NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. VỚI CÂY GẬY

Trong kinh Phật thứ ba: những chàng trai trẻ (kumārakā): những con trai. Giữa thành phố Sāvatthi và cánh rừng Jeta (antarā ca Sāvatthi antarā ca jetavana): từ antarā [1] đă được truyền lại liên quan đến lư do (có điều ǵ đó) như trong câu “Ngoài vị Như Lai ra, ở đây ai biết được điều ǵ liên quan[2] (tadantaraṃ)?[3] (Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 350; Av 140). “Quần chúng đang tụ tập lại với nhau và bàn luận về tôi về anh, có liên quan ǵ ở đây sao? (kim antaraṃ)? (S i 201) v.v…liên quan đến một biến cố ngắn ngủi như trong câu “ Ôi đức Thiện Thệ, có một người đàn bà đang rửa chén và nh́n thấy tôi, chỉ trong nháy mắt (vijjantarikāya) (Trung Bộ Kinh (M) i 448) v.v… liên quan đến tấm ḷng.[4] như trong câu, “người nào trong tâm không tồn tại giận hờn (antarato)(vin ii 184; Ud. 20) v.v…; [110] liên quan đến ở giữa, như trong câu, “người đó dừng lại giữa đường (antarāvosāna)” (It 85[5]) v.v…; và liên quan đến khoảng cách, như trong câu, “như vậy ḍng nước (Tapodā)[6] này, hỡi các vị Tỳ khưu[7] đă xuất hiện ở giữa hai địa ngục[8] to lớn”(Vin iii 108). Cũng trong trường hợp hiện tại, ta nên hiểu cùng một ư nghĩa như vậy theo cách sau đây, tức là trong khoảng cách giữa Sāvatthi và cánh rừng Jeta, và liên quan đến việc liên kết giữa từ antarā [9] về điểm này, đây lại là đối cách, tức là giữa Sāvatthi (Sāvatthi, đối cách) và cánh rừng Jeta (Jetavanaṃ, đối cách). Trong những trường hợp như vậy, các nhà ngữ pháp chỉ sử dụng[10] một từ antara duy nhất[11], tức là antarā gāmañ ca nadiñ ca gacchati (Ngài đi giữa ngôi làng và con sông) là điều cần phải được phân tích với từ thứ nh́; nhưng hiện nay, từ này được thốt lên sau khi đă được phân tích như vậy. Đang dùng cây gậy để đánh con rắn (ahiṃ daṇḍena hananti): đang dùng chiếc gậy đánh trên lưng con rắn, sau khi đuổi theo con rắn đang đói lả[12] ḅ ra khỏi hang (đi t́m đồ ăn).

Và vào dịp đó, Đức Thế Tôn đang trên đường đi từ Sāvatthi tiến đến khu rừng Jeta để khất thực, nh́n thấy những đứa trẻ đang dùng gậy đập con rắn đó, Ngài liền hỏi “Tại sao các cậu trai kia lại lấy gậy đánh con rắn thế kia?”, và người ta nói rằng, “v́ sợ bị rắn cắn[13]” điều này tạo ra một động tâm trong Phật Pháp nơi chúng sanh, Ngài nói, “Những đứa trẻ đánh con rắn này, tin rằng chúng sẽ tạo hạnh phúc cho chính ḿnh, nhưng đau khổ sẽ theo chúng đến bất kỳ nơi đâu chúng sẽ tái sanh[14] tiếp theo sau đó; ôi tâm đă bị vô minh mê muội!” và do động tâm trong Phật Pháp đó, Ngài đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này, v́ lư do đó và rồi Đức Thế Tôn được bảo cho biết. Về vấn đề này:

Thẩm tra lại vấn đề này (etam attha viditvā): một số người đă b́nh luận theo cách sau đây, tức là am hiểu vấn đề này, (ư muốn nói) rằng, những đứa trẻ đó do theo đuổi đau khổ v́ lợi ích hạnh phúc của kẻ khác chính chúng chẳng đạt được hạnh phúc cho chính ḿnh trong tương lai[15]; họ cho rằng việc t́m kiếm hạnh phúc cho tha nhân ác hạnh trong tương lai sẽ chỉ dẫn đến đau khổ mà thôi (trong khi đó việc t́m kiếm như vậy về phía những người có thiện hạnh chắc chắn sẽ dẫn đến hạnh phúc. Chính v́ thế Đức Thế Tôn đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này chỉ bằng phỉ lạc mà thôi, tức là người nào không gây hại cho người khác là những người thường xuyên tạo điều hạnh phúc; thực sự là những người tuân thủ những lời động viên của Ngài. Tuy nhiên có người lại cho rằng điều đang được thẩm định, như đối với mối hiểm hoạ, dưới mọi h́nh thức gây ra thù nghịch cho người khác do đám trẻ này được xúi giục theo cách đó [111] Ngài khiến khởi sanh chú giải Phât Tự Thuyết này[16] về mối hiểm họa và lợi ích tạo ra hiểm họa cho tha nhân và bi mẫn với người khác có liên quan. Về điểm này[17].

Mong muốn hạnh phúc (sukhakāmāni): ham muốn hạnh phúc nhờ ước ao hạnh phúc chỉ cho chính ḿnh. Chúng sanh (bhūtāni): các sinh vật. Người nào lấy gậy mà làm hại (yo daṇḍena vihiṃsati): “bằng cây gậy” về vấn đề này, Ngài tiếp tục giảng dạy như sau: hoặc có nghĩa là một cây gậy hay là một ḥn đá, một cây kiếm, một cú đấm v.v… hay nói cách khác bằng một cây gậy (daṇḍena) : bằng những trừng phạt (daṇḍanena [18]). Đây là điều được đề cập đến: kẻ nào,(người đó) gây hại cho, tạo mối thù địch, tạo đau khổ, bằng cây gậy bất kỳ là ǵ ngoài những cây gậy này, tức là bằng lời nói, bằng cách nói móc về ḍng dơi gia đ́nh v.v…[19] hay với một cây gậy về thân bằng cách đánh, đập hay cắt rời v.v… bằng tay, bằng búa, bằng kiếm v.v…hay bằng cách gây hại tài sản bằng cách áp đặt một h́nh phạt[20] hàng trăm hàng ngàn, toàn bộ thọ sanh[21] ước ao t́m kiếm hạnh phúc riêng cho ḿnh, sau khi chết, lại không đạt được hạnh phúc, t́m kiếm, đi t́m, ước muốn hạnh phúc cho chính ḿnh, sau khi đă mạng chung[22] lại không đạt được ba loại hạnh phúc, ngay cả ở đời sau, tức là hạnh phúc nhân loại, hạnh phúc thiên đường hay hạnh phúc Níp bàn, có nghĩa là, trái lại người đó chỉ nhận được đau khổ do chiếc gậy đó mà ra.

Sau khi mạng chung, không đạt được hạnh phúc (pecca so labhate sukhaṃ): con người đó, v́ có tính nhẫn nại, ḷng nhân ái và quán xét, kiên tŕ liên tục trong thu thúc thông qua thói quen[23]v.v… sau khi đă suy nghĩ ,“Chính v́ ta là người ước muốn hạnh phúc, là người đẩy lùi đau khổ, chính v́ thế mọi chúng sanh cũng muốn làm như vậy.” Đừng làm hại ai, đừng gây phiền hà cho ai hay cho bất kỳ chúng sanh bằng bất kỳ cây gậy nào như đă được khẳng định ở trên, đời sau sẽ được hạnh phúc nhân loại với tư cách là một con người, được hạnh phúc thiên đàng với tư cách là một chư thiên, giả dụ như vượt thắng được cả hai loại hạnh phúc đó, th́ hạnh phúc đó chính là Níp-bàn vậy; và liên quan đến vấn đề này, ta nói đến labhate (đạt được) có mục đích chỉ ra cho thấy rằng thứ hạnh phúc đó như là điều ở hiện tại, liên quan đến trạng thái không thể tránh khỏi [24] đối với một người thuộc loại đó. Cùng một phương pháp được áp dụng trong trường hợp đoạn kệ vừa đề cập đến nữa.

Đến đây kết thúc phần diễn giải Kinh Phật Thứ Ba.


 

-ooOoo-


[1]Nói về điều tiếp theo sau đây, chú giải thêm vào Ud-a 164 dưới đây. DA 34ttAA iii 75tt, Sn-a 20, It-a ii 95 và Sv-p I 61tt.  Xem thêm chú giải Ud-a 164 dưới đây. DA 34 =AA iii 75, tức là kāraakhaacittavemajjhavivarādisu vattati. Nhưng Ce Be Se lại bỏ qua.

[2]. Xin đọc chú giải tự điển CPD sv antara2 B 3, ở đó những ư nghĩa như vậy được coi như hiện trạng thực sự của một trường hợp, điều bí ẩn, bí mật được liệt kê. Điều này h́nh như có nghĩa là những ǵ đang diễn ra đàng sau mỗi màn tŕnh diễn vậy.

[3]. Bản văn Ce chèn thêm ca sau một lần trích dẫn; Be Se bỏ qua điểm này.

[4]. Citte; Sv-p ghi là hadaye.

[5].  Không phải là “Av 157” như được trích trong Ud-a 110 và AA  iii 76.

[6]. Nước nóng spa trong công viên Tapodā (được đề cập đến trong Vin iii 159; S i 8 Av 196) rất có thể được xác định với Brahmakund ngày nay tại thành Rājagaha. Những người Hindu tin rằng nơi này được nuôi dưỡng do một con sông bắt nguồn tại một ngọn đồi gần Gayā (tập chú giải nói đến Gayāsīsa trong Ud I 9) ngày nay ta cũng c̣n biết đến với tên gọi là Brahmayoni, từ đó con sông chảy ngầm dưới đất để cung cấp nước nóng spas cho Brahmakund, chú giải làm thế nào, trong SA i 38, lại được nói tương tự con sông chảy ngầm dưới ngọn đồi Vebhāra gần thành phố Rājagaha. Phần tham khảo, trong GS v 135. n 2 tới Ud-a 72) không c̣n nghi ngờ ǵ nữa phải được sửa lại để giải thích trong “Ud-a 110”   

[7]. Be và Vin giải thích là bhikkhave; bản văn Ce Se DA AA lại bỏ qua.

[8]. Theo như Vin-a 512 và SA i 38, hai địa ngục Cauldron trong cơi ngạ quỷ đă vây quanh thành Rājagaha.

[9]. Ce Be Se giải thích là antarāsaddayogato; bản văn ghi là antarāsaddena;  chú giải DA AA, ở đây lại giải thích là antarāsaddena pana yuttattā.

[10]. Bản văn Se ghi là payuñjanti; Ce Be ghi payujjanti.

[11]. Ce Be Se DA AA giải thích là ekam eva  c̣n bản văn ghi là ekaṃ.

[12]. Be giải thích là chātajjhatta c̣n Bản Ce Se ghi là chātajjhappatta;  chú giải VS 449 n 3

[13]. Be Se giải thích là ḍaṃsanao, ce ghi daṃsanao­, bản văn ghi là dasanāo, Dhp-a ghi asanao 

[14]. Ce Be Se giải thích nibbattaṭṭhāne, bản văn ghi nibbattanibbattaṭṭhāne.

[15]. Be giải thích parattha sukhaṃ c̣n bản văn Ce Se ghi là paramatthasukkhaṃ. Hạnh phúc theo ư nghĩa tuyệt đối. Parattha thường được giải thích là paraloke, nơi cơi đời sau (e.g. Pv-a 60; Sn-a 478).

[16]. Ce Be Se giải thích là imaṃ;  bản văn lại bỏ xót.

[17]. Về điều tiếp theo sau đây. chú giải Dhp-a iii 51 kết luận với lời khẳng định rằng cuối cùng vào cuối bài thuyết pháp có năm trăm thanh niên đă thiết lập được nơi thánh quả Nhập Lưu.

[18].  Ce Be Se giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là daṇḍakena, là một chiếc gậy; cả tự điển Childers lẫn tự điển PED đều không ghi bất kỳ mục từ nào đối với từ daṇḍana, nhưng tự điển SED sv lại khẳng định rằng từ này diễn tả hành động đánh, nện, xua đuổi hay trừng phạt, và rất có thể cũng là một cây gậy.

[19]. Ce Be Se giải thích là jāti-ādinā c̣n bản văn ghi là jāti-ādi.

[20]. Ce Be Se giải thích là hāpanavasena c̣n bản văn ghi kahāpaṇavasena bằng (một trăm hay một ngàn) kahāpaas  đồng tiền kahāpaṇa là một đơn vị tiền tệ. Cả tự điển Childers lẫn tự điển PED đều không có bất kỳ một mục từ nào cho từ  hāpana cả; tự điển SED, sv thāpana, lại đưa ra rất nhiều nghĩa. Cho dù một ít chứ không phải không có một từ nào thích hợp cả. 

[21].  Bản văn lại chèn thêm từ imāni; bản văn Ce Be Se lại bỏ qua.

[22]. Ce Be Se giải thích là pecca c̣n bản văn ghi là pacchā

[23]. Ce Be Se giải thích là sampattavirati c̣n bản văn ghi sampannavirati, điều này tạo thành một trong ba loại kiêng cử, các dạng khác là samādhānavirati, kiềm chế không tham gia và samucchedavirati, là kiềm chế diệt tận gốc rễ (nói cách khác là setughātavirati, kiêng không tàn phá cây cầu) xin đọc DA 305. MA i 203tt và chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 142tt để biết thêm chi tiết. Như đă lưu ư trong MR&I 154 n 87, nghĩa sampatta không thấy liệt kê trong tự điển PED.

[24]. Ce Be Se giải thích là avassa bhāvitāya ta sukha c̣n bản văn ghi là puññaṃ avassaṃ bhāvita sukha