỳ trong cơi Trời (devaloka), rời khỏi cơi trời vào thời Đức Phật của chúng ta với vị devaputta lớn tuổi nhất tái sanh thành con trai của một ngư phủ là người cao tuổi nhất trong làng gồm có năm trăm gia đ́nh[9] trong một ngôi làng thuyền chài ngay cổng thành Sāvathi.  Họ đặt tên cho người này là “Yasoja” cũng như những người c̣n lại đều tái sanh thành con trai của những ngư phủ c̣n lại. Nhờ việc sống chung trước đó tất cả họ đă trở thành bạn với nhau và khi họ chơi chung với nhau trong tṛ chơi “làm bánh bùn”[10] nhằm lúc đă đến tuổi trưởng thành, có Yasoja làm thủ lănh. Tất cả họ đă gia nhập một đoàn quân đánh lưới và đi lang thang đó đây bắt cá[11] trong các sông ng̣i và đầm lầy v.v… thế rồi một ngày kia. Khi có người quăng lưới xuống con sông Aciravati, có một con cá vàng bị vướng vào lưới[12] vừa nh́n thấy con cá tất cả họ đều vui mừng hoan hỷ và hoàn toàn toại nguyện nghĩ rằng: “Con trai của chúng ta, đang khi bắt cá, đă bắt được một con cá vàng” thế rồi năm trăm bạn hữu sau khi đă đưa con cá lên thuyền, nâng chiếc thuyền lên và rồi chỉ cho nhà vua thấy con cá đó. Vừa được chứng kiến điều này, nhà vua suy nghĩ, “Chắc Đức Phật phải biết lư do tại sao con cá của chúng ta lại có màu[13] vàng,” nhà vua truyền bắt[14] con cá và đưa cho Đức Phật, Bậc Đạo Sư nói rằng “người này đă xuất gia khi giáo lư của Bậc Chánh Đẳng Giác Kassapa đang suy tàn, đă tu luyện sai[15] đă khiến cho giáo lư đó ngày càng suy tàn thêm, đă tái sanh trong hỏa ngục, bị nướng đỏ[16] trong hỏa ngục đúng một Phật Kỳ, và rồi đă diệt từ đó, và đă tái sanh thành một con cá trong địa ngục Aciravati”,và rồi để cho cùng người đó lên tiếng[17] về một thực tế là mẹ của người đó và chị cũng được tái sanh trong địa ngục và về thực tế là em trai của Trưởng lăo đă đạt đến vô dư níp bàn, và với điều đó như một vấn đề nổi lên rồi ngài diễn giải Kinh Phật Kapilasutta (Sn 274-283). Khi họ nghe Đức Phật diễn giải, toàn bộ năm trăm người con trai các ngư phủ đă bị động tâm, họ liền xuất gia trước sự hiện diện của Đức Phật, họ đă được thọ cụ túc giới và (tiếp theo sau đó) họ đă cư ngụ[18] ở những nơi cư trú riêng biệt, đă xuất hiện[19] nhằm mục đích nh́n thấy Đức Phật, v́ lư do đó có lời nói rằng: “Hỡi các vị Tỳ khưu, vào dịp đó, có tới năm trăm người cùng với Yasojja đứng đầu” v.v…Về điểm này:

Các[20] (vị Tỳ khưu viếng thăm) đang nói tới: ’dha = te idha (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Cư dân (nevāsikehi): cư trú thường xuyên tại một nơi trú ngụ (nibaddhavāsa vasamānehi[21]). Trao đổi lời chào lẫn nhau (paisammodamānā): những lời chào kéo dài, chào trở lại, chào lẫn nhau như thể “Vâng, tôi đồng ư, bạn hữu ơi,” v.v… khi bằng một lời chào đón (paisanthāra)  như thể “ta tin tưởng bạn hữu ơi, bạn đang ủng hộ ta” v.v…những lời chào lẫn nhau (sammodanāya) [22] đă được kéo dài do các vị Tỳ khưu đang cư ngụ tại đó, liên quan đến[23] lời chào[24](moda) thường được thực hiện cùng với lời chào của họ. Sửa soạn nơi trú ngụ (senāsanāni paññāpayamānā): [181] và đang sửa soạn (paññāpentā, một dạng ngữ pháp khác) (nơi cư trú cho họ) bằng cách chỉ định cho họ v.v… phù hợp với vị trí của từng người. Sau khi họ đă yêu cầu cho nơi cư trú có thể có dấu riêng.[25] Dành cho các thiền sư, các thầy giáo, và cho chính họ, để cho các vị Tỳ khưu có nơi cư trú, đề cử những nơi cư trú cho họ nói rằng, “Căn pḥng này có dấu dành cho các vị thiền sư của các ngài, cho các thầy dạy và cho chính họ nưa” hăy tự đến đó mở cửa và rèm che,[26] lấy giường ra, dụng cụ đồ dùng, lấy thảm ra v.v…[27] hăy vệ sinh sạch sẽ[28] cất bát khất thực và y cà sa (pattacīvarāni paisāmayamānā [29]); sau khi đă bảo họ canh chừng đồ đạc của vị sa môn như vậy: “Thưa ngài, làm ơn để bát khất thực này[30] của ta, chiếc y cà sa này[31] của ta, chiếc cốc vại này, chiếc b́nh nước này, chiếc gậy của ta.”. [32] tiếng nói to, có tiếng lớn (uccāsaddā mahāsaddā): một tiếng động lớn[33](ucco) hiểu theo nghĩa có tiếng động vang lên[34](uddhaṃ)  những người nào tạo ra tiếng động đó, sau khi đă biến đổi vần a thành ā; (đang khi đó) một tiếng động lớn[35] hiểu theo nghĩa tiếng động đó trải ra[36] khắp tứ phía nhờ có họ mà có những tiếng động to lớn đó. Các ngư phủ, đối với tôi, là những người (như vào thời điểm) cá bị náo động (kevaṭṭā maññe macchavilope): giống như các ngư dân là vậy. (vào thời điểm cá bị náo động (macchavilumpane) ngài chỉ cho thấy rằng chính v́ các ngư dân, những con cá mắc bẫy đă có cái tên là “ngư phủ” (kevaṭṭā) v́ chúng di chuyển (vaṭṭanato [37]) nổi lên trên mặt nước (udake) chúng di chuyển như vậy nhằm mục đích bắt cá. Sau khi đă thả lưới[38] trên mặt nước nhằm bắt cá. Với những tiếng động lớn, tiếng nói to, bằng cách “cá có vào, không vào, bị bắt, không bị bắt” v.v… và chính v́ ở nơi có các giỏ cá v.v…được định sẵn mà có tiếng động lớn, tiếng nói to, khi người ta đến đó tạo ra những xáo trộn (vilumpamāne) nói rằng “Hăy cho tôi con cá; cho tôi một sâu cá[39]!  Một con cá cỡ bự như vầy như vầy đă đưa cho hắn; c̣n tôi lại được một con cá nhỏ xíu!” v.v…cũng bằng cách từ chối[40] giống vậy v.v…, chính v́ thế[41] các vị Tỳ khưu này cũng giống vậy. Các vị Tỳ khưu này: (te ’te[42]=te ete) (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Tại sao: kin nu = kissa nu (một dạng ngữ pháp khác). Nhằm đem lại lợi ích cho ai?  Cũng cùng những thứ này: te ’me = te ime (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Ta xua đuổi (paṇāmemi): ta ném chàng ra ngoài. Chàng: vo = tumhe [43] (một h́nh thức ngữ pháp khác). Nhà ngươi không được cư trú trong vùng lân cận với ta: na vo mama santike vatthabbaṃ [44]= tumhehi mayhaṃ santike na vasitabbaṃ (một dạng ngữ pháp khác) ngài giải thích nhà ngươi đang đến một nơi là nơi cư trú của một Đức Phật giống như ta, lại tạo ra một tiếng động to lớn đến vậy, làm sao nhà ngươi đang khi chỉ cư trú theo đúng luật lệ của nhà ngươi[45] lại có thể làm được điều ǵ tốt lành chăng? Không cần phải có những người giống như nhà ngươi cư trú[46] trong vùng lân cận với ta, và đang khi bị Đức Phật khiển trách như vậy, chẳng có bất kỳ vị Tỳ khưu nào trong số họ [182] lại cất tiếng nói “Ngài xua đuổi chúng con ư, thưa Đức Thế Tôn[47]? Chỉ v́ có những tiếng động lớn đó thôi sao?” hay bất kỳ câu trả lời nào khác; hầu như tất cả, xuất phát từ ḷng kính trọng Đức Phật, đă đồng ư làm theo lời của Đức Phật, nói rằng “Mong rằng được như vậy Đức Thế Tôn” và rồi họ bỏ đi. Hơn  thế nữa, cũng có điều xảy ra với họ là “Chúng ta đă tới, nghĩ rằng chúng ta sẽ được chứng kiến Bậc Đạo Sư, nghe Phật Pháp, cư ngụ tại vùng phụ cận với ngài đạo sư. Nhưng sau khi đă đi đến nơi vùng phụ cận[48] với Đức Phật, là Bậc Đạo sư của thầy guru đại loại như vậy. Chúng ta tạo ra tiếng động lớn. Lỗi chỉ tại ở chúng ta mà thôi.[49] Chắc hẳn chúng tôi bị đuổi ra khỏi đó là đúng; chúng tôi không được phép cư trú trong vùng phụ cận với đạo sư để chiêm ngắm thân vàng ngọc của ngài, nhằm tạo cảm hứng cho ḷng sùng mộ đối với tất cả mọi người về Ngài. Để được nghe Phật Pháp với giọng ngọt ngào của Ngài diễn giảng.” Giống như những người tràn đầy buồn chán vô vọng, họ đă từ biệt. Bị tống khỏi (sasāmetvā): được an toàn[50]. Những người Vajjians (Vajjī): một quốc gia có tên như vậy, “Những Vajjians” là tên của các vị hoàng tử sở hữu quốc gia này; bằng cách mở rộng ra, nơi cư trú của họ; cho dù chỉ là một quốc gia duy nhất nhưng lại được nói tới một cách đơn giản là “những người Vajjians” v́ lư do đó có lời nói rằng, “Trong số những người Vajjians”.Vaggumudā (vaggumudā) một con sông duy nhất có tên như vậy được cho là một nguồn công đức[51] dành cho cơi đời này. Vaggamudā [52] cũng là một cách giải thích. Nhờ vào ḷng ước ao hạnh phúc cho chúng sanh (atthakāmena): thông qua một ước muốn duy nhất là hạnh phúc cho chúng sanh, không có dây nhợ ràng buộc[53]. Do con người t́m kiếm hạnh phúc cho chúng sanh (hitesinā): do một con người ước muốn hạnh phúc cho chúng sanh, do một con người có bản chất t́m kiếm hạnh phúc cho chúng sanh, được coi như chính hạnh phúc của chúng ta vậy; hay nói cách khác[54] đó là điều tạo thành nguyên nhân mối hạnh phúc đó, tức là. “Giờ đây làm thế nào những đệ tử của ta được giải thoát khỏi đau khổ ṿng luân hồi?” Chỉ do có một điều duy nhất mà thôi đó là nhờ vào con người có ḷng bi mẫn (anukampakena) [55] nhờ người đó có ḷng bi mẫn do từ bỏ, không kể đến những đau khổ nơi thân của ḿnh, ngay cả ở cách xa sự hiện diện của những người nào có khả năng được hướng dẫn. Nhờ vào chính ḷng đại bi đó, chúng ta đă bị xua đuổi, không phải thông qua bất kỳ chờ đợi được phục vụ nào v.v… cho chính ḿnh. V́ Chư Phật, Thiện Thệ tôn kính Phật Pháp, là những người chỉ được tôn thờ bằng những việc làm đúng đắn, xua đuổi ngay cả những ai chỉ tạo ra một tiếng ồn lớn, chính v́ thế, tốt lắm, hỡi các chư  huynh, chúng ta phải sắp xếp nơi đứng của chúng ta theo cách thức đó,  đó chính là bằng cách hoàn thành điều ǵ đó, chỉ duy nhất là điều thực hành chắc chắn do việc liên kết với chánh niệm và tỉnh giác, nhằm tạo ra cách đạt đến tột đỉnh đề mục thiền phù hợp với cách thức ta hiểu được (đề mục thiền đó), mà chúng ta phải sắp xếp dáng đứng của chúng ta, chúng ta phải lưu lại, nơi mỗi oai nghi, trong số bốn oai nghi về thân vậy, đó là, đang khi chúng ta c̣n đang lưu lại tại oai nghi đó (yathā  no [56] virahata = yathā amhesu viharantesu, là một dạng ngữ pháp khác), mong rằng Đức Phật cảm thấy sảng khoái trong ḷng, có thể trở thành vui sướng bằng cách tôn thờ đó dưới dạng những việc thực hành đúng đắn, đây chính là ư nghĩa[57] muốn nói đến ở đây. Đang khi c̣n ở giữa mùa an cư kiết hạ (lưu lại trong cuộc nghỉ mùa mưa): ’ ’  antaravassena= tasmiṃ yeva antaravasse (một dạng ngữ pháp khác) [183] hầu như trước khi nghi lễ [58] tự tứ đă qua đi. Toàn bộ đều chứng đắc ba minh (’ eva tisso vijjā sacchākasu) : toàn bộ năm trăm vị Tỳ khưu tự bản thân trước tiên đă thực thi tam minh này – tức là trí về túc mạng minh[59], trí về thiên nhăn minh, và trí về lậu tận minh, đó chính là những trí hiểu theo nghĩa phá vỡ (vinivijjhana) những khối lượng si mê v.v...che khuất các uẩn trước đó c̣n đang tồn tại trong đó. Nhóm ba trí này một ḿnh đă chọn ra được trong mối tương quan này, như cách chỉ định rơ chứng đắc nơi các vị Tỳ khưu này. Với mục tiêu chỉ ra cho thấy điều đó, ở nơi nào các thắng trí c̣n có ảnh hưởng[60] một ḿnh hai thắng trí này có thể phụ giúp rất nhiều cho lậu tận minh không giống như thiên nhĩ thông, hoá tâm thông và biến hoá thông. V́ trong Kinh Phật Verañjasutta (Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 172tt [61] Đức Thiện Thệ đang khi chỉ rơ cho thấy chính việc đắc đạo của ḿnh cho thầy Bà la môn Verañjā. Cũng giống như vậy chỉ có tam minh được diễn giải[62], mà không hàm chứa việc thiếu vắng những trí liên quan đến thiên nhĩ thông v.v…[63] Chính v́ thế các trí liên kết với thiên nhĩ thông v.v… cho dù được biết vẫn tồn tại đối với các vị Tỳ khưu này, cũng đă được chọn ra (ở đây nữa) v́ đây là những vị Tỳ khưu thành tựu được tất cả sáu thắng trí, và giả như điều này là như vậy, chính v́ cách sử dụng sức mạnh này về phía những vị Tỳ khưu này là điểm ta đang đề cập đến, tức là. “ chính v́ thế mà họ đă biến khỏi bờ sông Vaggumuda và lại xuất hiện trở lại  trước  Đức Phật, ngay trong sảnh đường có đầu hồi (Gabled House) trong cánh rừng lớn”.

Ngay khi vẫn c̣n duy tŕ hoan hỷ[64] của ḿnh: yathābhiranta = yathābhirati[65] (một dạng ngữ pháp khác): bao lâu ngài vẫn cảm thấy sẵn sàng như vậy. V́ khi Chư Phật cư trú tại một nơi đặc biệt nào đó, chẳng có sự ǵ có thể gọi là làm tan ảo mộng được [66], tỉnh ngộ được cho dù có thiếu bóng mát hay nước, những chỗ cư trú không tiện nghi hay thiếu niềm tin v.v… về phía con người, cũng chẳng có. Liên quan đến sự đắc đạo của họ, cũng chẳng có cuộc lưu lại lâu (do họ tới một nơi nào đó) nghĩ rằng, “Ở đây chúng ta đang lưu lại một cách thoải mái [67], hơn là ở bất kỳ nơi đâu  Đức Phật đang lưu lại, th́ con người ta được thiết lập với nơi nương tựa, hay thọ tŕ giới (hay[68]) xuất gia hay[69]chứng đắc thánh đạo nhập lưu v.v…(tại nơi đó[70]) Bậc đạo sư trụ lại chỉ nhằm mục đích thiết lập cho họ được những chứng đắc đó[71], nơi nào thiếu điều đó, th́ ngài liền từ biệt mà đi; v́ vào thời đó chẳng c̣n nhiệm vụ nào dành cho một Đức Phật phải thực hiện tại Sāvatthi cả, v́ lư do đó có lời nói rằng: thế rồi Đức Phật đă lưu lại tại Sāvatthi bao lâu tùy ngài thích,  và rồi ra đi về hướng Vesāli”. Đang khi c̣n du hành[72] đây đó (cārika caramāno): trong khi c̣n thực hiện những chuyến đi dài, và những chuyến du hành của Đức Phật được cho là gồm hai loại: du hành được thực hiện vội vàng, và du hành một cách tản nhàn chậm răi. Về điểm này, cuộc ra đi th́nh ĺnh ngay khi vừa nh́n thấy một người nào đó có khả năng đạt đến giác ngộ, mặc dù c̣n cách rất xa; với mục tiêu giúp cho người đó được khai sáng,  chính là du hành “với nhịp điệu vội vàng.”; loại du hành này, được coi như trong trường hợp ngài ra đi để gặp Mahākassapa v.v…[73]; ngược lại các cuộc du hành[74] (trong đó) ngài thực hiện hàng ngày đi vào khoảng một hay hơn một do tuần (yojanas)[75] đến một ngôi làng, một khu chợ, tới một thị trấn hay thành phố, và tới hoàng cung liên tiếp, trợ giúp[76] thế gian qua việc Ngài vân du khất thực v.v… được coi như là “du hành cách nhàn hạ chậm răi” cũng giống như vậy trong trường hợp hiện giờ[77] ta đang đề cập tới. Đi tới đó: tadavasari= tena avasari (đi tới nơi bằng những cách đó); hay nói cách khác tadavasari = taṃ avasari (tới được nơi đó) (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Đi tới chỗ đó[78], có nghĩa là vào trong đó. [184] Ở tại nơi đó (tatra): tại nơi đó. Sudaṃ (không dịch) chỉ là một tiểu từ mà thôi. Tại Thành phố Vesāli (Vesāliya): tại[79] thành phố thuộc các vị vua Licchavi tên là “Vesāli” liên quan đến một vấn đề là thành phố này đă được nới rộng[80] tới ba lần. Trong một khu rừng rộng lớn đại lâm (mahāvane): khu rừng đó[81] được biết đến là “ khu rừng rộng lớn”(mahāvana) là một khu rừng rộng lớn (mahantaṃ vanaṃ) có nhiều cây hoang mọc, không được trồng,[82] (và) khu rừng đó cũng được phân định ranh giới.[83] “Khu rừng rậm” đó tiếp giáp với [84] Kapilavatthu, tuy nhiên lại tiếp nối với núi Hy-mă-lạp sơn, không có phân định như thế, trải dài[85] cho tới đại dương[86]. Đây không phải là một loại “rừng lớn” đến như vậy, nhưng v́ đây chính là một khu rừng lớn, có phân định ranh giới.[87]Trong sảnh đường ngôi nhà có đầu hồi (kūāgārasālāya): đây chỉ là một hương pḥng, tuyệt vời dưới mọi khía cạnh, của Đức Phật trong đó là căn nhà có đầu hồi là một nơi nghỉ ngơi được xây cho ngài trong cánh rừng lớn phủ đầy[88] với thiên nga và chim cút, vẫn có tên là “Sảnh Đường Có Đầu Hồi”, trong sảnh đường ngôi nhà có đầu hồi đó. Bên bờ sông Vaggumudā (Vaggumudātīriyāna): toa lạc trên bờ sông Vaggumudā. Sau khi đă quán xét và tác ư với chính tâm của ngài (cetasā ceto paricca manasikaritvā): sau khi đă phân định ranh giới và tác ư đến tâm [89] bằng chính tâm của ngài, nghĩa là sau khi biết được cách đắc chứng đặc biệt [90] bằng hoá tâm minh hay bằng trí toàn tri. Như thể toát ra tràn đầy ánh sáng (ālokajātā viya):  giống như đă được tràn ngập ánh sáng, một từ đồng nghĩa khác với một từ, nghĩa là như thể tạo ra được một luồng sáng do hàng ngàn mặt trời và hàng ngàn mặt trăng chiếu toả. V́ năm trăm vị Tỳ khưu đó, với Yasoja đứng đầu, đang lúc xua tan bóng tối vô minh dưới mọi khía cạnh, đă dừng lại, như thể họ trở thành ánh sáng, giống như trở thành một luồng sáng vĩ đại,[91] chính v́ thế Đức Phật đă khen ngợi những vị Tỳ khưu này với lư do cất tiếng khen ngợi vùng trời họ đang chiếm lănh, tức là. “Hỡi  Ānanda, khung trời này đối với ta đă trở thành tràn ngập ánh sáng.” v.v… v́ lư do đó có lời nói rằng, “Đó là khung trời các vị Tỳ khưu đang lưu lại trên bờ sông Vaggumudā”. Không bị ghê tởm: appaikūlā = na paikūla (một dạng ngữ pháp khác) nghĩa là hấp dẫn thu hút. V́ ở bất kỳ nơi nào các Bậc hiền triết[92] vĩ đại đang thành tựu các ân đức về giới đức v.v… và đang lưu lại nơi đó, cho dù đó là dốc đá thẳng đứng, đầy vách đá lởm chởm, khiến cho chúng sanh khó ḷng qua lại, cũng trở nên rất thoải mái và sảng khoái. V́ thế có lời nói rằng:

“Cho dù có cư trú trong rừng hay nơi làng mạc, cho dù có ở dưới vực sâu hay trên vùng đất cao, bất kỳ nơi đâu vị A-la-hán cư ngụ, miền đất đó cũng trở nên đầy hoan hỷ và an lạc. (Dhp 98)

[185] Các ngươi nên toả ra khắp (pahieyyāsi): các ngươi phải đi tới. Bậc đạo sư ước ao nh́n thấy các vị Trưởng lăo (Satthā āyasmantāna dassanakāmo) chính là cách chỉ rơ về h́nh thức được ra đi trước sự hiện diện của các vị Tỳ khưu. Chính v́ thế, do rất hài ḷng khi thấy rằng ước nguyện đó, chính là mục tiêu Ngài đă truyền các vị Tỳ khưu đó ra đi, đă đạt đến tột đỉnh. Đức Phật đă thông báo cho vị Trưởng lăo ư định của Ngài muốn gặp họ. Người ta nói rằng, điều đó đă diễn ra như vậy với ngài mà rằng: “Ta sẽ truyền những người này kêu to lên, một tiếng nói to; thế rồi  được động viên, họ đă động tâm, tại đó[93]giống như một con ngựa ṇi oai vệ, chỉ với một cú quất roi da, sẽ phóng nhanh vào rừng sâu, với mục đích làm hài ḷng ta và khi c̣n đang áp dụng tu luyện chính ḿnh, sẽ ngay tức khắc đạt chứng đắc A-la-hán”, (và) được vui sướng thỏa thê trong ḷng trước chứng đắc A-la-hán, khi nhận ra giờ đây họ đă tiến tới tột đỉnh thánh quả, chính v́ thế Ngài ra lệnh cho thủ khố chánh pháp, ước muốn được nh́n thấy họ. Vị Tỳ khưu đó (so bhikkhu): một số Tỳ khưu chứng đắc sáu phép thần thông, Trưởng lăo Ānanda đă ra lệnh như vậy. Trước đó (pamukhe): đối diện với.[94] Định bất động (aneñjasamādhinā) : định tương ưng với tột đỉnh thánh quả đặt cơ sở trên thiền Jhanas bậc bốn;  họ cũng cho biết “điều đó cũng đặt căn bản trên thiền Jhanas vô sắc giới.” (Āneñjena[95] samādhinā) cũng là một cách giải thích[96]. Nhưng tại sao Đức Phật, chứng đắc cùng loại như vậy, sau khi đă biết rơ các vị Tỳ khưu này đang tới, lại không chào đón họ? V́ lợi ích việc họ gia nhập, một khi họ biết được điều đó, cùng thiền chứng Ngài đă chứng đắc[97], nhằm để giải thích rơ cho họ[98] trước đó Ngài đă xua đuổi, mà giờ đây niềm vui của họ cũng ngang bằng với chính niềm vui của Ngài, nhằm mục tiêu giải thích vẻ oai nghiêm và lời tuyên bố về trí tột đỉnh[99] mà không thể thốt lên lời.[100]Tuy nhiên một số người khác lại cho rằng[101] “chính nhằm đến lợi ích muốn thực hiện lời chào hỏi không thể chia sẻ với tha nhân, bằng cách làm khởi sanh hạnh phúc không ǵ sánh nổi, cho những kẻ nào Ngài đă xua đuổi, giờ đây đang xuất hiện trước Ngài, và cả những vị Trưởng lăo này nữa, họ đă biết rơ đây là vị thế của Đức Phật, và họ cũng chứng đắc cùng một thiền chứng như vậy. V́ lư do đó có lời nói rằng, “ Giờ đây Đức Phật đang cư trú ở nơi nào vậy?” và, về việc này chính thiền Jhanas bậc bốn thuộc cơi sắc giới đạt đến bất động[102] nhờ được trang bị với mười sáu pháp thanh tịnh không chán nản v.v…đă tạo thành căn uy lực nhờ viễn ly[103] với các pháp nghịch gây cản trở như [104] lười biếng[105] v.v… được đề cập đến như “không dao động” (āneñjaṃ) hiểu theo nghĩa: đây chính là đặc tính không dao động vậy (aniñjana). Liên quan đến vấn đề này có lời nói rằng:

[186] “tâm không chán nản, không dao động[106] v́ tâm đó đă không dao động trước tính lười biếng, tâm không phấn chấn[107] hân hoan cũng chính là tâm không dao động, v́ không chao đảo trước những phóng dật[108]. Tâm không bị lôi cuốn[109] cũng không dao động, v́ tâm đó không phải chao đảo do tham dục, không bị cự tuyệt[110]cũng không phải chao đảo, v́ tâm đó không dao động do ác tâm, tâm đó không lệ thuộc cũng không bị chao đảo, v́ tâm không bị chao đảo trước những tà kiến, tâm không bị lôi cuốn cũng không bị chao đảo, v́ nó không phải dao động do khát ái và tham dục. Tâm đă được giải thoát hoàn toàn th́ không dao động, v́ nó không chao đảo trước những ái dục, tâm không bị triền phược cũng không bị chao đảo, v́ nó không dao động trước các phiền năo, tâm không bị hạn chế cũng không bị chao đảo, không dao động, do những kiết sử phiền năo[111], tâm chỉ nhắm đến một điểm duy nhất[112] cũng không bị chao đảo, do không dao động trước những phiền năo đa dạng, tâm bao trùm niềm tin, cũng không chao đảo do thiếu niềm tin mà ra, tâm bao trùm tinh tấn nghị lực cũng không phải chao đảo, v́ nó không phải dao động trước lười biếng, tâm bao trùm niệm cũng không phải chao đảo v́ tâm đó không dao động trước dễ duôi, tâm bao trùm thiền định, cũng không bị chao đảo do không phải dao động do trạo cử mà ra, tâm luôn bao trùm tuệ giác cũng không phải chao đảo, v́ dao động là do vô minh mà ra, tâm luôn ngời sáng không chao đảo bao giờ, v́ tâm đó không dao động trước cảnh lu mờ của vô minh. (Pts ii 206. trích trong Thanh Tịnh Đạo 386).

Đang khi đó, theo các vị Cao Niên, “không chao động” là cách mô tả[113] về năm bậc thiền Jhanas, tức là chính thiền Jhanas bậc bốn thuộc cơi sắc giới, và thiền Jhanas cũng thuộc cơi vô sắc giới, được khởi động bằng cách tu luyện ly tham sắc, và điều đó lại có bốn loại, bằng cách phân thành các loại tùy thuộc từng đối tượng, chứng đắc thiền quả A-la-hán đạt được sau khi đă xem một hay nhiều loại này[114] làm chính căn “định bất động”. Đă tiến xa (abhikkantāya): đă trải qua[115]. Đă rút lui (nikkhante) : đă từ bỏ, nghĩa là đă qua đi. Giữ im lặng (tuhī ahosi):  Đức Phật đă giữ yên lặng bằng chính thinh lặng[116] bậc thánh. B́nh minh đă nổi lên (uddhaste[117] aruṇe): b́nh minh đă xuất hiện, được biết “b́nh minh” là luồng sáng khởi xuất trước bất kỳ điều ǵ do kết quả mặt trời mọc[118] lên từ phương đông. (Khi Trời đêm c̣n mang vẻ mặt cảm khoái (nandimukhiyā): thực chất là, khi màn đêm đă lùi dần, thông qua ánh sáng b́nh minh, như mang vẻ mặt có thể đem lại cảm khoái cho chúng sanh tuỳ thuộc vào ánh sáng mặt trời để có được cuộc sống.[119] [187] Ư nghĩa ở đây là khi ánh sáng (b́nh minh) xuất hiện[120]. Sau khi đă khởi xuất từ thiền định đó(tamhā samādhito vuṭṭhahitvā): sau khi đă khởi xuất (uṭṭhāya, một dạng ngữ pháp khác) từ định bất động đó, từ chứng đắc thiền quả A-la-hán, khi giới hạn đó đă kết thúc. Hỡi Ānanda, nếu như nhà ngươi chỉ biết có điều đó mà thôi (sace kho tvaṃ Ānanda  jāneyyāsi): Hỡi Ānanda, nếu như ngài chỉ biết điều đó mà thôi (Ānanda, yadi tva yāneyyāsi, một h́nh thức ngữ pháp khác) chính Đức Phật và các vị Tỳ khưu này[121] đă trải qua suốt đêm dài trong hạnh phúc thiền chứng. Điều đó chẳng truyền cảm hứng ǵ cho nhà ngươi tới mức độ đó (ettakam pi te nappaibhāseyya [122]): điều đó sẽ chẳng xuất hiện với nhà ngươi đến mức độ đó (ettakam pi te na upaṭṭhaheyya, một dạng ngữ pháp khác), có nghĩa là, cảm hứng đó, liên quan đến việc quay trở lại với những lời chào lẫn nhau chỉ là pháp thế gian mà thôi. Chính điều đó đă xuất hiện tới ba lần nơi ngài bằng cách, “Hỡi ĐứcThế Tôn, đêm đă về khuya” v.v… và v́ ngài, Ānanda bậc hữu học, không biết cách an trú nơi thiền chứng của một bậc vô học, chính v́ thế mà nhà ngươi đă hăm hở chạy lại với ta, và trao đổi lời chào với các vị Tỳ khưu này là những lời chào thế gian; nhưng c̣n ta, cùng với các vị Tỳ khưu, đă trải qua ba canh đêm trao đổi lời chào lẫn nhau[123] lại là những lời chào siêu thế, chính bằng cách chỉ cho thấy toàn bộ điều này Đức Phật đă nói: “Hỡi Ānanda, cả ta và năm trăm vị Tỳ khưu đă ngồi nhập thiền định bất động”.[124] 

Thẩm định lại vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm định dưới mọi góc độ, vấn đề này đă được thành thạo đến mức độ nào, được coi như có khả năng chứng đắc định bất động về phía những vị Tỳ khưu ngang bằng với chính Ngài (Đức Phật). Kinh Phật Tự Thuyết này (ima udāna): đă khiến cho Phật tự thuyết này khởi sanh nhằm làm rơ sự tương đồng, tương quan nơi sự thành công[125] về phía các vị Tỳ khưu là những người đă diệt trừ được hết tham dục v.v…không dư sót. Về điểm này:

Ngài là đấng đă chiến thắng mọi chướng ngại  tham dục (yassa jito kāmakaṇṭako): Bậc thánh đức đă chiến thắng, đă đoạn tận không dư sót, những tham dục cũng là những phiền năo tâm, đă tạo thành chướng ngại, hiểu theo nghĩa xuyên qua được tất cả những ǵ là thiện [126] bằng cách này Ngài chỉ ra cho thấy không có những cám dỗ quyến rũ[127]. Về điểm này Gāmakaṇṭako (ngôi làng gai góc) cũng là cách giải thích, ư nghĩa ở đây Ngài là người đă chiến thắng được mọi chông gai nơi ngôi làng đang đề cập tới đó, toàn bộ kẻ nào lấy tham dục lạc làm đối tượng đă gây ra[128] những gai góc[129] đó; và việc chiến thắng của người này[130]phải được hiểu theo nghĩa đồng nhất với những ǵ họ đă diệt trừ được, những ǵ họ đă khát ái và tham dục lại là những chủ đề đó[131], v́ lư do đó chính là thánh đạo của vị Bất lai[132] ta nói đến ở đây. “Và (đối với người nào) xuất hiện kết quả đă chiến thắng được” là điều có liên quan ở đây. Đ̣n roi và hệ phược(vadho ca bandhanañ ca)  phương pháp ở đây cũng chỉ là một; c̣n đối với những điều này, chính do không xuất hiện những khẩu ác hạnh được chỉ rơ bằng cách chiến thắng lời sỉ nhục, thiếu vắng thân ác hạnh bằng những ǵ c̣n lại, chính v́ lư đó, đây là thánh đạo thứ ba ta đang đề cập đến bằng cách diệt trừ không dư sót, ngoài ra ác ư cũng được đề cập đến ở đây[133]; hay nói cách khác, chính do lời tuyên bố liên quan đến việc chinh phục lời xúc phạm v.v… mà ở đây Ngài đă đề cập đến thánh đạo thứ ba. Trong khi đó cách chịu đựng[134] bền bỉ lời xúc phạm v.v…ở đây thể hiện việc Ngài làm rơ trong cả hai trường hợp liên quan đến thiếu vắng bất kỳ xung khắc nào v.v…[135] với họ[136]. [188] Ngài trông giống như ngọn núi vững vàng, không lay chuyển (pabbato viya so ṭhito anejo): đó chính là tuỳ miên phiền năo đă tạo ra chấn động[137], người nói về điều đó với từ ejā (chao đảo); Ngài không bị “chao đảo”(anejo) do không c̣n bất kỳ phiền năo nào tồn tại[138] có thể tạo ra nguyên nhân cho t́nh trạng chao đảo này, từ đó có thể xuất hiện thực chất là Ngài không hề bị chao đảo[139] hoặc do bất kỳ các phiền năo[140] nào, hoặc do giao động dưới dạng lời nói của người khác, Ngài tỏ ra kiên cường giống như ngọn núi vững chắc. Vị Tỳ khưu đó không rung động trước hạnh phúc và đau khổ (sukhadukkhesu na vedhati sa bhikkhu): ta nên hiểu ư nghĩa giống như cách thức đă khẳng định ở trên,[141]tức là Tỳ khưu đó đă diệt trừ các phiền năo không dao động (do bất kỳ điều ǵ) qui cho hạnh phúc và đau khổ cả.

Chính v́ thế Đức Phật đă khởi sanh Phật Tự Thuyết này, tập trung vào một con người duy nhất. Coi như việc tập thể chứng đắc pháp[142] vững vàng thông qua chứng đắc A-la-hán về phía những vị trong số năm trăm Tỳ khưu được đề cập tới ở trên.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ ba kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-


[1]Ce Be Se giải thích là Yasojo ti c̣n bản văn ghi là Yasojā ti.  

[2].  Chú giải Be giải thích kira; c̣n bản văn Ce Se lại bỏ qua.

[3].  Những ǵ tiếp theo sau.  chú giải Dhp-a iv 36tt và Sn-a 305t. 

[4]Manaṃ padosayittha; hay là thuốc độc,  đầu độc tâm bạn vậy.

[5]. Chú giải Ce Se giải thích là hiṃsanena saṃkopayittha c̣n bản văn ghi là mana padūsayittha. Be mana padosayittha; M i 129 (Ee) giải thích là mano padūseyya.

[6]. Dhp-a giải thích là ta hāna c̣n tất cả các bản văn khác lại ghi là taṃ

[7].  Chú giải Ce Be Se giải thích là ito ’ ito ca c̣n bản văn ghi là ito ’ ito.