NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5. VỚI LONG VƯƠNG

Trong Kinh Phật thứ năm[1]: Tại Kosambi (Kosambiyaṃ): trong thành phố có tên gọi là Kosambi, liên quan đến việc thành phố này được xây dựng trên một cảnh quan có rất nhiều các thầy Rishi tên là Kusumba đang cư trú trong đó. Tại hành xứ Ghosita (Ghositarame): trong một nơi nghỉ ngơi do một thương gia giàu có tên là Ghosita xây cất.  Đức Phật đang lưu lại tại hành xứ đó, có rất đông dân chúng vây quanh (Bhagavā ākiṇṇo viharati):  do đang phải chịu chứng sung huyết hành, Đức Phật đang lưu lại tại đó. Nhưng tại sao ngài lại bị chứng sung huyết hành, hay đây chỉ là một liên hợp[2] mà thôi ? Chẳng có sự ǵ xảy ra cả, v́ chẳng có ai có thể đến gặp Đức Phật[3] nếu không được ngài đồng ư. V́ chính Thế Tôn Chư Phật đang gặp khó khăn[4] và ngay cả những người nào đă không hề bị ô uế dưới bất kỳ h́nh thức (cũng bị như vậy). Nhưng v́ Ngài là Đấng chỉ biết t́m kiếm hạnh phúc cho chúng sanh, do ḷng thương xót chúng sanh đó, Ngài đă đồng ư cho tám nhân vật[5] thỉnh thoảng đi đến gặp Ngài nhằm mục tiêu giúp họ vượt qua tứ bộc lưu[6]phù hợp với lời Đại nguyện (Great Vow) trước đó là, “Khi nào (Ta) đă được giải thoát, (ta) sẽ giúp cho chúng sanh cũng được giải thoát như vậy.”[7] Do ḷng từ tâm được khuấy động lên, trong khi đó Ngài biết rơ thời điểm nào là thuận tiện, để Ngài đồng ư cho chúng sanh có thể đi đến gặp Ngài. Đây là thói quen Chư Phật thường làm như vậy, đó là ư nghĩa muốn ám chỉ ở đây, trong trường hợp hiện nay, do việc Ngài lưu lại (với điều kiện) giữa chúng sanh khiến cho họ có thể vây quanh Ngài. Hơn thế nữa, cũng chính trong hoàn cảnh này vị Đạo sư đă đưa ra những lời động viên dân chúng bằng cách nói rằng, “Chính v́ chẳng bao giờ những t́nh trạng thù địch lại được xoa dịu bằng tính thù địch bao giờ.” v.v… (Dhp 5) Sau khi đă kể lại chuyện kể[8] về nhà vua Dīghīti[9] Kosalan cho các vị Tỳ khưu Kosambikan hay lư sự nghe, trong ngày hôm đó ban đêm đă nhường chỗ cho ban ngày cho đến khi họ tham gia cuộc thảo luận đó. Ngày thứ hai Đức Phật cũng thuật lại cùng một câu chuyện như vậy, chính ngày hôm đó đêm cũng lại nhường chỗ cho đến rạng đông cho đến khi họ hoàn tất tranh luận. Vào ngày thứ ba Đức Phật cũng kể lại cùng một chuyện kể như ngày hôm trước, sau đó có một vị Tỳ khưu nọ đă thưa với Đức Phật những lời sau đây : “ Thưa Đức Thế Tôn, mong rằng tỏ ra vô tư [10] cho phép chúng tôi[11] được lưu lại nơi hạnh phúc bất tận này, với những điều kiện cụ thể. Chúng tôi đă học hỏi[12] được rất nhiều điều từ những cuộc tranh căi, từ những cuộc thảo luận, từ những cuộc bất ḥa này và từ những cuộc bất đồng này.” (Vin i 341).  [249] Đức Phật lư luận: “Xuất phát từ những tâm mệt mỏi ră rời này, quả  thật  là những chúng sanh vô dụng!  Quả thật vào lúc này ta không thể lôi kéo họ tập trung chú ư vào những điều như vậy được; và ở đây chẳng có sự ǵ có thể níu kéo họ tập chung chú ư[13] cả. Giờ đây điều ǵ sẽ xảy ra nếu ta quyết định thực hiện cuộc sống Du Sĩ cô độc một ḿnh?  Theo cách này,  chắc hẳn các vị Tỳ khưu này sẽ ngừng không c̣n tranh luận với nhau nữa.” Theo cách này, sau khi đă chọn trú xứ trong cùng một thiền viện duy nhất cùng với các vị Tỳ khưu là những người thường tạo ra những cuộc tranh luận được lưu lại với ngài (với điều kiện) họ cùng lưu lại vây quanh ngài,[14]do thiếu vắng bất kỳ người nào có khả năng hướng dẫn họ, cũng như để chúng sanh có thể đi đến gặp Ngài v.v… V́ lư do đó có lời nói rằng “Và vào dịp đó Đức Phật đă lưu lại, có đông đảo chúng sanh vây quanh Ngài” v.v.. Về điểm này:

Khó chịu (dukkhaṃ): không dễ chịu, ư nghĩa ở đây là với những điều kiện không đáng ước ao do họ không cảm thấy hài ḷng. V́ lư do đó Ngài nói, “Ta lưu lại đây…không mấy thoải mái.” Tách biệt (vūpakaṭṭho): rút lui[15], giữ khoảng cách xa. Và sau khi lư luận theo cách đó, Đức Phật đă thực hiện nghi lễ rửa thân rất sớm, ngài du sĩ vào thành Kosambi để t́m kiếm đồ khất thực và rồi, không hỏi han bất kỳ ai, ngài đă ra đi một ḿnh, chẳng có ai theo hầu, và ngài đă ngồi thiền dưới gốc cây Sala đầy triển vọng, trong cánh rừng rậm dầy đặc trong vùng Pālileyyaka nằm trong vương quốc Kosala, v́ lư do đó có lời nói rằng: “Thế rồi Đức Phật đắp y cà sa vào buổi sáng sớm đặc biệt ngài… ngồi dưới gốc cây Sala đầy triển vọng (trong cánh rừng rậm Rakkhita trong vùng Pārileyyaka.)” Về điểm này:

Chính ngài (sāmaṃ) tự ḿnh ngài (sayaṃ). Gói lại cất đi (saṃsāmetvā): lấy đi. Đắp y cà sa và lấy bát khất thực (pattacīvaram ādāya) liên quan đến vấn đề này, đây là điều được truyền đạt lại và cũng được phân tích với từ sāma (chính ngài.)[16] Các đồ đệ của ngài (upaṭṭhake): không tham khảo những cư dân trong thành Kosambi là những đồ đệ của ngài, như thương gia giàu có Ghosita v.v… ở trong thiền viện, đồ đệ chính của ngài là Trưởng lăo Ānanda. Cùng đi với Đạo sư theo mệnh lệnh xuất gia[17], có năm trăm vị Tỳ khưu nói với Trưởng lăo Ānanda rằng. “Hỡi Ānanda, Đức Phật đă tự bỏ đi có một ḿnh; chúng ta phải đi theo ngài,” (tiếp theo sau đó Trưởng lăo Ānanda) đă ngăn cản họ nói rằng, “Hỡi chư huynh, vào thời điểm như vậy, Đức Phật đă tự thu xếp đồ đạc, rồi lấy bát khất thực đắp y cà sa và ngài đă ra đi không có người theo hầu, cũng không tham khảo ư kiến các đồ đệ, không dặn ḍ Tăng đoàn bất kỳ điều ǵ cả, vào những thời điểm đó chính là cách Ngài bố trí để du sĩ một ḿnh vào trong hoang địa. Các vị đồ đệ phải thực hiện những ǵ thích hợp với cách sắp xếp của Đạo sư vậy, chính v́ thế, vào những ngày đó, không có ai đi theo ngài cả.” Ngài cũng chẳng đi theo ai cả. Dần dà[18] (anupubbena): vào đúng lúc; đang khi c̣n du sĩ trong các chuyến du sĩ từ làng nọ đến làng kia và tiếp theo sau đó là tới các khu chợ. Ngài đă đến khu nghỉ ngơi (hành xứ) Bālakaloakāra[19] nghĩ rằng chắc hẳn trước tiên ngài sẽ gặp một vị Tỳ khưu đang thực hiện chuyến du sĩ đơn độc ở đó, ngài đă đàm đạo với Trưởng Lăo Bhagu[20] tại đó về những thuận lợi liên quan đến cuộc sống du sĩ đơn độc, trong những câu chuyện kéo dài suốt ban chiều  và ban tối[21] nhưng c̣n kéo dài suốt  ba canh khuya, lại lên đường khất thực vào buổi sáng ngày hôm sau cùng với ngài Trưởng lăo Bhagu đóng vai một vị sa môn đi hộ tống ngài. (Sau đó) th́nh ĺnh ngài đă ra hiệu cho Trưởng Lăo ra đi và rồi ngài đi về hướng đông một ḿnh khu công viên Rừng Tre Con Nai[22]nghĩ rằng ngài có thể gặp được ba Đại đệ tử[23] đang sống tập thể chung với nhau ở đó,[250] ngài cũng[24] đă tṛ chuyện với họ, suốt đêm[25] về những điểm thuận lợi do cuộc sống tập thể hoà đồng đem lại. (sau đó) th́nh ĺnh ngài lại rời bỏ những Đại đệ tử này và rồi tự ḿnh đi tới một ngôi làng[26] tên là Pārileyya. Cư dân trong làng Pārileyya cũng đă đem đồ khất thực cúng dường cho Đức Phật sau khi đi đến gần để gặp ngài. Tại đó họ đă cho dựng một căn cḥi lợp lá làm nơi cư trú cho Đức Phật, cũng có một cánh rừng rậm tên là Rakkhita[27] không xa ngôi làng Pārileyya là bao, và rồi họ khẩn cầu Đức Phật mà rằng, “Xin  Ngài ngụ lại đây”, và Ngài lưu lại đó theo lời thỉnh cầu của họ. Hơn thế nữa, cũng có một cây Sala đặc biệt, hấp dẫn và mang điềm lành[28] đến cho dân làng, người ta gọi là “cây Sala triển vọng” Đức Phật đă lưu lại đó, sống nhờ của bố thí của dân làng ngay dưới gốc cây gần căn cḥi lá trong rừng sâu, v́ lư do đó có lời nói rằng, “Ngài đă lưu lại, ngay dưới gốc cây Sala triển vọng trong cánh rừng Sala trong vùng Pārileyyaka. Long Tượng (hatthināgo): là con voi to lớn,[29] là con voi đầu đàn. Cũng có những chú voi con[30] (hatthikalabhehi): do chúng có tuổi đời c̣n nhỏ. Có những con voi mới sanh (hatthicchāpehi) những con voi nhỏ c̣n đang bú mẹ[31] cũng có tên gọi[32] là “Bhiṅkas.[33]Đầu lưỡi bị cắt đứt (chinnaggāni): chú voi chỉ ăn cỏ[34] thế nên đầu lưỡi đă bị sước đứt, toàn bộ vẫn c̣n y nguyên, sau khi những con voi khác[35] đă ăn mất v.v…v́ chúng đi trước chú voi này, tương tự như những chân răng. Liên tục bị kéo xuống (obhaggobhaggaṃ). Long Tượng liên tục đốn ngă (những con voi trong đàn) bằng cách bỏ lại đàng sau tại những vị trí cao (trên núi). Cành cây dành phần của (Long Tượng) (assa sākhābhaṅgaṃ): (Bầy voi) đă ăn cả phần cành cây dành cho (Long Tượng). Điều đó gây xáo xộn (āvilāni): (Long Tượng) đành uống phần nước đă bị khuấy đục lẫn lộn với bùn đất, liên quan đến thực tế là nước đă bị khuấy đục lên khi đàn voi đă chạy qua khúc suối đó. Long Tượng cũng đành phải uống nước đă bị khuấy đục. Ra khỏi chỗ tắm (ogāhā): thoát ra khỏi khúc suối, đă vượt qua ogāha, là một từ Kinh Điển Pāli[36]. Của nó (assa): phần thuộc về Long tượng. Cọ sát chen lấn (upanighaṃsantiyo): đụng phải; ngay cả đă bị chen lấn như vậy, Long tượng cũng không tỏ vẻ bực tức. Do bản chất (thân h́nh) to lớn, do đó luôn bị các con voi khác liên tục cọ sát với long tượng. Xuất phát từ đàn voi này (yūthā): xuất phát từ đàn voi này. Đă đi đến[37] gặp Đức Phật (yena Bhagavā ’ upasakami): người ta kể lại rằng khi Long tượng đă chạy vào rừng sâu do không muốn sống theo bầy nữa, Long Tượng đă gặp Đức Phật trong rừng và đă dịu lại giống người vừa thoát khỏi mọi căng thẳng tra tấn do hàng trăm hàng ngàn b́nh đựng nước xối vào đám cháy. Và với tâm[38] thành kính, long tượng đă phủ phục trước Đức Phật, sau  đó, Long Tượng đă chu tất nhiều nhiệm vụ[39] chính của ḿnh như: dọn sạch cỏ tại gốc cây Sala và nơi chiếc cḥi lá và sau đó c̣n quét dọn sạch sẽ những cành lá phần dành cho ḿnh, Long tượng c̣n đem nước cho Đức Phật xúc miệng và tắm rửa, đưa hầu ngài cả tăm xỉa răng, và sau đó c̣n dâng cho ngài cả trái cây ngọt ngào kiếm được trong rừng. Chính Đạo sư cũng đă sử dụng thoải mái những thứ đó. [251] V́ lư do đó có lời nói rằng. “Ở bất kỳ nơi nào Đạo sư lưu lại, ngay tại đó Long Tượng cũng đă dọn sạch cỏ, lại lấy ṿi[40] của ḿnh lấy nước uống cũng như nước tắm rửa dâng lên cho ngài.” Long Tượng cũng dùng ṿi thu gom củi đốt, cọ vào nhau lấy lửa nhóm lửa và đốt cháy[41]những khúc củi đó, làm cho những ḥn đá nóng lên, dùng cây gỗ thọc[42] vào những viên đá đó gạt xuống một hố[43] đá nhỏ và khi nhận ra b́nh nước đă nóng, Long tượng ta liền đem dâng cho Đức Phật và ngồi lại trước mặt Ngài. Khi  Đức Phật vừa xuất hiện, nhận ra rằng Long Tượng muốn ngài tắm, và chính Long tượng đă sửa soạn những ǵ liên quan dành cho Đức Phật tắm rửa vậy. Cũng áp dụng cùng một cách vừa nêu, Long tượng cũng sửa soạn nước uống cho Đức Phật, trừ khi Long tượng đến gặp Đạo sư vào lúc nước uống đă nguội. Liên quan đến vấn đề này có lời nói rằng, “Và dùng chiếc ṿi của ḿnh Long Tượng đă sửa soạn cả nước uống lẫn nước tắm cho  Đức Phật.[44]”. Thế rồi (tâm  Đức Phật khởi sanh suy nghĩ) liên quan đến những ai đang theo đuổi cuộc sống viễn ly ẩn dật (atha kho Bhagavato rahogatassa) v.v…là cách chỉ rơ cho thấy việc quán xét lại niềm vui bất tận[45] đối với cuộc sống viễn ly, liên quan đến cả hai long tượng với thân h́nh lớn này. Đây cũng chính là ư nghĩa như đă được khẳng định ở trên.

Thẩm định lại chính cuộc sống viễn ly (ẩn dật) của ḿnh (attano ca paviveka viditvā: ư thức được pháp viễn ly thân ngài thực hiện là do kết quả ngài không tu tập lại với bất kỳ ai, tuy nhiên những cách viễn ly khác[46]lúc nào cũng tồn tại nơi Đức Phật. Tập Phật Tự Thuyết này (ima udāna): Điều này khiến khởi sanh tập Phật tự Thuyết này nhằm làm sáng tỏ đặc tính giống nhau về khuynh hướng liên quan đến niềm sung sướng có được nơi cuộc sống viễn ly (ẩn dật) nơi chính ngài và về Long Tượng (naga). Ở đây mới chỉ là ư nghĩa ngắn gọn được trưng ra[47] mà thôi.

Tâm của Long Tượng của con vật có ngà giống những chiếc sào, con vật có ngà trông giống như chiếc trục xe[48], trùng khớp với, phù hợp với. Tâm Long tượng với tâm Long Phật. Sợ rằng (được hỏi) sao điều đó có thể trùng khớp được. – Về việc một ḿnh Ngài được cảm khoái trong hang động, v́ giống như Long Phật (Buddha-naga), Khi ngài chấp nhận cuộc sỗng viễn ly (ẩn dật) sau khi đă khiếp sợ việc tu tập nơi đông người vây quanh, ngài nghĩ rằng, “Trước kia ta đă lưu lại giữa nơi đông người tụ họp lại,” giờ đây ta được cảm khoái[49], hoan hỷ, một ḿnh, chẳng có bạn hữu, trong hang động, nằm sâu trong rừng rậm. Cũng như vậy đối với Long Tượng (elephant-naga), đang lúc hưởng ứng cuộc sống viễn ly (ẩn dật) sau khi đă chán ngán cuộc sống  chung đụng trước đây với nhiều chú voi khác v.v…giờ đây được cảm khoái, thích thú, sống một ḿnh, không có bè bạn, trong hang động, nằm tận trong rừng sâu[50], chính v́ thế tâm con người này trùng khớp với naga, ư nghĩa ở đây là, giả như điều này trùng hợp với tâm của ngài (Đức Phật), th́ chính xác đây là điều tương đồng do (Long Tượng) có được cảm nhận pháp sống viễn ly (ẩn dật) một ḿnh đem lại.

Đến đây kết thúc phần diễn giải Kinh Phật thứ năm.


 

-ooOoo-


[1]. Điều diễn tiến tiếp theo được giả định là rất quen thuộc với các tập chuyện kể trong Vin i 337tt, J iii 486tt và Dhp-a i 53tt, các chi tiết ở đây chỉ mang tính chất tŕnh bày ngắn gọn mà thôi.

[2]. Chú giải Ud-a 231 tt ở trên đối với năm loại bất liên hợp (không tương hợp)

[3]. Ce Be Se giải thích là Bhagavanta c̣n bản văn ghi là Bhagavato.

[4]. Durāsadā chú giải Vv-IV 12 v 16 và Vv-a 213, khẳng định rằng Đức Phật là như vậy v́ Ngài là Đấng ta không thể đi tới gần được nhất là những người không có đủ tư cách cần thiết để thực hiện điều đó, và cũng v́ chẳng có người nào có thể tấn công Ngài được. Xin cũng đọc Ud-a 281 dưới đây về vấn đề này và về ân đức của vô lậu.

[5]. Người nào thiết lập được nơi thánh đạo và thánh quả Nhập Lưu, thánh quả Nhất Lai, thánh quả Bất Lai và thánh quả A-la-hán –  Chú giải Trung Bộ Kinh (M) i 37 v.v…

[6].  Chú giải D iii 230 v.v…; thường thường được coi ngang bằng với bốn phiền năo.

[7]. Như trong Chú giải Ud-a 133 ở trên. 

[8]. Vin i 342tt; được tóm lược trong Dhp-a i 56.

[9]. Chú giải Ce Be Se Vin i 342 giải thích là Dīghītissa Kosalarañño c̣n bản văn Dhp-a i 56 ghi là Dīghatissakosalarañño (tác giả Burlingame (BL i 177) coi như là “Dīghati Kosala” nếu như là một từ ghép thực sự th́ có lẽ phải ghi là “Vị vua người Kosalan tên là Dīghatissa”)

[10]. Appossukko –  chú giải Ud-a 163 ở trên; cũng như Ud 64 và Ud-a 327 dưới đây, ta dịch trong một cuộc nói chuyện với Ma vương, theo nghĩa đen là “ít hăm hở hơn một chút”  

[11]. Anuyutto; Burlingame (BL i 177) giải thích là “cuộc sống không hoạt động” rất có thể được giải thích trật là anuyyutto.

[12]. Paññāyissāma; dịch theo nghĩa đen, chúng ta sẽ trở nên nổi tiếng, nhưng theo  chú giải Childers sv paññāyati, lại đề nghị một ư nghĩa là: tự làm cho ḿnh nổi tiếng/ đáng lưu ư. H́nh như Burlingame cũng theo cách giải thích này, (BL i 177) Tuy nhiên Cô Horner lại b́nh luận thêm như sau “chúng ta sẽ được coi trọng hơn” (B Disc iv 489) Vin-a không b́nh luận ǵ về điểm này, theo Tập chú giải Vin ii 134. th́ vị Tỳ khưu có liên quan lại là một vị adhammavādin, nhưng chiếu theo Dhp-a i 55. adhammavādin rất có thể là in sai, v́ Burlingame dịch là  “một vị đạo sư dị giáo” (BL i 177) một điều không rơ ràng là không hiểu ngài tự ám chỉ một ḿnh hay c̣n ám chỉ đến các vị Tỳ khưu hay tranh luận nữa.

[13]. Saññāpitabbā; Ce Be giải thích là Saññāpetabbā, Se Saññāpītabbā.

[14]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ākiṇṇavihāra c̣n bản văn ghi là  ākiṇṇakavihāra.

[15]. Chú giải Be giải thích là pavivekaṭṭho, theo đuổi cuộc sống sa môn, c̣n bản văn ghi là vavakaṭṭho, Ce Se chỉ đơn giản nhắc lại là vūpakaṭṭho liên quan đến từng  cước chú;  chú giải Ud-a 174.

[16]. Khi đoạn văn này trở thành “chính ngài  khăn gói rời khỏi những nơi cư trú và rồi, chính ngài tự lấy bát khất thực và mặc y cà sa.” (hơn là để cho đồ đệ của ngài mang bát khất thực và y cà sa cho ngài.)

[17].  Chú giải Ce Be Se giải thích là gate c̣n bản văn ghi là gato.

[18]Chú giải SA ii 304 liên quan đến những ǵ diễn ra tiếp theo sau đó.

[19].  Chú giải Be Vin giải thích Bālakaloakāragāma  c̣n bản văn Ce Se SA Dhp-a ghi là Bālākaloakārāma, là ngôi làng của các cư dân Bālakaloakāra;  Chú giải Be B Disc i 500 n 4. Theo nghĩa đen, Bālaka. (ngôi làng) của những thợ làm muối.

[20].  Chú giải Vin i 350.

[21]. Pacchābhatta; nghĩa đen (giai đoạn nghỉ) tiếp theo sau bữa ăn trưa. 

[22]. Pācīnavasamigadāya; Vin chỉ ghi đơn giản là  Pācīnavasadāya

[23]. Ba vị Đại thinh văn của Đức Phật (Anuruddhas) như  ghi trong Vin i 350tt. 

[24].  Chú giải Ce Be Se giải thích là pi, c̣n bản văn lại bỏ qua.

[25]. Thay v́ SA nhắc lại, “Không những toàn bộ buổi chiều và buổi tối  mà c̣n suốt cả ba canh trong đêm.”

[26]. Theo SA, đó là thành phố chính thành phố đó.

[27]. Canh giữ hay được bảo vệ; theo Dhp-a i 59, được gọi như vậy là v́ thành phố được các tượng binh là bạn thân của Đức Phật, canh pḥng cẩn mật về ban đêm. 

[28].  Chú giải Ce Se và  SA (vl) giải thích là laddhako, chú giải Be ghi laddako, c̣n đối với bản văn SA lại ghi là laṭṭhako; tự điển PED không có mục từ nào dành cho từ laddhaka, nhưng  chú giải Childers cũng có giải thích sv.

[29]. Mahāhatthī; cũng như cả trong chú giải Vin-a 1152, Woodward đă giải thích từ Hatthināga, là chú voi đực (bull-elephant) và có lẽ cũng theo ông, cô Horner và Ireland (v́ họ cũng đă thực hiện việc giải thích đoạn kệ hầu như rất phù hợp với tập chú giải.) Nhưng ngài Burlingame chỉ giải thích là “coi” mà thôi. trong khi đó Tự điển SED lại dịch từ hastināga là “cỗ voi đắt giá”. Trong phần giải thích hiện giờ h́nh như ta nên hiểu từ ghép hatthināga là “voi tiên” hiểu theo nghĩa một con voi khổng lồ – hơn là một nāga thuộc loại hatthi . SED, sv mahāhastin, chỉ được ghi vào danh sách có ư nghĩa “ có bàn tay lớn” ; c̣n ghi trong mahāhatthi ở M i 184 do bởi PED, sv mahant dường như được căn cứ vào sự hiểu nhầm tựa đề của kinh điển, mà mahā có đủ tiêu chuẩn trong kinh điển, hơn hatthi, và sự ghi vào danh sách rất có thể bị xoá đi.

[30]. Những diễn tiến tiếp theo,  xin đọc chú giải Vin-a 1152.

[31]. Chú giải Be giải thích là khīrūpagehi, Vin-a (vl) khīrūpakehi, là một công thức sữa, c̣n bản văn Ce Se khīrapakehi. Từ ghép khīrūpaga không thấy mô tả những nét đặc trưng trong những ǵ đă được đề cập đến trong tự điển CPD mục từ sv upaga. 

[32]. Chú giải Ce Be giải thích là pi vuccanti (Se pī vuccanti)  c̣n bản văn ghi là pavuccanti.

[33]. Được gọi là như vậy v́ chúng liên tục phát ra âm thanh “bhi” – SA ii 231, S ii 269 (=Vin ii 201)

[34]. Tiāni; Be bỏ qua.

[35].  Chú giải Ce Be Se giải thích là tehi; c̣n bản văn bỏ qua.

[36]. Khi người ta coi đó như là một loại  amul Bất Nhị tức là “vừa khi trồi lên sau khi lặn hụp xuống chú giải  EV ii 71tt về Thig 48

[37]. Về những ǵ diễn tiến tiếp theo; xin đọc chú giải SA ii 305.

[38]. Pasannacitto; hay với tâm thanh thản

[39]. Vattasīse hatvā; SA vattapaivatta karonto, bằng cách thực hiện đủ mọi nhiệm vụ Xin đọc SA i 174, ii 19, 53; It-a ii 25, 150

[40]. Sodāya ca; Be soṇḍāya, tuy nhiên, đây không phải là cách giải thích chú giải Ud (Be).

[41]. Chú giải Ce Be Se giải thích là jālāpetvā; c̣n bản văn ghi jalāpetvā, chẳng có từ nào được liệt kê trong tự điển PED.

[42]. Pavattetvā;  chú giải Ce Be Se giải thích là Pavaṭṭetvā.

[43]. Chú giải Ce Be Se giải thích là soṇḍiya c̣n bản văn ghi là sodīya; cả hai từ đều được định nghĩa trong  Thanh Tịnh Đạo 119.

[44]. Chú giải Ce Se giải thích là soṇḍāya ca Bhagavato (Be soṇḍāya Bhagavato); c̣n bản văn th́ bỏ qua.

[45]. Sukha; hay là dễ dàng.

[46]. Tâm viễn ly  và  sanh y viễn ly –  chú giải Ud-a 231 ở trên.

[47]. Những ǵ tiếp diễn theo sau đó chính là một cách sửa soạn giải thích công phu đưa ra trong chú giải Vin-a 1152, tức là. “V́ đối với một Long Phật th́ long tượng này cũng vậy chỉ cảm khoái có một ḿnh, sống ẩn dật trong hang động chính v́ thế tâm của nāga này trùng hợp với long tượng, có nghĩa là điều này hoàn toàn giống nhau do đặc tính cảm khoái riêng rẽ”

[48]. Chú giải Vv-a 104; với  cặp ngà giống hệt như cặp trục bánh xe, ư nghĩa ở đây là với cặp ngà hơi nghiêng nghiêng một chút.

[49]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ramati; c̣n bản văn lại bỏ qua.

[50]. Chú giải Be giải thích là vane araññe ramati abhiramati c̣n bản văn ghi là vane ekavihāra ramati abhiramati, Ce ghi là vane araññe ekavihāra ramati abhinandati, Se ghi vane ekavihāra ramati abhinandati. H́nh như những so sánh giữa hai đoạn cần được duy tŕ, ngoài trừ trường hợp Đức Phật không có vị cộng tác viên nào cả (adutiyo) và cỗ tượng đó cũng không có một bầu bạn nào cả (asahāyo).