NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10. VỚI NGÀI BĀHIYA

Trong Kinh Phật thứ mười: Bāhiya (Bāhiyo) là tên của ngài. Người mặc y  cà sa đan bằng gỗ (Dārucīriyo): là người có chiếc y cà sa[1] làm bằng (vỏ cây) gỗ. Tại Suppāraka2:  Đang trú ngụ tại một cảng có tên như vậy; Nhưng ai là vị Bāhiya ? Và tại sao ngài lại là một vị Tỳ khưu mặc y cà sa làm bằng gỗ.”? Tại sao ngài lại đang lưu lại tại cảng Suppāraka? Trong trường hợp này, hiện đă có một cuộc bàn căi mang tính lịch sử.3

Người ta nói rằng một trăm ngàn đại kiếp trở lại đây, vào thời vị Chánh Đẳng Giác Padumuttara. Có một số người đàn ông vừa nh́n thấy vị đạo sư theo một số Tỳ khưu chiếm địa vị tối thắng có liên quan đến thắng trí của các vị đó 4 đang lúc họ lắng nghe bài Thuyết Pháp do vị Như Lai Thập Lực đó tại thành phố Haṃsavati, họ đă thực hiện một lời ước để được một địa vị tối thượng [2] nói rằng “Thực sự đây là một vị Tỳ khưu có địa vị tối thắng 2 [78] Bậc đạo sư ban tặng cho. Ôi thực sự mong rằng tôi cũng được xuất gia theo giáo pháp của vị  Chánh Đẳng Giác này vào một thời điểm trong tương lai, tôi cũng được ban cho một địa vị tối thắng giống như vị Tỳ khưu này vậy.” Thực hiện một hành vi3 phục vụ phù hợp với điều đó, thực hiện những việc công đức4 bao lâu c̣n tồn tại trong cuộc sống trên thế gian này và trở thành một người được phước trên cơi thiên đường; thế rồi, sau khi đă xuất gia để chuyên tu, lắng nghe giáo pháp của ngài Thập Lực Kassapa đang khi c̣n hoằng dương trong các nhân loại cũng như chư thiên, ông ta đă kết thúc được những ngày đó trong lúc vẫn c̣n thực hiện Phật Pháp của vị sa môn giống như một người đạt được giới đức, được hoàn toàn chu tất và xuất hiện nơi cơi thiên đường. Sau khi đă trải qua một Phật Kỳ nơi cơi thiên đường, ngài được tái sanh, khi Đức Phật này xuất hiện, tại một gia đ́nh quí tộc nơi vương quốc Bāhiya, và người ta đặt cho ngài một tên hiệu là “Bāhiya”, liên quan đến việc ngài được sanh ra trong vương quốc Bāhiya và trở thành một người thí chủ[3], ngài đă chất đầy một chuyến tàu với đầy đủ những hàng  hóa rất đa dạng dồi dào, nhằm mục đích thương mại, ngài đă nhổ neo ra khơi nhắm tới Đại Dương. Liên tục đi khắp nơi; và trong bảy lần đă đi tới thành phố của ḿnh qua một cuộc hành tŕnh tới vùng Indus2. Nhưng vào dịp thứ tám, ngài lên tàu với toàn bộ hàng hóa chất đầy boong nghĩ rằng ngài sẽ đi tới Suvaṇṇabhūmi[4] Sau khi đă ra khơi hướng tới đại dương, con tàu đă đi trật đường và phiêu bạt giữa đại dương mênh mông, không tài nào đến được địa điểm đă định trước, toàn thể hành khách trên tàu đă phải làm mồi2 cho cá dữ và rùa biển; nhưng Bāhiya sau khi đă bị trôi dạt 3 rất lâu trước chuyển động sóng biển, sau đó ngài đă được an toàn4 sau khi bám vào một miếng ván tàu, vào ngày thứ bảy ngài trôi dạt vào bờ tại một địa danh 5 thuộc cảng Suppāraka6. Nằm sóng xoài trên bờ biển, trần trụi như ngày ngài chào đời.7 do v́ ngài đă bị rách hết quần áo khi trôi dạt  dưới đại dương, ngài xua tan hết mệt nhọc, lấy lại  một phần hơi thở , nhổm dậy, thật xấu hổ và nhảy vội núp vào trong một bụi cây[5] và rồi,  không t́m thấy bất kỳ miếng vải nào để che thân, ngài đă lấy thân cây thổ hoàng liên2, quấn những miếng vỏ cây3 làm thành một loại quần lót và chế luôn thành một chiếc y cà sa.4  rồi quấn quanh ḿnh. [79] Thế rồi chính v́ lư do đó người ta biết đến ngài trong mọi t́nh huống [6] với tên gọi là “Vị mặc y cà sa làm bằng vỏ cây” liên quan đến việc ngài mặc một chiếc y cà sa làm bằng gỗ và tên “Bāhiya” lại là tên hiệu trước đó của ngài.

Vừa nh́n thấy ngài đi khất thực trong khu vực cảng Suppāraka theo cách thức vừa nói ở trên với “bát khất thực”2 ngài đă nhặt được. Dân chúng nghĩ trong tâm, “Nếu như trên đời này có vị nào họ có thể gọi là “ A-la-hán (arahaṃ)”. Chắc hẳn người đó phải thuộc hạng người này, không hiểu trường hợp này con người xứng đáng danh hiệu này có nhận quần áo bố thí cho ngài chăng, hay người đó sẽ từ chối nhận?  Liên quan đến vấn đề là ngài có ít nhu cầu chăng?” và để thử ngài, họ đă dâng cho ngài biết bao nhiêu là quần áo từ khắp nơi mang tới. Ngài suy nghĩ, “Nếu ḿnh không xuất hiện ở đây theo cách này, th́ những người này chẳng đặt niềm tin nơi ta 3 theo như cách họ đă làm. “Điều ǵ sẽ xảy ra nếu như ta từ chối những bộ đồ đó và cứ giữ nguyên h́nh trạng hiện hữu? Trong trường hợp đó, ta sẽ được nhiều của cải và kính trọng”, và sau khi đă suy nghĩ như vậy, ngài giữ nguyên sự lừa gạt đó và không nhận bất kỳ thứ quần áo họ dâng cúng. Dân chúng suy nghĩ,  “Ôi một vị có quá ít ước muốn, quả thực con người này thật xứng đáng được kính trọng.” Họ kính lễ ngài và kính trọng ngài vô cùng, tâm họ vô cùng sung sướng. Hơn thế nữa, họ đă sửa soạn cho bữa ăn được thực hiện, ngài đi vào một ngôi chùa [7] tại một nơi cách đó không xa lắm. Dân chúng theo ngài đến đó, họ trang hoàng2 ngôi chùa và dâng cúng cho ngài. Nhận ra rằng, “Những người này, sau khi đă có được niềm tin, duy chỉ bằng cách ngài mặc một chiếc y cà sa, dân chúng đă kính lễ và tôn trọng ta đến như vậy, ta phải có phận sự có một lối sống đáng tin cậy3 cho họ nữa.” Ngài vẫn tỏ ra là một người có rất ít nhu cầu, là một người sống rất thanh đạm liên quan đến những nhu cầu thiết yếu. Hơn thế nữa, được dân chúng kính trọng như một vị  A-la-hán (arahaṃ) 4 ngài tưởng rằng chính ḿnh đă trở thành một vị  A-la-hán (arahaṃ), với niềm  kính  cẩn  và tôn trọng dành cho ngài ngày càng gia tăng[8] hết điều này đến điều khác. Ngài đă trở thành một người có được một đồ chúng cần thiết khổng lồ. V́ lư do đó có lời nói rằng, “Và vào thời kỳ đó, Bāhiya , vị ẩn sĩ mặc y cà sa bằng cây đang lưu lại tại cảng Suppāraka, trên băi biển, được kính trọng và tôn kính hết mực. Về điểm này:

Được kính trọng (sakkato): được kính trọng bằng cách chăm sóc với ḷng kính cẩn và quan tâm rất mực. Được tôn kính (garukato): được tôn kính bằng ḷng sùng kính; giống như một chiếc dù đá2, với ngụ ư3 liên kết đặc biệt ngài với những ân đức thiện. Được đánh giá cao (mānito): được đánh giá cao bằng sự quí mến trong ḷng. Được tôn sùng (pūjito):  tôn sùng bằng cách kính lễ4 bằng hương hoa v.v…được kính trọng (apacito): được kính trọng bằng cách đem lại và dâng cúng cho ngài những của bố thí và chỗ ngồi tốt đẹp nhất[9] do những người có ḷng tin tuyệt đối. Là người được hưởng y cà sa, của bố thí, nơi cư trú và thuốc men cần thiết như những hỗ trợ trong cơn bệnh hoạn (lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilāna-paccayabhesajjaparikkhārāna): [80] Là người được hưởng bằng những điều tốt nhất trong số bốn nhu cầu cần thiết tối thiểu.2 Về y cà sa v.v…được dâng cúng từng thứ một. Một phương pháp khác nữa. Được kính trọng (sakkato): nhận được sự kính trọng. Được tôn kính (garukato): nhận được ḷng sùng kính. Được đánh giá cao (mānito) : được người đời nghĩ đến nhiều nhất và được người đời yêu mến nhiều trong tâm. Được kính lễ (pūjito): được tôn sùng bằng những cách kính lễ 3 đặc biệt kèm theo với bốn điều hỗ trợ cần thiết. Được kính trọng (apacito): nhận được vinh dự; người nào được người đời đem đến cho những đồ vật tuyệt vời nhất, được sắp đặt kỹ càng4 do ḷng kính trọng đem lại với bốn nhu cầu cần thiết ta gọi là “được kính trọng”, liên quan đến người đó họ đem đến một thái độ kính trọng trước khi họ dâng cúng th́ được gọi là “kính lễ”;  người nào được người đời quí mến trong tâm và nghĩ nhiều về người đó ta gọi là “kính mến”; người nào v́ ḿnh mà người đời thực hiện tất cả những điều này bằng cách kính lễ th́ được sự “kính lễ”; trong khi đó người nào được người đời thực hiện hành vi cúi đầu xuống đất để kính lễ bằng những hành vi chào hỏi, đứng lên khỏi chỗ ngồi và thực hiện kiểu chào cúi đầu (Ngũ thể đầu địa (Ađjali)) v.v… th́ gọi là được “tôn kính”. Hơn thế nữa, họ đă thực hiện tất cả những điều này cho ngài Bāhiya. V́ lư do đó người đời nói rằng, “vị mặc y cà sa Bāhiya, đang trú ngụ tại cảng Suppāraka (trên băi biển)[10] đă được kính trọng một cách đặc biệt.” v.v… và liên quan đến vấn đề này.2 người ta gọi ngài là “Người thắng cuộc” về y cà sa cho dù không nhận được chiếc y đó bằng cách họ dâng cúng cho ngài nói rằng,“Thưa ngài, xin hăy nhận lấy chiếc y này”.Vị  nào đă xuất gia sống độc cư 3: rahogatassa = rahasi gatassa (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); người nào đă thực hiện đời sống sa môn (paisallīnassa) : là người thường ở một ḿnh như rất đông người đời thường đề cập đến ngài như là một vị “A-la-hán (arahaṃ). Trong tâm họ (cetaso)4 nổi lên (udapādi) suy nghĩ này, đă nổi lên (uppajji) trong tâm (cittassa) ngài một quyết định sai lầm này, về t́nh trạng liên quan đến vấn đề ta nói đến. Bằng cách nào? “Bất kỳ người nào”[11] hiện hữu trên cơi đời này được gọi là A-la-hán (arahaṃ) hay người nào đă đạt đến thánh đạo A-la-hán, vậy th́ ta phải là một trong số họ”. Đây là ư nghĩa của câu này: những ai c̣n hiện hữu trên cơi đời này đă trở thành vị A-la-hán (arahaṃ)  liên quan đến việc họ đă diệt trừ các kẻ thù (arīna hatattā) đó là các phiền năo2 và nhờ phẩm hạnh ngài xứng3 (araha) được tôn thờ, được kính trọng v.v…những người đó4 đă đạt đến thánh đạo A-la-hán thông qua việc sát trừ các kẻ thù là các phiền năo th́ ta phải là một người trong số họ5. Người họ hàng ruột thịt tiền kiếp (purāasālohitā) : một vị trời trước đă thực hiện sa môn pháp cùng với ngài có họ hàng ruột thịt giống như một người bà con6. Tuy nhiên một số người cho rằng “một người họ hàng ruột thịt tiền kiếp” có nghĩa là một vị thiên thần vào một thời quá khứ trong một kiếp khác nhau đă là một người họ hàng ruột thịt, đă là mẹ của ngài. Điều này trong tập chú giải[12] đă bác bỏ, chỉ với ư nghĩa trước là được chấp nhận.

Người ta cho rằng trước đó, khi giáo pháp của ngài Thập Lực Kassapa đang mạt pháp, có bảy vị Tỳ khưu, động tâm v́ nh́n nhận ra điều không thích hợp2 nơi ṿng luân hồi v.v…đă đi vào rừng, sau khi đă kính lễ điện thờ vàng3 nghĩ rằng họ có thể làm nền tảng cho chính ḿnh trước khi giáo lư của ngài Kassapa biến mất, và rồi, nh́n thấy một ngọn núi, những vị ấy nói, “Mong rằng những ai đặt nương tựa vào cuộc sống thế tục, hăy hoàn tục đi; chỉ ai không đặt niềm tin vào nơi đó hăy trèo lên ngọn núi”, sau khi đă dựng một chiếc thang, và sau khi họ đă trèo lên đỉnh núi, họ đă làm đổ chiếc thang, và cả bảy người đă thực hiện sa môn pháp [81] Vị trưởng lăo trong số họ đă đạt đến bậc A-la-hán bằng cách tinh tấn chỉ trong ṿng một đêm. Sau khi đă đi4 khất thực từ Uttarakuru5 trở về. Ngài đă nói với các vị Tỳ khưu “Hỡi chư huynh, hăy sử dụng vật thực khất thực này”. Nhưng họ không muốn ăn, nói rằng, “Thưa ngài, ngài đă mang của khất thực này về bằng chính sức mạnh oai nghi của ngài; cả chúng tôi nữa, giống như ngài, nếu chúng tôi phải tỏ ra khác biệt nơi chúng sanh, chúng tôi chỉ ăn những ǵ do chính chúng tôi có được mà thôi.” Vào ngày hôm sau là ngày thứ hai (vị trẻ tuổi nhất trong số bảy vị) đă đạt đến thánh quả Bất Lai; cả vị này nữa, cũng đă đi khất thực và rồi đă mời những người c̣n lại cùng ăn chung; nhưng cả những người này nữa, cũng lại từ chối giống như vậy. Một người trong số họ đă đạt đến bậc  A-la-hán  cũng đạt đến vô dư níp bàn; c̣n đối với vị Bất Lai tái sanh nơi cơi tịnh cư[13] trong khi đó năm người khác, cho dù có áp dụng và tự luyện tập rất nhiều, vẫn không thể phân minh được sanh hữu; họ tái sanh nơi cơi trời vào lúc vừa mới tiêu hoại2 v́ họ tiếp tục không thể làm thế được, họ vẫn tiếp tục không ngừng nơi các thần linh trong ṿng một Phật Kỷ nữa, rời khỏi cơi trời, khi Đức Phật này ra đời, và xuất hiện trong một gia đ́nh ḍng tộc tại nơi này nơi nọ trên cơi đời này. Trong số họ có một vị đă trở thành nhà vua Pukkusāti3,  một  vị  khác trở thành Kumārakassapa[14], vị khác lại trở thành con trai2 của Dabba thành Malla; một vị trở thành du sĩ Sabhiya3 và một vị chính là Bāhiya, vị Trưởng lăo mặc y cà sa bằng vỏ cây. Về điểm này, chính v́ có tương quan với vị Bất lai đă tái sanh nơi cơi phạm thiên thế nên người ta nói rằng, “Có một vị thiên thần đă là bà con ruột thịt tiền kiếp”. V́ giả dụ như ‘devatā’ chỉ là một thiên thần4, một devaputta thiên tử, giống như một devadhītā tiên nữ, cũng được coi như là một “devatā” như trong câu, “Thế rồi (khi đêm đă về khuya) có một devatā xuất hiện” (Ud 23) v.v… nhưng trong trường hợp này đây chính là một vị Phạm Thiên được ám chỉ bằng từ “devatā”5 .

Đối với chính vị Phạm Thiên[15] (Brahma) đó, đang khi hướng về nơi ngài đă xuất hiện, vừa nh́n thấy  vinh quang tột đỉnh của chính ḿnh với tư thế là vị Phạm Thiên ngay sau khi xuất hiện tại đó, nhận ra rằng việc thực hiện sa môn pháp về phía bảy người sau khi đă lên đỉnh núi, thực tế là một trong số họ đă chứng đắc vô dư Níp Bàn và một thực tế nữa về liên quan đến chính việc ngài tái sanh trên cơi đời này tại đó sau khi đă đạt thánh quả bất lai. Sau khi biết được về sự thật, đang khi hướng về nơi năm vị khác đă xuất hiện nơi cơi trời dục giới, sau này, ngài có thế vào những thời điểm thuận lợi[16] như vậy vẫn có thể quan sát những ǵ đang diễn ra với họ và muốn biết họ đang làm ǵ. Nhưng lần này, khi vừa nh́n thấy Bāhiya đang khi hướng về nơi (họ có thể xuất hiện) đang khi kiếm sống tà hạnh bằng cách mặc y cà sa làm bằng vỏ cây[17] và sống phụ thuộc vào họ tại cảng Suppāraka. Vị này suy nghĩ, “Người này trước kia đă không quan tâm đến lối sống phạm hạnh đang khi thực hiện sa môn pháp cùng chung với ta sau khi chúng ta đă bắt chiếc thang đó và trèo lên đỉnh núi, lại không sử dụng của bố thí ngay cả khi vị A-la-hán (arahaṃ) đă đem đến cho; [82] Thế mà giờ đây, cho dù không phải là một vị A-la-hán, người này lại đi khất thực khắp nơi t́m kiếm lợi lộc, kính trọng và địa vị, đồng thời lại c̣n tuyên bố ḿnh đă chứng đắc A-la-hán; trong khi đó[18] vị này đă không ư thức được một thực tế là có vị Như Lai Thập Lực đă xuất hiện. Thôi được, trước tiên ta sẽ cho hắn ngạc nhiên và rồi cho hắn biết một Đức Phật đă xuất hiện” và ngay lập tức từ cơi Phạm Thiên ngài đáp xuống và xuất hiện vào ban đêm trước mặt vị Trưởng Lăo mặc y cà sa bằng gỗ tại cảng Suppāraka. Thế rồi vừa khi Bāhiya nh́n thấy một luồng sáng rực rỡ vĩ đại xuất hiện ngay tại trú xứ của ḿnh, sau khi nh́n thấy ánh sáng đó và bước ra ngoài t́m hiểu xem điều ǵ xảy ra, và đă nh́n thấy vị Phạm Thiên vĩ đại xuất hiện trên không trung, rồi ông ta cất tiếng hỏi “ngài là ai” đang khi giơ tay thực hiện cách chào Ngũ thể đầu địa (Añjali). Sau đó vị Phạm Thiên nói với ông rằng: “Ta chính là người bạn tiền kiếp của nhà ngươi, đă tái sanh nơi cơi Phạm Thiên sau khi đă đạt thánh quả bất lai vào thời điểm đó, sau khi biết được nhà ngươi, không thể làm cho ḿnh nổi bật nơi chúng sanh, đă kết thúc cuộc sống của nhà ngươi bằng cách tái sanh thành một phàm phu, và rồi vẫn tiếp tục hiện hữu trong kiếp luân hồi, giờ đây cho dù không phải là một vị A-la-hán, nhà ngươi đă đi khắp nơi giả dạng thành một vị sa môn[19] khiến cho chúng sanh tin rằng nhà ngươi đă là A-la-hán. Hỡi Bāhiya, nhà ngươi chắc chắn không phải là A-la-hán, hăy từ bỏ ngay lối sống ác hạnh đó đi[20] cho chúng sanh được biết, đừng để điều đó qua thời gian[21] gây phương hại cũng như gây đau khổ lâu dài cho nhà ngươi, đă có một vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian này. Giờ đây chính Đức Thế Tôn này là vị  A-la-hán (arahaṃ)  chính v́ thế hăy đến ngồi vây quanh và tỏ ḷng kính lễ với Ngài đi.” V́ lư do đó người ta nói rằng, “Thế rồi có một vị thiên thần (devatā) là họ hàng ruột thịt tiền kiếp với Bāhiya, vị ẩn sĩ  mặc y cà sa gỗ.” Về điểm này:

Tỏ ḷng thương xót người (anukampikā3): nói về bản chất tương trợ người khác trổi vượt hơn ḷng từ bi. Ước muốn hạnh phúc cho ḿnh (atthakāmā): với ước ao được hạnh phúc cho ḿnh vượt trội hơn cả ḷng từ tâm giống như vậy đó là sanh thú những vị nào đă đoạn tận các phiền năo trong ḿnh, cũng đă đạt đến vô dư Níp Bàn là người khó ḷng có thể được đoán chắc bởi những người phàm tục. Tập Udāna này (ima udāna) xuất hiện nhằm giải thích vẻ oai nghiêm nơi hữu dư Níp Bàn không có bất kỳ nền tảng nào. Về điểm này:

Trong lănh vực đó (yattha): trong đó [các yếu tố] Níp bàn không t́m thấy. Liên quan đến vấn đề này, bằng cách diễn giải ở trên, ngài chỉ rơ cho thấy, ước muốn nơi các Chư thiên (devatā)[22] chấm dứt đau khổ cho Bāhiya, bằng cách đem lại hạnh phúc cho vị Trưởng lăo này. Với tâm ngài (cetasā): trong chính tâm của ngài (cittena): và về vấn đề này2, ta nên hiểu đây chính là tâm bao gồm trí tuệ được gộp lại dưới tiêu đề “tâm” (ceto). Việc phản tỉnh tâm (cetoparivitakkam): việc xuất phát tư tưởng của ngài. Nhờ hiểu biết (aññāya): nhờ ngài hiểu biết được. Tiến lại gần (’ upasaṅkami): chính lúc một người khoẻ mạnh có thể duỗi ra hay thu cánh tay lại, giống như vị đó đă thực hiện khi biến vào cơi Phạm Thiên3 và tiến đến gần bằng cách xuất hiện trước Bāhiya. Thốt lên lời này (etad avoca): lúc này vị Phạm Thiên thốt lên lời công bố vấn đề ngài chủ tâm thốt lên bắt đầu với, “Hỡi Bāhiya, thật sự nhà ngươi không phải là một vị A-la-hán”, giống như một tên trộm bị bắt tại trận cùng với tang vật lấy cắp[23], đối với Bāhiya suy tưởng sai lầm như,  “Bất kỳ kẻ nào sống trên thế gian này đều có thể là A-la-hán” v.v…đă xuất hiện. [83] Hỡi Bāhiya, chắc chắn nhà ngươi không phải là một vị A-la-hán (’eva kho tva Bāhiya arāhā [24]): suy nghĩ như vậy nhà ngươi đă chối bỏ các trạng thái Bậc vô học asekkha nơi Bāhiya vào thời điểm đó. Ngay cả vị nào đă chứng đắc thánh đạo A-la-hán (’āpi arahattamagga vā samāpanno): nhờ việc này ngài (chối bỏ) trạng thái Bậc hữu học sekkha; đang khi đó nhờ cả hai sự việc này người đă giải thích được trạng thái của ḿnh hoàn toàn không phải là một vị A-la-hán. Chẳng phải do nhà ngươi đă tu luyện, nhờ đó ngươi có thể trở thành một vị A-la-hán hay một người đă chứng đắc thánh đạo A-la-hán (sā pi te paipadā ’atthiyāya2 tva arahā vā assa3 arahattamagga vā samāpanno): trong khi đó theo cách này nhà ngươi c̣n chối bỏ ngay cả giới hạnh phàm phu (putthujjana4) của nhà ngươi nữa. Về vấn đề này:

Tiến hành (paipadā): có sáu cách thanh tịnh bắt đầu với giới thanh tịnh v.v…5, đây chính là một cách “tiến hành” (paipadā) v́ nhờ phương cách này[25] ta có thể đạt đến tiến hành2 (paṭipajjati) thánh đạo. Có thể trở thành (assa): có thể trở thành (bhaveyyāsi), và phụ thuộc vào điều này, những ǵ mang tính chất tăng thượng mạn về bậc A-la-hán3 về phía ngài có thể khởi lên được chăng? Một số người cho rằng tăng thượng mạn về bậc A-la-hán4 đă khởi lên liên quan đến các phiền năo đă kết thúc đối với việc đoạn trừ nhất thời 5 đối với việc phục vụ trong một thời gian dài bằng thiểu dục, tri túc và ly tham.6 Tuy nhiên, người khác lại cho là Bāhiya là người đă chứng đắc ba việc7 bao gồm đệ nhất thiền v.v… và chính v́ thế tăng thượng mạn về bậc A-la-hán đă khởi sanh tiếp theo sau việc các phiền năo không c̣n hoạt động8 như kết quả do việc đoạn trừ trấn áp [26]. Nhưng cả hai vấn đề này đơn giản mới chỉ là việc suy xét về khía cạnh đó mà thôi; trong khi đó, liên quan đến một thực tế đó là, “ước muốn của cải, kính trọng và danh vọng…lại hàm chứa cho rằng ngài có thể đă tỏ ra thích thú những thứ đó” là điều ta thấy được truyền lại trong tập chú giải Kinh Phật liên quan đến vấn đề này; chính v́ thế ta nên hiểu ư nghĩa ở đây theo cách duy nhất đă được khẳng định ở trên.

Thế rồi ngay khi Bāhiya thị kiến vị Phạm Thiên đang nói, trong lúc dừng lại trên không trung, nghĩ rằng, “Ôi, quả thật hành vi tôi tự cho ḿnh2 là một vị A-la-hán là điều thật nghiêm trọng; đang khi đó vị Phạn Thiên này lại cho rằng việc tôi tu luyện không dẫn đến bậc A-la-hán; liệu trên đời này có ai trở thành A-la-hán được chăng?” Thế rồi ngài hỏi vị Phạm Thiên, v́ lư do ǵ có lời nói rằng, “Ôi các vị Chư thiên, giờ đây trên thế gian này3 có các vị A-la-hán hay những vị đă chứng đắc thánh đạo A-la-hán hay chăng ? Về điểm này:

Thế rồi (atha) chỉ là một tiểu từ giới thiệu một câu hỏi. Kẻ nào giờ đây : ke carahi = ke etarahi (một dạng ngữ pháp khác). [84] trên thế gian này (loke): trên cơi hữu h́nh này4. Liên quan đến vấn đề này, ư nghĩa ở đây như sau: nơi nào[27] trên toàn bộ nước Ấn độ (Jambudīpa) này, trên cơi thế gian này, ta cũng đều t́m thấy các vị A-la-hán hay những người đă đạt thánh đạo A-la-hán cả, giờ đây nói rằng, ta có thể gặp các vị đó bất kỳ nơi nào đă thiết lập bằng những lời động viên và giải thoát khỏi 2 đau khổ trong ṿng luân hồi. Vùng phía bắc (uttaresu) được đề cập đến nhằm ám chỉ phía đông bắc cảng Suppāraka. A-la-hán 3(arahaṃ): ngài đă trở thành một vị A-la-hán bởi ngài đă lánh xa (ārakattā 4). Do ngài đă trở thành vị tự lánh xa mọi phiền năo, ngài đang giữ vị trí rất cách biệt, qua thánh đạo các phiền năo không thể ảnh hưởng ǵ đến ngài và ngài đă diệt tận cùng với mọi dấu vết của chúng. Hay nói cách khác, ngài đă trở thành A-la-hán (arahaṃ) liên quan đến việc ngài đă diệt trừ và đoạn tận hết các ác pháp (arīna) của ḿnh, chúng chính là những phiền năo đă bị diệt trừ và đoạn tận gốc rễ mà không dư sót; hay c̣n nữa ngài đă trở thành A-la-hán (arahaṃ) liên quan đến những nan hoa (arīnaṃ) đă bị sát trừ hết (hatattā): v́ toàn bộ những nan hoa bánh xe luân hồi đă xuất phát ngay từ khoảng thời gian vô thủy, với trục bánh xe chính là vô minh và ái dục để được hữu, với những nan xe là việc tích lũy phúc hành v.v…và với vành xe chính là lăo và tử, được gắn vào chiếc xe tam hữu, sau khi đă xuyên qua bánh xe đó bằng một chiếc trục chính là khởi xuất các lậu hoặc (asavas) (cp Trung Bộ Kinh (M) i 55), đă bị diệt trừ, bị hạ gục và bị đập tan do việc tích lũy[28] được hỗ trợ trên thế gian này giới là đôi chân, tinh tấn Bodhimaṇḍa, sau khi đă coi những nan hoa đó là cánh tay niềm tin, với trục là trí tuệ có tác dụng lớn đến việc diệt trừ những hành vi đó, hoặc giả ngài đă trở thành A-la-hán (arahaṃ) v́ ngài thật xứng đáng (arahatī 2); do Đức Thế Tôn là thủ lănh thế gian cùng với các thần linh là những người xứng đáng nhận của dâng cúng, xứng3 được hộ độ4 cao cả nhất thể hiện nơi việc dâng cúng y cà sa v.v…và đáng được tôn thờ đặc5 biệt; hay c̣n nữa, ngài đă trở thành A-la-hán (arahaṃ), liên quan đến việc không giữ kín (bí mật) (rahābhāvato); v́ nơi vị Như Lai, do có liên quan đến việc trở thành một vị mà mọi phiền năo tham dục v.v…đă được đoạn trừ đến tận gốc rễ, ngài được coi như là một vị  A-la-hán (arahaṃ) do việc ngài không tạo ra các pháp bất thiện cũng như không c̣n ǵ để giữ kín (rahābhāvato) nơi nào việc thực hiện điều đó lại liên quan đến điều bất thiện. Chính v́ liên quan đến việc trở thành các pháp ngài đă chứng đắc được một cách hoàn hảo (sammā) và tự bản thân ngài (sāmaṃ) đă giác ngộ (buddhattā) thế nên ngài đă trở thành Bậc Chánh Đẳng Giác (sammāsambuddho)[29] Đức Thế Tôn đă thắng tri nơi những pháp cần phải thắng tri2. Đối với những pháp ta cần phải biến tri cũng đă được biến tri; đối với những pháp cần phải đoạn trừ cũng được đoạn trừ; đối những pháp cần phải thực chứng cũng đă được thực chứng; đối với những pháp cần phải tu luyện th́ cũng đă được tu luyện. V́ vậy có lời nói rằng:

“Nhờ thắng tri những pháp cần phải thắng tri, ta tu luyện những pháp cần phải tu luyện đoạn trừ, những pháp cần phải đoạn trừ chính v́ thế, thưa ngài Bà la môn, ta chẳng phải đă là một vị Phật hay sao?3”(Sn 558 = Thag 828).

[85] Hơn thế nữa, ư nghĩa này cũng được áp dụng4 bằng các tam đề và nhị đề v.v… [30]cho rằng “(Chính Đức Thế Tôn đă giác ngộ) trước những nghiệp thiện do trổ quả, đó chính là vô tội và hạnh phúc trước những nghiêp bất thiện thường chỉ đem lại đau khổ và đáng khiển trách.” v.v…chính v́ thế, Ngài đă trở thành Bậc Chánh Đẳng Giác do một thực trạng ấy là Ngài đă giác ngộ một cách rơ ràng toàn bộ những Pháp trong mọi t́nh huống, nhờ trí2 tự phát của ngài, liên quan đến vấn đề này, đây chỉ là một bài tường thuật (ngắn gọn): tuy nhiên ta cũng nên t́m hiểu chi tiết cùng một cách như đă được truyền lại trong Kinh Visuddhimagga. (Vism 198tt): V́ bậc A-la-hán (arahattāya) đem lại lơị ích cho chứng đắc thánh quả siêu phàm. Diễn giải Phật Pháp (Dhammaṃ deseti): giải thích rơ về Phật Pháp hiểu theo nghĩa giới được trang bị với những ân đức rơ ràng, giống như việc trở thành đáng yêu ngay từ lúc đầu v.v…(Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 130 v.v…) hoặc chỉ đơn giản là Phật Pháp hiểu theo nghĩa thiền chỉ và thiền quán (samatha và vipassanā) (loại Phật Pháp như vậy) hoặc sẽ tạo thành (theo hai cách) với những phẩm chất của những ai đă được hướng dẫn. Động tâm (saṃvejito): sau khi đă động tâm 3 nghĩ rằng,“Thực sự, đây là hiện trạng phàm tục đáng nguyền rủa, kết quả là, người đó không phải là một vị A-la-hán (arahaṃ) nhưng chính chúng ta lại cho đó là một vị A-la-hán (arahaṃ), mà chẳng hề hay biết đă có một vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian và Ngài đang diễn giải Phật Pháp; tuy nhiên, đây là điều rất khó nhận ra trong cuộc sống cũng như khó ḷng có thể hiểu được “tử” là như thế nào” ư nghĩa ở đây là tâm vị ấy bị rung động do những lời tuyên bố của các thần linh; theo cách thức đă nói ở trên. Ngay lập tức (tāvadeva): ngay lúc đó. Rời khỏi Suppāraka (Suppārakā pakkāmi): rời khỏi cảng Suppāraka hướng về thành Sāvatthi[31] với tâm hoan hỷ do kết quả của phỉ lạc đă đạt được, sau khi đă chọn Đức Phật làm thần tượng, là điều đă khởi sanh ngay cả chỉ đơn thuần nghe hồng danh2 “ Đức Phật” mà thôi, và đó là kết quả động tâm đem lại3 Chỉ lưu lại một đêm duy nhất trên toàn bộ sự việc.(sabbattha ekarattiparivāsena): Du hành bằng cách chỉ lưu lại một đêm duy nhất trên toàn bộ quăng đường4đi qua; v́ thành Sāvatthi cách cảng Suppāraka có một trăm hai mươi do tuần (yojanas) mà thôi, ấy vậy Ngài đă di chuyển một khoảng cách xa như vậy chỉ trong một đêm mà thôi, và Ngài đă đến thành Sāvatthi[32] trong cùng một ngày Ngài đă rời cảng Suppāraka; nhưng bằng cách nào con người này có thể thực hiện chuyến du hành nhanh đến như vậy ? Nhờ vào oai lực thần thông; họ cũng cho là “nhờ oai lực của Đức Phật.” Tuy nhiên, (một số người lại cho là) do việc Ngài chỉ nghỉ lại có một đêm duy nhất trong chuyến du hành đó, và quăng đường dài đến một trăm hai mươi do tuần (yojanas) là điều Ngài muốn làm rơ, tức là Ngài đă đến thành Sāvatthi bằng cách trải qua toàn bộ quăng đường đó chỉ một đêm trong bất kỳ t́nh huống nào, trên đường thực hiện cuộc du hành, Ngài chỉ trải qua có một đêm duy nhất, như lưu lại trong một ngôi làng, tại ngôi chợ, hay vào tiếp kiến hoàng cung v.v… mà không để sang buổi sáng ngày thứ hai; liên quan đến một thực tế là: ư nghĩa này không được công nhận như vậy, tức là: bằng cách trải qua chỉ có một đêm trên toàn bộ tuyến đường dài một trăm hai mươi do tuần (yojanas), điều được ám chỉ ở đây đó là Ngài chỉ trải qua có một đêm duy nhất trên toàn bộ quăng đường đó, Ngài đă tới thành Sāvatthi [86] vào một cơ hội đặc biệt tức là vào buổi sáng ngày hôm sau. Cho dù2 Đức Phật đă biết Bāhiya đang đi đến gần, Ngài nhận ra bằng các quyền của Ngài [33] vẫn chưa đạt đến trưởng thành, tuy nhiên chúng có thể đạt đến điều đó vào bất kỳ thời điểm nào; để khiến cho các quyền của ngài Bāhiya đạt đến trưởng thành vào bất kỳ lúc nào, Ngài đi vào thành Sāvatthi, vây quanh là một đoàn các vị Tỳ khưu đông đảo, để khất thực. Chính v́ thế 2 khi ngài 3 đi vào khu rừng Jeta và nhận ra nhiều vị Tỳ khưu đang đi kinh hành ngoài trời với mục đích chế ngự trạng thái hôn trầm thân sau khi đă dùng bữa sáng4, ngài liền hỏi họ: “Ngay lúc này Đức Thế Tôn đang ở đâu?” Các vị Tỳ khưu đó trả lời rằng “Đức Thế Tôn đă vào thành Sāvatthi đi khất thực”và rồi lại hỏi 5 thêm “Nhưng ngài từ đâu đến vậy?” “ Tôi từ cảng Suppāraka6 đến đây” “ngài đă từ xa đến đây, trước tiên ngài nên ngồi xuống nghỉ ngơi đôi chút, rửa mặt, chân tay và xức dầu chân7 rồi nghỉ ngơi đôi chút và ngài sẽ được diện kiến Bậc Đạo Sư vào thời điểm Ngài tới đây.”Sau khi đă nói, “Thưa các vị, ta không biết liệu ở đây có nguy hiểm cho tánh mạng8 của ta hay không?9 Ta đă đến chỉ trong ṿng có một đêm vượt qua một quăng đường dài một trăm hai mươi do tuần (yojanas), không ngừng lại ở bất kỳ chỗ nào hay ngồi một chút nào, ta chỉ nghỉ ngơi sau khi được gặp vị Đạo Sư mà thôi.” Bāhiya liền vội vă đi vào thành Sāvatthi; tại đó ngài đă diện kiến Đức Thế Tôn, tỏa sáng với vầng hào quang của một Đức Phật không có ǵ sánh nổi, v́ lư do đó có lời nói rằng, “Và vào lúc đó, một số đông đảo các vị Tỳ khưu đang kinh hành ngoài trời, thế rồi ngài Bāhiya, vị sa môn mặc y cà sa làm bằng gỗ đă tiến lại gần các vị Tỳ khưu. Về vấn đề này:

Tại đó : kahaṃ = kattha (từ đồng nghĩa). Giờ đây (nu) là (một tiểu từ hiểu theo nghĩa) nghi ngờ, kho (không được dịch) cũng là một tiểu từ  làm từ đệm cho các từ khác, ư nghĩa ở đây là chính tại nơi đó. Mong ước được gặp (ngài) (’ amhā): là vị ước ao nh́n thấy (được gặp). V́ ngài cho rằng “Chúng tôi muốn gặp và đi đến gần Đức Thế Tôn như thể người chột một con mắt, như thể người điếc một lỗ tai, như thể người câm thốt lên những lời yêu thương[34] như thể người cụt tay què chân, như người nghèo được chúc phúc giàu sang2 như thể người t́m thấy lối đi trong hoang mạc là nơi không an toàn, như người đă vượt thắng bệnh tật lấy lại được sức khoẻ, như thể người vượt biển bị đắm tàu giữa đại dương bao la với được chiếc mảng[35] to lớn. [87] Với sự xuất hiện một người đang vội vàng. (taramānarūpo): với việc chỉ rơ cho thấy2 một người đang trong t́nh trạng vội vă3Linh ứng ḷng sùng kính (pāsādika)4: ḷng tịnh tín cho toàn bộ5 các thành phần chúng sanh đang thu hút chú ư muốn chứng kiến thân h́nh của ngài do đặc tính tuyệt hảo với vẻ hào quang thân h́nh 6 của ngài đă là điều gây cảm hứng cho ḷng tịnh tín nơi toàn thể chúng sanh đối với ngài;  được phú bẩm với ba mươi hai tướng của một Đại Nhân, cùng với tám mươi tướng phụ khác nữa, và cùng với ánh hào quang trải dài hàng sải tay và ṿng hoa ánh hào quang của Ngài tỏa sáng rực rỡ. Đáng được tôn vinh (pasādanīya): đáng tôn vinh (pasādanīya) thích hợp được tôn kính, hay xứng được tôn trọng (pasādāraha); về  phía chúng sanh7 thích  hợp do tính tuyệt hảo pháp thân của Ngài liên quan đến[36] thành tựu cho vô số ân đức bắt đầu là Thập Lực, bốn vô sở úy, sáu trí không thể chia sẻ với tha nhân, và mười tám đặc biệt chỉ thấy nơi Chư Phật2 Với căn an tịnh (santindriyaṃ): với năm căn đă được an tịnh thông qua xuất khởi tham lam liên kết với năm căn như 3 con mắt v.v… với tâm an tịnh (santamānasaṃ) :với tâm được an tịnh bằng đạt được hiện trạng không theo đuổi 4 xuất hiện nơi ư quyền thứ sáu. Sau khi đă đạt đến hiện trạng thuần hóa và an tịnh (uttamadamathasamatham anuppattaṃ): trú ngụ lại sau khi đă đạt đến được, sau khi đă chứng đắc thuần hoá tuyệt hảo và an tịnh như chứng đắc giải thoát siêu thế qua tuệ giác và giải thoát tâm5. Được thuần hoá (dantaṃ): thuần hóa thân không kể những ǵ liên quan đến thiếu vắng bồn chồn xao xuyến với bàn tay v.v… do thân thiện hạnh được thanh tịnh hoàn hảo; nhưng c̣n liên quan đến việc không dễ bị kích động v.v…[37] tránh xa (guttaṃ): tránh xa bằng lời nói, không chỉ liên quan đến không có lời ăn tiếng nói không nhằm mục đích tạo khẩu thiện hạnh thanh tịnh hoàn hảo; nhưng cũng liên quan đến lời nói gây kích động v.v…2  Với việc thu thúc các căn (yatindriyaṃ): với các căn được thu thúc, ư quyền do ư thiện hạnh đă được thanh tịnh hoàn hảo, và có sự xuất hiện từ bỏ và xả liên quan đến các hành3 liên kết với khả năng thần thông nơi các vị thánh4. Một măng xà (nāga):  ngài  là một  măng [38] v́ những lư do này. Tức là2, liên quan đến việc ngài không đi theo con đường (vasena agamanato) khao khát v.v… liên quan đến các phiền năo tham dục. v.v… đă được đoạn trừ 3 không xuất hiện4 nữa (punānāgamanato), liên quan đến việc không thực hiện hoàn toàn bất kỳ lỗi phạm nào (āgussa akaraato