|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
5. VỚI MỘT PHẬT TỬ Trong Kinh Phật thứ năm: Một chàng trai Icchānaṅgalako: Một số ngôi làng bà la môn trong đó các cư dân Kosalans sinh sống có một chàng thanh niên tên là “Icchānaṅgala”; cậu con trai đó là một người Icchānaṅgalakan[1] thực tế là cậu sống trong ngôi làng đó, là nơi cậu đă sanh ra và lớn lên trong ngôi làng trên. Một cận sự nam (upāsako): là một Phật tử thực tế là cậu ta đă tuyên bố lời Phật tử trước sự hiện diện của Đức Phật bằng ba cách qui y, là người thọ tŕ ngũ giới[2], là người nắm giữ Đức Phật như là của riêng ḿnh, nắm giữ Phật Pháp là chính của riêng ḿnh, nắm giữ Tăng đoàn như chính của riêng ḿnh vậy. Liên quan đến một vài công việc: kenacid eva karaṇīyena = kenacid eva kattabbena [3] (một dạng ngữ pháp khác) đang ảnh hưởng đến việc trả nợ v.v…(cho con nợ)[4]. Đang khi thực hiện (tīretvā): sau khi đă kết thúc. Người ta nói rằng cận sự nam này trước kia đă đến gặp Đức Phật thường xuyên và ngồi thiền kính lễ Ngài, (nhưng) trong một khoảng thời gian ngắn ngủi cậu ta đă không cố gắng đến gặp Bậc đạo sư nữa thực tế là cậu ta bận bịu quá nhiều công việc, v́ lư do đó Đức Thế Tôn đă nói rằng: “Hỡi cận sự nam, đă quá lâu từ khi con theo đuổi giáo pháp này, nhằm mục đích đến đây gặp ta.” Về vấn đề này. Đă lâu lắm rồi: cirassaṃ = cirena (một dạng ngữ pháp khác). Quá tŕnh (pariyāyaṃ): cơ hội[5] điều này là (yadidaṃ) một tiểu từ, có nghĩa là yo ayaṃ (một dạng ngữ pháp khác). Đây là điều người ta đă nói : “nhân cơ hội[6] hôm nay con đă cố gắng đến đây, trước sự hiện diện của thầy; cũng giống như những cơ hội sau một thời gian dài con đă tŕ hoăn”. Lâu lắm rồi kể từ khi ta đă: cirapaṭikāhaṃ=cirapaṭiko ahaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Sau một thời gian dài đến nay con đă “ước ao đến gặp”là điều có liên quan. Với người này người nọ (kehici kehici): một số người này người kia[7]. Hay nói cách khác với một số người (kehici [8]): với người này người kia, cậu ta chỉ cho thấy thiếu quan tâm[9] về việc đó, v́ [10] với người nào đă dành hết tâm trí cho Bậc đạo sư, cậu ta chẳng quan tâm đến bất kỳ điều ǵ khác chỉ bằng đến gặp Ngài và lắng nghe Giáo Pháp. [116] Bổn phận hay nghĩa vụ (kiccakaraṇīyehi): về vấn đề này,[11] kiccaṃ (bổn phận) là điều ta không thể không thực hiện (katabbaṃ) điều c̣n lại là nghĩa vụ; hay việc đầu tiên là bổn phận (kiccaṃ), tức là những ǵ ta phải thực hiện (katabbaṃ) điều c̣n lại chỉ là nghĩa vụ (karaṇīyaṃ) ta cũng nên thực hiện (katabbaṃ); hoặc bổn phận là những chuyện nhỏ, và nghĩa vụ là những ǵ to lớn. Rất bận rộn (byāvaṭo) : tỏ ra rất chăm chỉ siêng năng. Chính v́ thế ta (’āhaṃ): v́ vậy mà (evaṃ) theo cách này, nhà ngươi không thể đến gặp Đức Phật, điều muốn nói ở đây không phải do thiếu kính lễ v.v…[12] Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm định vấn đề này dưới mọi góc độ, tức là khi có một Đức Phật ra đời và đạt được hiện trạng nhân loại, (cả hai) đều rất khó đạt được, đối với chúng sanh, liên quan đến những bổn phận, mà thực tế là họ c̣n sở hữu đất đai cho thuê mướn (cổ phần)[13], là những trở ngại rất tinh tế, (tuy nhiên) điều này chẳng phải như vậy, đối với những ai không sở hữu những thứ đó. Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): Phật Tự Thuyết này đă xuất hiện nhằm giải thích[14] hoàn chỉnh vấn đề này. Về điểm này: Thực sự, hạnh phúc đối với họ chẳng là ǵ cả (sukhaṃ vata tassa na hoti kiñci) : Thực sự hạnh phúc[15] người đó sở hữu nghĩa là, “Ôi hạnh phúc hoàn toàn là thế nào”, với người đó chẳng có[16]nghĩa lư ǵ cả, chẳng có ǵ tồn tại cả, chẳng phát hiện ra điều ǵ tồn tại, duy nhất chỉ có một điều, ngay cả những sắc pháp (rūpa) v.v…bằng cách chiếm đoạt do ái dục như, “đây là của ta”. Na 'hosi (chẳng là ǵ cả) cũng là cách giải thích này; ta nên hiểu ư nghĩa từ này ở th́ quá khứ[17]. Tuy nhiên, có người b́nh luận bằng cách nói rằng ư nghĩa cụm từ “na hoti kiñci” (chẳng có ǵ hết) lại là rāgādikiñcanaṃ yassa na hoti (đối với người chẳng có bất kỳ công việc ǵ (kiñcana) dưới dạng tham dục v.v…[18]); đây là điều không chính xác, thực tế là giáo lư được truyền lại bằng những điều tạo ra của cải (pariggaha); điều này chỉ thích hợp khi đề cập đến các chiếm đoạt (holdings) tham dục v.v…trong đó c̣n bao gồm một số điều có khả năng chiếm đoạt được (pariggahetabbassa [19]) trừ khi [20] ư nghĩa chính là những ǵ ta có được, liên quan đến cả những chiếm đoạt (holdings) đơn giản như thể tham dục v.v… chẳng có ǵ, ngay cả các chiếm đoạt (holdings) nhỏ nhất đă không trở thành trở ngại vậy, thực chất ta có được điều đó đối với những ai không có chiếm đoạt (holdings) làm điều kiện để có được hạnh phúc, một thứ hạnh phúc đích thực, chứ không phải bất kỳ hạnh phúc nào và sợ rằng có người sẽ hỏi đối với những ai không có ǵ [21], Ngài đă nói. “Đối với người nào đă xem Phật Pháp là quan trọng đối với vị nào đa văn Phật Pháp (saṅkhātadhammassa [22]bahussutassa [23]) : bất kỳ ai coi trọng Phật Pháp và thực hiện những ǵ phải làm thông qua hoàn tất được mười sáu phận sự lấy tứ thánh đạo[24] làm căn cứ (saṅkhāhi), thực tế là kết quả của người đă nghe nhiều và thấu triệt[25] là người đă lắng nghe rất nhiều đối với vị đó chính Đức Thế Tôn, sau khi đă chỉ ra cho thấy những lợi ích về pháp không sở hữu bất kỳ điều ǵ liên quan, đă nói, “Ḱa nh́n xem người đó có quá nhiều tham vọng (holdings)” v.v…Ngài chỉ ra cho thấy mối hiểm nguy nơi những chiếm đoạt (holdings) có liên quan. Đây chính là ư nghĩa Bậc đạo sư, sau khi động tâm Phật Pháp Ngài thốt ra từ trong tâm Ngài mà rằng, “Kẻ nào sở hữu những chiếm đoạt (holdings) liên quan dưới dạng tham dục v.v… và dưới dạng của cải vật chất[26] ḱa nh́n xem người đó, do kết quả cùng một thực tế là có nhiều chiếm đoạt, xuất hiện sầu khổ, trải qua cảnh túng quẩn,[27] thông qua những bổn phận và nghĩa vụ làm nhân duyên cho việc t́m kiếm và bảo vệ những tham dục (ước muốn giác quan) cả lợi lộc lẫn mất lợi lộc[28] và qua chấp thủ cùng một thứ đó bằng cách khẳng định,“Ta, của Ta” [117] Quần chúng thuộc hạng người gắn kết với người thân (jano janasmiṃ paṭibandharūpo [29]: biến chính ḿnh trở thành tha nhân nơi những ǵ liên quan đến tha nhân, người đó gặp sầu khổ và chịu cảnh khốn cùng, như thể người đó tự bản chất lệ thuộc[30] vào ái dục (mà thực chất bản chất đó là của tha nhân), nghĩ rằng “của người đó chính là của ta, người đó là ta vậy” (Paṭibaddhacitto[31]) chính hạng người này với tâm phụ thuộc vật chất cũng là cách giải thích; và ta cũng nên giải thích ư nghĩa này giống như cách ghi trong đoạn Kinh Phật sau đây: “Con trai của ta, tài sản của’ – người ngu dại khờ nghĩ thế; v́ chẳng có ǵ là của ta cả.[32] thế th́ con cái do đâu mà ra, của cải do đâu mà xuất hiện?” (Dhp 62) v.v… Việc diễn giải Kinh Phật thứ năm đến đây là kết thúc.
-ooOoo- [1]. DPPN i 305 cho là người Icchānaṅgalaka là tên của người Phật tử ta nói đến ở đây. [2]. Xin đọc VS 109 n 124. [3]. Ce Be Se giải thích cũng vậy, c̣n bản văn lại ghi kattabbe pi. [4]. Be giải thích là uddhārasodhāpanādinā c̣n bản văn lại ghi là dhāranakehi uddhārasodhāpane. Ce Se ghi dhāraṇakehi uḷārasodhāpanādinā. Vll có rất nhiều, tất cả các cách giải thích xem ra không chắc chắn lắm. [5]. Vāraṃ; có thể theo nghĩa đen là chiều hướng (các biến cố), cơ hội. [6]. Chính đây là cách giải thích của Be Ce Se c̣n bản văn lại ghi yo ’yan. [7]. Ce Be Se giải thích là ekaccehi ekaccehi c̣n bản văn ghi ekaccehi mà thôi. [8]. Be giải thích là kehici kehici c̣n bản văn Ce Se chỉ ghi kehici mà thôi; một điều không rơ ràng là liệu ta có nên hiểu đây có phải là một cách giải thích khác về cùng một cụm từ hay Dhammapāla giờ đây lại đang nói đến các ấn bản của Phật Tự Thuyết giống như Ee lại giải thích là kehici hơn là dùng tới kehici kehici. [9]. Ādarābhāvaṃ; Ce Se giải thích là Ādarabhāvaṃ, có quan tâm, Be ghi là gāravaṃ, ḷng kính trọng, tôn kính. Nhưng chắc chắn bản văn là chính xác, v́ chính do thiếu kính trọng để gặp Bậc đạo sư lại có liên quan đến việc chậm trễ xảy ra, như câu văn sau đây h́nh như đă khẳng định điều đó. [10]. Be Ce Se giải thích là hi; bản văn lại bỏ qua. [11]. Kiccaṃ, karaṇīyaṃ và kattabbaṃ cả ba đều là danh động từ của karoti có nghĩa là làm hay thực hiện, trong khi đó kiccaṃ lại c̣n là một thuật ngữ “nhiệm vụ”; xin đọc chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 218 h́nh như đoạn này cho thấy cả ba đều chỉ là các từ đồng nghĩa mà thôi. [12]. Điều này không nhất thiết là từ bỏ việc duy tŕ, ở trên lại là ādarābhāvaṃ, v́ ngài không muốn nhấn mạnh rơ ràng đến bất kỳ sự thiếu tôn trọng nào về phía ngài, tuyệt đối ngay cả đây có thể là điều những hành động của ngài muốn ám chỉ. [13]. Ce Be Se giải thích sakiñcanabhāvena, c̣n bản văn ghi là kiñcanabhāvena. [14]. Ce Be Se giải thích là oparidīpanam eva, c̣n bản văn ghi là odīpanam eva. [15]. Ce Be Se (và đoạn kệ) giải thích là tassa c̣n bản văn ghi là assa [16]. Bản văn đă chèn lầm từ ti vào đây; Ce Be Se lại bỏ qua. [17]. Atītakālavasena rất có thể đây là một từ ngữ pháp ám chỉ quá khứ, hay chỉ đơn giản là một khẳng định liên quan đến một số biến cố quá khứ, v́ Phật Tự Thuyết trong trường hợp này không có ǵ liên quan đến hiện tại cả. [18]. Từ kiñcanaṃ thường được giải thích là “tài sản” hay “đồ dùng cá nhân”, được sử dụng ở đây để ám chỉ hoặc là những ǵ thuộc nội phần khi chứng tỏ ba căn bất thiện về tham dục, sân hận và si mê (chú giải D iii 217; Trung Bộ Kinh (M) i 298; S iv 297; v.v…) hay những ǵ thuộc của cải bên ngoài, khi muốn ám chỉ của cải vật chất (chú giải dưới đây) DA 944. MA ii 354, SA iii 99 khẳng định rằng khi tham dục v.v… nổi lên th́ chúng gây cản trở cho chúng sanh; cũng trong AA ii 321 giải thích kiñcanaṃ (trở ngại) như là một trở ngại (Pālibodha). Hay nói cách khác là điều ǵ đó cầm giữ con người lại, chính v́ thế sự lựa chọn (trở ngại) là điều ám chỉ hoặc là “điều kềm kẹp, trói buộc, gây ảnh hưởng đến” (Tự điển nghiên cứu tại gia. Tr. 348) (home study Dictionary) hay là ám chỉ “những sở hữu vật chất.” (của cải). [19]. Bản văn đă chèn lầm từ ti vào đây; Ce Be Se lại bỏ qua. [20]. Atha vā; thường được giải thích là “hay nói cách khác”. Be không chèn thêm bất kỳ một cách chấm câu nào vào điều này, mà tôi đang chờ phải có cách chấm câu ở đây. [21]. Ce Be Se giải thích là na kiñcanaṃ, không có tài sản, bản văn ghi là na kiñci, nhưng Dhammapāla chắc chắn giờ đây lại muốn ám chỉ trở lại đoạn kệ. [22]. Ce giải thích là saṅkhatadhammassa; chú giải SA iii 77 giải thích là tīritadhammassa, tulitadhammassa. [23]. Ce Be Se giải thích cũng như vậy và bản văn Ud th́ ghi là bahusutassa. [24] Chú giải Vv-a 231 trong đó có ghi katakicco (là vị phải thực hiện điều cần phải làm) được giải thích dưới dạng mười sáu nhiệm vụ, về điều này hăy đọc chú thích về chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 68 ở trên và Vv-a 73. [25]. Ce Be Se giải thích là paṭivedhabāhusaccena; c̣n bản văn ghi paṭivedhabahusaccena; bāhusacca chỉ đơn giản là một từ trừu tượng của từ bahussuta. SA iii 77 chỉ ra cho thấy rằng chúng ta có thể là một bahussuta (là kẻ đă nghe nhiều) hoặc bằng cách thông qua các bản văn kinh Phật hay học pháp (pariyatti) hoặc là thông qua cách quán triệt hay pháp thành (paṭivedha); cũng xin đọc chú giải Thag-a về Thag 1019 trong Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 24 người ta nói rằng Ānanda là tối thượng đa văn bahussuta (vị đă nghe nhiều) trước Đại Hội Thứ Nhất, và như vậy sau khi Đức Phật viên tịch, ngài vẫn tiếp tục, nhờ ngài đă đạt đến bậc A-la-hán, ngài cũng trở thành bahussuta (vị lắng nghe nhiều) theo một nghĩa khác nữa. Bahussuta cũng có thể được giải thích là “thông thuộc hơn” như là “hiểu biết hơn” hay “học tốt” nhưng cách dịch theo nghĩa đen của từ này sẽ giúp nhắc nhở ta không những về bản chất chủ yếu truyền khẩu về truyền thống Phật Giáo, chú giải cho thấy bằng cách nào từng kinh Phật cũng như hầu hết các kinh Phật đó đều bắt đầu với cụm từ evam me sutaṃ - nhưng c̣n cho thấy vai tṛ của việc lắng nghe Phật Pháp nơi các truyền thống khác trong tiểu lục địa Ấn Độ, về điểm này từ Sruti là một ví dụ điển h́nh quan trọng nhất. [26]. Ce Be Se giải thích āmisakiñcanānañ ca, c̣n bản văn ghi là na akiñcanānaṃ. [27]. Ce Be Se giải thích là vihaññamānaṃ vighātaṃ c̣n bản văn ghi là vighātaṃ; xin đọc chú giải Pv-a 150 cũng một định nghĩa như vậy. [28]. Ce Be Se giải thích là aladdhānañ ca laddhānañ ca bản văn giải thích là aladdhānañ ca. [29]. Se giải thích là paṭibaddharūpo. [30]. Paṭibaddhasabhāvo; Be giải thích là paṭibandhasabhāvato, v́ chúng ta là kẻ có bản chất dễ bị tấn công. [31]. Xin đọc chú giải Phật Tự Thuyết sau đây chẳng có một tính kiên định đặc biệt nào trong việc đọc những ấn bản đa dạng đó, trong Phật Tự Thuyết II 5, Se giải thích là paṭibaddharūpo cũng như trong Ud-a Se) c̣n bản văn Be ghi là paṭibandharūpo, trong khi đó Phật Tự Thuyết II 6 Se giải thích là paṭibaddhacitto c̣n bản văn Be ghi là paṭibandhacitto. Se lưu ư rằng bản văn Be là một vl và Be ghi lại hai vll: đó là Se và paṭibandharūpo tiếp theo sau đó. (?) cho dù có giống như nhau theo cách giải thích trong II 5. Tập chú giải về II 6 chỉ đơn giản cho ta thấy những ǵ đề cập đến ở II 5, hàm ư rằng những khác biệt như vậy không xuất hiện trong những phiên bản xuất hiện trước tác phẩm Dhammapāla. [32]. Attā hi attano ’atthi; hoặc giả bản ngă chẳng phải là của chính ta. |
|