NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. VỊ VUA

Trong Kinh Phật thứ hai: Trong số nhiều người (sambahulāna): theo[1] Luật Tạng (Vinaya), ta có thể gọi ba người là “một số nhiều người”, vượt quá con số này là một “tăng già”trong khi đó[2] theo như Tạng Kinh đơn giản chỉ có ba người mà thôi, nhiều hơn con số này cũng được coi như là “một số nhiều người.” Chính v́ thế ta cũng nên hiểu[3] trong trường hợp này theo phương pháp Tạng Kinh. Trong sảnh đường tham dự (upaṭṭhānasālāya) : trong sảnh đường diễn giải Phật Pháp; v́ sảnh đường này được đề cập đến như là “sảnh đường tham dự”, v́ đây là một nơi dành cho các vị Tỳ khưu tụ tập lại để lắng nghe Như Lai khi Ngài đến để Thuyết Pháp; hay nói cách khác cả hai đều mang ư nghĩa sảnh đường [4] và trong sảnh đường đó là nơi các vị Tỳ khưu đến để thọ tŕ Luật, nghe thuyết Pháp và tham gia các cuộc đàm luận với nhau, và tu tập lại b́nh thường bằng cách tụ tập lại[5] người ta đề cập đến[6] cả hai loại sảnh đường đó với cùng một tên là “sảnh đường tụ tập lại” v́ cũng trong sảnh đường đó luôn luôn lúc nào cũng có một chiếc ghế dành riêng cho Đức Phật được dọn sẵn thường xuyên. V́ [103] đây là thói quen của các vị Tỳ khưu vào thời đó lúc đó Đức Phật vẫn c̣n sống. Những người đă cùng ngồi lại với nhau (sannisinnāna) : họ đă tụ tập lại với nhau (sangamma) bằng cách ngồi thiền và rồi ngồi chung lại với nhau (nisinnāna). Họ đă tụ tập lại với nhau (sannipatitāna): họ đă từ nơi này nơi nọ mà tụ tập lại và rồi tụ họp theo thành một đoàn thể;  hay nói cách khác, họ đă sửa soạn một chỗ ngồi cho Đức Phật trước họ và rồi, sau khi đă tỏ ḷng trân trọng với nhau khi đối diện với Bậc đạo sư, họ đă ngồi chung với nhau (sannisinnāna) bằng cách kính cẩn (sakaccaṃ) ngồi cạnh bên nhau (nisīdana), họ đă tụ tập lại với nhau (sannipatitāna) một cách tốt đẹp (suṭṭhu) và thích hợp[7](sammā) đang khi tụ họp lại (nipatana) do kết quả họ đang thường xuyên lui tới (ajjhāsayena) với nhau do có cùng khuynh hướng giống nhau (ajjhāsayattā)[8]. Điều này (ayaṃ) xác định một điều đang được đề cập đến vào lúc này. Cuộc thảo luận không liên quan ǵ với nhau (antarākathā): một vài cuộc thuyết pháp[9](kathā) không liên hệ ǵ với nhau (antarā), khác biệt nhau, (aññā), nhằm tác ư đến chủ đề thiền, đến việc dạy dỗ và đặt ra những câu hỏi v.v…hay nói cách khác, đây chỉ là cuộc “thuyết pháp không ăn nhập với nhau”(antarākathā) liên quan đến một thực tế là cuộc thuyết pháp này diễn ra giữa chừng[10] (antarā) cuộc động viên của vị Thiện Thệ đă có được vào giữa thời gian lắng nghe Phật Pháp phải được ghi lại vào buổi chiều[11]; bằng không đây chỉ đơn giản là “cuộc thuyết pháp không liên quan ǵ với nhau” (antarākathā) v́ thường chỉ có một số buổi thuyết pháp khác nhau (aññā) diễn ra không liên quan ǵ (antarā) đến sa môn hạnh[12] cả. Đă khởi sanh (udapādi): đă nổi lên (uppannā) [13]. Liên quan đến hai vị vua này (imesa dvinna rājūna) là sở hữu cách có liên quan đến việc lựa chọn ra[14]. Như trong cụm từ “liên quan đến một tài sản lớn hơn” v.v…là người có “tài sản lớn hơn” (mahaddhano) tài sản lớn hơn (mahantaṃ dhanaṃ), được coi như việc tích lũy bảy kho báu được đào lên từ ḷng đất, thuộc về người này; xuất phát từ một trong hai vị này, vị này, v́ là người sở hữu tài sản lớn hơn dư ra, là người sở hữu “tài sản lớn hơn” (mahaddhanataro). Từ (hay là) có một ư nghĩa khác; phương pháp này cũng giống hệt với những từ c̣n lại; nhưng với cách phân biệt này: một người có “tài sản lớn” (mahābhogo) v́ số tài sản lớn lao đó (mahanto bhogo) thuộc về người này do thu nhập thường xuyên; (trong khi đó) vị nào sở hữu những “châu báu to lớn” (mahākoso)những kho báu to lớn đó (mahanto koso) bao gồm thu nhập hàng ngày thuộc sở hữu của người đó. Tuy nhiên, người khác lại cho rằng “tài sản” là những ǵ bao gồm cả thu nhập[15] hàng ngày làm căn bản sở hữu được chia thành những phần châu báu, các của cải có giá trị, những của cải phù phiếm và rừng cây[16] v.v… “kho báu” cũng là tài sản khi được cất dấu trong các kho tàng v.v…hai mươi tư loại, tức là gồm có: kim cương, đá sa-phia mahānīla, sa-phia indanīla, ngọc lục bảo,[17] ngọc be-rin, đá ru-bi padumarāga, ngọc to-pa, đá thạch anh[18], đá phu-la-ka[19], đá vimala[20], đá ru-bi lohitaṅka, đá pha-lê, đá san hô, jotirasa[21], gomuttaka, gomedaka, sagandhika[22], ngọc trai, ngọc trai phụ mẫu[23], añjanamūla[24], rājapaṭṭa[25] amataṃsaka[26], piyaka và brāhmaī[27] là những ǵ được liệt kê vào số những “châu báu đá quí ” (maī [28]). [104] Bảy thứ kim loại màu đỏ và kim loại kahāpaa cũng thuộc những ǵ được biết đến như là “ châu  báu” (sārā [29]).  Giường  chiếu,  quần áo[30], áo choàng, răng vàng, da mặt [31]và vẻ quyến rủ[32] là những ǵ được biết đến như là “của phù phiếm.”[33] Gỗ đàn hương, dầu thơm lô-hôi[34], dầu nghệ[35], tangara[36] và cam-pho v.v… là những thứ được liệt kê thành “rượu bổ”[37]. Về vấn đề này, để khởi đầu với (ādi katvā) loại hạt ngũ cốc[38], ta chấp nhận cách phân loại thành bảy loại hạt, như gạo, đồng lúa v.v… và bảy loại hạt đậu, như hạt đậu mugga[39], đậu māsa[40] v.v…  toàn bộ những hữu chất có lợi hay được con người sử dụng cũng được gộp lại [41]bằng cách dùng từ ādi ở trên[42] (v.v…[43]). Vị nào sở hữu “đất đai rộng lớn xâm chiếm được” (mahāvijito) v́ một kẻ xâm lăng vĩ đại (mahantaṃ vijitaṃ), một vương quốc, cũng thuộc hạng người này. Vị sở hữu “những phương tiện chuyên chở to lớn” (mahāvāhano) v́ những phương tiện chuyên chở (mahanto vāhano) to lớn, như voi và ngựa v.v…cũng thuộc hạng những người giàu có. Vị nào có “sức mạnh phi thường” (mahabbalo) v́ không những chỉ có sức mạnh phi thường (mahantaṃ) dưới h́nh thức các đạo quân (senābala) nhưng c̣n gồm có cả sức mạnh phi thường dưới dạng “khả năng chịu đựng” (thāmabala) cũng được liệt kê vào những hạng người này. Hạng người có “tiềm năng to lớn hay đại thần lực” (mahiddhiko) v́ thần thông to lớn (mahatī iddhi), có được[44] do những việc công đức, cũng được coi như việc khởi xuất tái sanh những điều ta mong ước, cũng thuộc hạng người này. Vị nào có “oai lực to lớn” (mahānubhāvo), v́ oai lực to lớn, hoặc được coi như sức mạnh có liên quan đến nỗ lực, lời thần chú, và cương vị chúa tể [45] thuộc hạng người này.

Và liên quan đến vấn đề này, phẩm chất đầu tiên[46] được thể hiện đặc tính ưu việt nơi các vị vua này được thể hiện nơi thu nhập, nơi phẩm chất thứ hai, thể hiện tính ưu việt nơi những phương tiện trợ giúp đem lại hạnh phúc[47], bằng phẩm chất thứ ba thể hiện nơi sự thịnh vượng của nhân vật đó, bằng phẩm chất thứ tư thể hiện nơi tính ưu việt ở nơi quốc gia người đó có được, bằng phẩm chất thứ năm thể hiện nơi tính ưu việt nơi chuyển luân của người đó, bằng phẩm chất thứ sáu thể hiện nơi tính ưu việt ở bản lănh (ngă) của người đó cùng với tính ưu việt nơi đoàn tùy tùng của người đó, bằng phẩm chất thứ bảy thể hiện nơi tính ưu việt thuộc các hành vi [48] công đức người đó thực hiện được và phẩm chất thứ tám thể hiện nơi tính ưu việt thuộc quyền chúa tể của người đó, theo cách này, toàn bộ bảy tính ưu việt tự nhiên là điều các vị vua quan rất ước ao có được, tức là thành tích nơi vị chỉ huy[49], thành tích của vị quân sư tin cẩn, thành tích thấy nơi một đạo quân, thành tích của một vương quốc, thành tích do thịnh vượng đem lại, thành tích do bạn hữu đem lại, thành tích do thành lũy[50] đem lại, ngài là một “vị vua” (rājā) v́ ngài đă làm vui ḷng (rañjayati [51]) tăng đoàn bằng cách cung cấp cho họ bốn Tứ vật dụng căn bản thuộc bản chất được yêu mến[52] nơi các cuộc bố thí v.v…Ngài là vị “Māgadhan” (Māgadho), do ngài là vị thống lănh các thần dân Magadhan. Ngài là vị “seniyo[53]”do ngài được phú bẩm cho[54] một đạo quân hùng mạnh hay do t́nh trạng hoàng tộc (gotra) Seniya. Vàng được đề cập đến như là bimbi; chính v́ thế ngài chính là một “Bimbisāra” (Bimbisāro) do ngài có một nước da sáng như đồng tiền vàng (sārabimbi). Tuy nhiên một số lại cho rằng, đây chỉ đơn giản là tên của một vị vua[55]. Ngài là một vị “Pasenadi” (Pasenadi) v́ ngài đă chinh phục được đạo quân của một vị vua khác, cũng chính là kẻ thù của ngài (paccāmitta [56]parasena jināti). Ngài là một vị “Kosalan” (Kosalo) do ngài là một vị hoàng đế thuộc vương quốc Kosala. Điều này (ayañ carahi): liên quan đến vấn đề này từ carahi (không được dịch) chỉ là một tiểu từ mà thôi. Không gián đoạn (vippakatā): không dẫn đến tột đỉnh có nghĩa là câu chuyện không liên quan ǵ với nhau nơi các vị Tỳ khưu vẫn chưa đến chổ kết thúc. [105] vào một cơ hội đặc biệt vào ban chiều: sāyahasamaya = sāyaṇhe ekaṃ samayaṃ ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Ngài đă rời khỏi nơi tịnh cư (paisallānā vuṭṭhito): là người đă khởi xuất, khi thời gian giới hạn đă kết thúc, từ chỗ chứng đắc thiền quả, được coi như là một vị sa môn liên quan đến điều (bao gồm) việc thoát khỏi tâm khỏi những đối tượng này nọ, như thể các cảnh sắc v.v…

Do[57] một thời điểm đặc biệt vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đă đi vào thành Sāvatthi, vây quanh ngài là một đoàn các vị Tỳ khưu đông đảo, sau khi đă kiếm được đồ ăn khất thực dễ dàng, và với những nghi thức cho bữa ăn trưa đă chu tất, ngài rời khỏi Sāvatthi cùng với các vị Tỳ khưu đó, rồi đi vào một thiền viện, Ngài đứng đối diện trước hương pḥng của ngài, và chỉ định cho các Tỳ khưu một số nhiệm vụ cần thiết.[58](Thế rồi) ngài Thiện Thệ đă nhắn nhủ các vị Tỳ khưu, việc này diễn ra[59]với các vị Tỳ khưu c̣n lại và khi họ đă lên đường[60] đi tới nơi hội họp vào ban ngày, ngay dưới gốc cây v.v…trong rừng, Ngài đă bước vào bên trong hương pḥng đó, và đă ở lại trong đó suốt một ngày trong hạnh phúc tột đỉnh do thiền quả. Ngài xuất khởi thiền quả khi thời gian qui định đă kết thúc, nghĩ rằng “Bốn tăng đoàn[61]đang ngồi thiền[62]chật cả thiền viện đang chờ ta xuất hiện, đây là thời điểm ta đi đến gần sảnh đường[63] để diễn giải Phật Pháp cho họ.” Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, bước ra khỏi hương pḥng đó theo lối vào với sức mạnh của Chúa Sơn Lâm có bờm rời khỏi động sáng chói một màu vàng của ḿnh và rồi với dáng đi đầy oai vệ và thể hiện ḷng dũng cảm không nh́n lui [64] lại đàng sau, như thể con voi chúa kiêu hănh tiến tới bầy voi của ḿnh. Ngài đă bước vào sảnh đường chờ đợi, đem lại cho thiền viện một thứ ánh sáng[65] chói chang nhờ đặc tính tuyệt hảo nơi thân của ngài chiếu sáng rực rỡ với tam thập nhị tướng một vĩ nhân,[66] trang điểm với tám mươi tướng phụ nữa. Việc đi ṿng quanh thiền viện đă hoàn tất với vẻ hấp dẫn tỏa sáng lan rộng cả nhiều sải, trang điểm bằng một ṿng hào quang chiếu rọi,  với một nước da sáng bóng không ǵ sánh nổi nơi một Đức Phật,[67] toát ra vẻ oai nghi không thể ngờ được, những luồng hào quang sáu màu toát ra[68] nơi một Đức Phật[69] bằng những luồng hào quang màu vàng, xanh da trời, đỏ và trắng, đỏ thẫm chiếu sáng rực rỡ.[70] V́ lư do đó có lời nói rằng, “Đối với Đức Thế Tôn …ngài đă đi lại gần thiền viện theo cách như vậy”. Sau khi đă nh́n thấy các Tỳ khưu đang ngồi trong thinh lặng, sau khi Ngài đă đi đến gần họ với phong cách như vậy và chỉ thị cho họ nhiều nhiệm vụ, Ngài nghĩ, “Khi ta chưa lên tiếng, các vị Tỳ khưu này vẫn không thốt lên dầu chỉ một lời xuất phát từ ḷng tôn kính  Đức Phật” và với chủ tâm tạo ra cuộc nói chuyện, Ngài nói, “ Hỡi các vị Tỳ khưu, v́ lư do ǵ các vị có mặt ở đây?” v.v… Về điểm này:

V́ lư do ǵ các vị có mặt ở đây [71]: kāya ’ttha= katamāya nu bhavatha (một h́nh thức ngữ pháp khác). Kāya nottha cũng là một Kinh pāli; ư nghĩa cũng giống hệt như nhau. Ta cũng có thể giải thích kinh kāya nvettha thành (Hỡi các vị Tỳ khưu, v́ lợi ích ǵ các ngươi lại qui tụ lại và cùng nhau ngồi) tại đây; ư nghĩa của đoạn kinh này[72] như sau: katamāya nu ettha ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới dạng một h́nh thức ngữ pháp khác). Đây chính là cách giải thích ngắn gọn, trong trường hợp này Ngài đă mở rộng cho họ[73]lời mời của vị Toàn Tri theo cách sau đây, tức là “Hỡi các vị Tỳ khưu kính mến, [106] v́ lợi ích buổi thuyết pháp cụ thể nào quí vị [74]đă qui tụ lại nơi đây? và điều ǵ quí vị vẫn chưa đạt đến kết luận do sự xuất hiện của ta? Ta đến để kết thúc câu chuyện đó[75].” Đây không phải là: na ’ etaṃ = na kho etaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); hay đây là cách giải thích duy nhất. Họ cũng giải thích là na kho taṃ; là cách phân loại các từ[76] cũng giống nhau, tức là na kho etaṃ. Quí ông (kulaputtāna): là đàn ông do bẩm sanh và do giới hạnh[77]. Thông qua niềm tin: saddhā = saddhāya (một dạng ngữ pháp khác); thông qua đức tin về kết quả của nghiệp và niềm tin nơi Tam Bảo. Từ gia đ́nh (agārasmā): xuất phát từ ngôi nhà, ư nghĩa ở đây là xuất phát từ hiện trạng c̣n lưu lại trong ngôi nhà của ḿnh. Vào nơi vô gia cư (ẩn sĩ) anagāriya tới trạng thái xuất gia. Người đó đă xuất gia (pabbajitāna) [78]: vị đó đă xuống thuyền. Điều đó (yaṃ) chỉ cho thấy hoạt động có liên quan[79]. Điều này cho thấy lư do các từ này đă được phân tích liên quan đến điểm này. “Hỡi các vị Tỳ khưu[80], họ chẳng phải là những người do các vị vua[81] thúc ép, giống như những ai bị kẻ trộm ép buộc, như những người bị nợ nần[82] quấy rầy, như những kẻ bị tước đoạt hết phương kế sinh sống;[83] Các ngươi đă thực hiện xuất gia qui y Phật; hơn thế các ngươi đă xuất gia theo tinh thần giáo lư của ta, do các ngươi đă xuất gia v́ đức tin thôi thúc; các ngươi giờ đây lại nói những câu chuyện tầm phào[84] có liên quan đến các vị vua nói theo cách các vị vua chúa đă nói h́nh như không thích hợp đối với các ngươi, quả thật không thích hợp chút nào” sau khi đă khước từ những ǵ không thích hợp đối với những người xuất gia khi họ tụ tập lại với nhau, Ngài nói tiếp, “ Hỡi các vị Tỳ khưu, câu chuyện này các ngươi nên thực hiện khi tu tập lại với nhau, hoặc là nói về Phật Pháp hay là giữ thinh lặng bậc thánh.” Ngài đă chỉ cho họ biết một việc tu luyện rất thích hợp[85] . Về điểm này:

Cho các ngươi: vo = tumhāka (một h́nh thức ngữ pháp khác) chính v́ thế ư nghĩa ở đây là tumhehi (do các ngươi). Các ngươi nên thực hiện câu chuyện này (dvaya karanīya): các ngươi phải thực hiện hai việc này (kattabbā). Nói về Phật Pháp (dhammī kathā) : câu chuyện không đi sai khỏi Phật Pháp có liên quan đến tứ diệu đế, nghĩa là việc diễn giải Phật Pháp là cách giải thích hoàn hảo nhất về pravṛtti nivṛtti [86]; v́ ngay cả những buổi thuyết pháp được coi là thập đề tài thảo luận[87]th́ đó cũng chỉ là một chi tiết nhỏ trong đó mà thôi. Vị thánh (ariyo): là vị thánh liên quan đến một thực tế là điều đó đem lại niềm hạnh phúc tuyệt đối.[88] Hay nói cách khác đó là một vị thánh do điều thanh tịnh tuyệt đối đó. Thinh lặng (tuhībhāvo): không nói chuyện dưới dạng thiền chỉ[89](samatha) và thiền minh sát (vipassanā). Tuy nhiên có một số người lại cho rằng chỉ có nhập đệ nhị thiền Jhāna mới được gọi là lặng thinh bậc thánh. Do loại thiền này đối nghịch lại với khẩu hành,[90]  một số người khác lại cho là đệ tứ thiền Jhāna chính là yên lặng bậc thánh. [107] Tuy nhiên điều này liên quan đến ư nghĩa như sau “Hỡi các vị Tỳ khưu, nếu khi nào các vị phân tán[91] thân tại một vài địa điểm[92] trống rỗng nào đó với mục đích triển khai đầy đủ việc phân chia tâm[93], các vị nên tu tập lại với nhau vào một thời điểm nào đó, rồi hoặc các vị tranh luận với nhau về Phật Pháp liên quan đến đề tài vô thường v.v… về các uẩn v.v…các vị được nhắc bảo[94] mỗi khi các vị tụ tập lại với nhau theo cách đă được khẳng định ở trên,tức là. “Cho đến này vị nào tạo nguyên nhân nghe được điều không được nghe hay thanh tịnh thấu đáo điều đă nghe[95], nhằm phục vụ tha nhân, nếu không th́ chứng đắc thiền Jhana cũng phải được các ngươi tôn trọng (mỗi khi tụ tập lại) để khỏi gây phiền toái[96]đến tha nhân.” Về điểm này, qua lời khẳng định trên liên quan đến nhu cầu phải được thực hiện, ngài đă chỉ ra những phương cách thâm nhập vào Phật Pháp đối với những ai không thể thâm nhập được như vậy; thông qua cách vừa nêu, là những phương cách hiện hữu ngoài ṿng luân hồi (samsara) đối với những ai thâm nhập được như vậy; bằng không những phương cách vừa nêu Ngài chỉ ra cho thấy[97]lợi ích liên quan đến truyền thống[98] bằng những phương cách vừa nêu đối với chứng đắc thiền chứng; hay nói cách khác, với những các phương cách nêu trên, Ngài đă làm rơ nguồn gốc đầu tiên cho việc khởi sanh chánh kiến, thông qua phương cách thứ hai,[99] Ngài cũng tạo khởi sanh chánh kiến thứ hai vậy. Về vấn đề này có lời nói rằng: “Hỡi các vị Tỳ khưu, có hai nhân hai duyên khởi sanh[100] chánh kiến đó là âm thanh từ người khác [101] và việc tập trung tác ư[102] nơi bản thân một cách có phương pháp.”(Trung Bộ Kinh (M) ii 294; Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 87) hoặc giả nhờ lời khẳng định nêu trên, Ngài giải thích lư do cơ bản khởi sanh chánh kiến hiệp thế. Nhờ cách thức vừa nêu Ngài giải thích lư do cơ bản đối với chánh kiến siêu thế.[103] theo cách này ta nên hiểu đây chính là cách làm rơ ư nghĩa vậy.[104]

Thẩm định lại vấn đề này (etam attha viditvā): việc thẩm định vấn đề này dưới mọi góc độ, tức là, chứng đắc thiền Jhāna v.v…không phải chỉ là một thực tế, [105]nhưng c̣n là một cách lựa chọn thích hợp hơn là đạt đến các dục lạc mà các vị Tỳ khưu đó đă ca tụng. Tập Phật Tự Thuyết này (ima udāna): đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích vẻ oai nghiêm nơi hạnh phúc liên kết với các thánh trú.[106] (ariyavihāras) Về vấn đề này:

Bất kỳ loại hạnh phúc nào trên thế gian này liên kết với dục lạc (yak ca kāmasukhaṃ loke): từ loka (thế gian) đă được truyền lại liên quan đến pháp hành thế gian, như trong câu, “Thế giới các uẩn, thế giới các xứ, thế giới các giới” (Pts I 122) v.v… liên quan đến hư không thế gian, như trong câu:

“Ở mức độ mặt trăng và mặt trời xoay quanh nhau, tỏa ra ánh sáng rực rỡ xuống khắp nơi,[107] cũng ở mức độ đó vẫn tồn tại một ngàn thế giới khác. Đây chính là sức mạnh các ngươi phải tu luyện.”(Trung Bộ Kinh (M) i 328). v.v…; và liên quan đến chúng sanh thế gian; như trong câu “và Đức Thế Tôn đă nh́n thấy, đang khi Ngài quan sát thế giới này với Phật Nhăn” (Vin i ’ S i 138[108]) v.v…Nhưng [108] trong trường hợp này ta chỉ nên hiểu liên quan đến chúng sanh thế gian và liên quan đến hư không thế gian[109] mà thôi; chính v́ thế bất kỳ loại hạnh phúc nào cùng xảy ra đồng thời với tham dục liên quan đến việc khởi sanh tham dục đó lại là các phiền năo tâm tùy thuộc vào tham dục trần cảnh trong thế gian này. Từ địa ngục A Tỳ sắp tới, nhưng lại không bao gồm cơi phạm thiên[110]. Và bất kỳ loại hạnh phúc phạm thiên nào, th́ (yañ ’ idaṃ diviyaṃ sukhaṃ) : và bất kỳ việc tái sanh thiên cung nào về phía các vị phạm thiên cũng phải đạt được thông qua một thiên trú[111] vậy và hạnh phúc này về phía nhân loại gồm có sự tuyệt hảo thân h́nh. Về hạnh phúc liên quan đến diệt trừ ái dục (taṇhankkhayasukhassa): loại hạnh phúc đó[112] liên kết với chứng đắc thiền quả diễn ra sau khi lấy níp bàn làm đối tượng, do đó ái dục bị diệt trừ và điều đó diễn ra bằng cách xả ái dục được biết tới như là “hạnh phúc liên kết diệt trừ ái dục” về loại hạnh phúc liên kết với diệt trừ ái dục. Những điều đó (ete) là cách ám chỉ với  một cách làm méo mó đi giống.[113] có nghĩa là etāni sukhāni (những loại hạnh phúc này). Một số người[114] giải thích etaṃ (điều này) bao gồm cả hai loại hạnh phúc chung với nhau liên quan đến sự tương đồng của cả hai loại; đối với họ cách giải thích đă trở thành kala ’ āgghati [115] (không đáng bằng một phần mười sáu). Một phần mười sáu (soḷasiṃ) là phần bổ sung[116] cho mười sáu; trong phần tương quan này v́ điều này chính là ư nghĩa ngắn gọn (i) hạnh phúc đó liên kết với tham dục nổi lên nơi thập nhất cơi[117]dục giới, tức là (a) bắt đầu bằng hạnh phúc nơi chuyển luân vương, đó chính là hạnh phúc nhân loại nơi toàn cơi nhân loại, (b) loại hạnh phúc mà các loài rồng (nagas) v.v…cảm nghiệm được nơi cơi nagas và supaṇṇas v.v… (và) (c) sáu loại hạnh phúc liên kết với dục lạc[118] , nơi sáu cơi chư thiên dục giới bắt đầu với hạnh phúc cơi tứ đại thiên vương; và (ii) loại hạnh phúc liên kết với thiền (Jhānas) hiệp thế lại có tên “thiên đường” do việc tái sanh nơi các chư thiên thuộc cơi sắc giới và cơi vô sắc và những cách nhập thiền liên kết với cơi sắc giới và cơi vô sắc giới mà các cách thiền Jhanas bao gồm các thiên trú,[119] cho dù cả hai loại hạnh phúc này xét một cách toàn diện không một phần nhỏ nào được coi như một phần riêng lẻ có được sau khi hạnh phúc đó liên kết với chứng đắc thiền quả, được coi như là loại hạnh phúc liên kết với diệt trừ ái dục, đă được giải thích thành mười sáu phần, và một phần trong đó lại  được phân chia tiếp thành[120] mười sáu phần nhỏ hơn và cách diễn giải ư nghĩa này được đưa ra có liên quan đến đặc tính tương đồng với nhiều chứng đắc thiền quả.  Liên quan đến một thực tế là diệt trừ ái dục được truyền lại cho chúng ta không có bất kỳ phẩm chất nào nơi Kinh pāli cả; ngay cả chỉ một phần nhỏ hạnh phúc này liên kết với chứng đắc thánh quả đầu tiên th́ hạnh phúc trần tục cũng không thể sánh bằng; về điểm này có lời nói rằng: “Thánh quả Nhập lưu (Sotāpatti) c̣n tốt hơn[121] cả một ḿnh cai trị thế gian này, hay hơn cả tiến tới thiên quốc, hay hơn cả thống trị toàn cơi thế gian này.” (Dhp 178) chính điều này cũng được đề cập đến trong Kinh Sotāpattisayutta như sau:

“Hỡi các vị Tỳ khưu, cho dù vị vua có là một chuyển luân vương, thực thi quyền cai trị bao gồm quyền lực và chủ quyền trên toàn cơi bốn lục địa và tiếp đến là sự tan ră thân xác sau khi chết nơi cơi trời, được bầu bạn với các vị chư thiên thuộc cơi Tam Thập Tam (và cho dù). Người đó có thể tự hài ḷng nơi cánh rừng Nandana tại đó[122] vây quanh là hàng đoàn các vị tiên nữ được trao cho và cung cấp với [123] năm[124] nguồn mạch dục lạc thần tiên, tuy nhiên người đó vẫn không được thành tựu[125] bốn pháp hơn thế nữa, đang khi người đó không hoàn toàn thoát khỏi hỏa ngục,[109] không hoàn toàn thoát khỏi tái sanh nơi súc sanh, không hoàn toàn giải thoát khỏi cơi ngạ quỷ, không hoàn toàn thoát khỏi cảnh khổ, ác thú và đoạ xứ.

Hỡi các vị Tỳ khưu, cho dù các đồ đệ thánh (ariyasāvaka) có thể tự ḿnh thu lượm những đồ loại bỏ như của bố thí và mặc[126] đồ rách rưới, tuy vậy Ngài được trang bị bốn pháp, hơn thế nữa Ngài hoàn toàn thoát khỏi hỏa ngục, hoàn toàn thoát khỏi tái sanh nơi súc sanh, hoàn toàn thoát khỏi cảnh ngạ quỷ, hoàn toàn thoát khỏi các khổ cảnh, là ác thú và đoạ xứ. Bốn pháp ǵ vậy?

Hỡi các vị Tỳ khưu, trong trường hợp này người đồ đệ thánh (ariyasāvaka) được thành tựu tịnh tín liên quan đến Đức Phật,  tức là. ‘Cũng từ đó Ngài là vị Thiện Thệ, là vị A-la-hán[127]…là Đức Phật …là Đức Thế Tôn; được thành tựu tịnh tín liên quan đến Giáo Pháp, tức ‘…do những bậc trí”; được thành tựu tịnh tín có liên quan đến Tăng Đoàn,[128] tức là‘…phước điền vô thượng cho cơi đời ’. Ngài được thành tựu những giới hạnh làm hài ḷng các vị thánh đức, những giới luật đó không bị đứt đoạn[129]…và dẫn đến định. Ngài là người được thành tựu với bốn pháp này.

Hỡi các vị Tỳ khưu, có người được ban tặng cho bốn châu lục, và cũng có người đạt được bốn pháp này; việc đạt được bốn châu lục cũng chẳng xứng bằng một phần mười sáu việc đạt được bốn pháp này vậy (Sv 342tt)

Chính v́ thế trong mọi t́nh huống, Đức Thế Tôn đă thoát ra khỏi hạnh phúc[130] thế tục Ngài  đă vượt[131] qua (hạnh phúc) đó, tức là cùng một thứ hạnh phúc siêu thế không thể nào thắng vượt được.

Phần diễn giải Kinh Phật thứ hai kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-


[1]. Điều tiếp theo sau đó xin đọc chú giải DA 42ff

[2]. Be Se giải thích là pana; c̣n bản văn lại bỏ xót.

[3]. Ce Be Se giải thích là veditabbā  c̣n bản văn lại ghi là veditabbo.

[4]. Ce Be Se giải thích là sā; c̣n bản văn th́ bỏ xót.

[5]. Ce Be giải thích là sannipatanavasena, c̣n bản văn Se ghi là sannipatitavasena.

[6]. Ce Be Se giải thích là vuccati c̣n bản văn lại ghi là hoti.

[7].Ce Be Se giải thích là suṭṭhu sammā ca c̣n bản văn ghi là suṭṭhu sammāsāmañ ca.

[8]. Đây có thể là một kiểu chơi chữ thận trọng dựa trên hai ư nghĩa của từ ajjhāsaya. 

[9]. Điều tiếp theo sau, xin đọc chú giải DA 49. MA ii 169. từ antarākathā c̣n được cắt nghĩa theo bốn cách nữa như trong (1) DA 368=MA iii 226; (2) MA iii 431; (3) SA iii 91; và (4) AA ii 268, có một số chỉ dẫn chú giải đă được đưa ra trong CPD sv antarākathā xem ra không xác thực mấy. Sv-pt i 70 về DA 49 lại thêm câu sau đây: aññā ti antarāsaddassa attham āha. Aññatthe hi ayaṃ antarāsaddo, bhummantara samayantaran ti ādīsu viya. Antarā ti vā vemajjhe ti attho. Thật khó ḷng có thể duy tŕ được các cách giải thích đa dạng như vậy trong một bản dịch. Nh́n chung “ngẫu nhiên” có thể được coi như tốt hơn “không có liên quan”

[10]. Hay khác hơn thế (có đôi lúc); rất có thể đây là một nghĩa khác của từ vemajjhe được đề cập đến, nhưng không được giải thích. Sv-pt (được trích trong chú thích ở trên).  Cũng xin đọc chú giải Ud-a 109tt dưới đây.

[11]. Đây có thể là một cách giải thích xem ra hơi kỳ cục nếu như Udāna khẳng định, câu chuyện đó nổi lên với họ về việc tụ tập lại sau khi đă thực hiện khất thực ngay sau bữa ăn trưa. Do có người giải thích đây là những lời khích lệ buổi trưa thường được thực hiện sau khi họ đă tụ tập lại.

[12]. Ce Be Se giải thích là sama’ eva c̣n bản văn th́ lại ghi là ’ eva.

[13]. Th́ bất định và quá khứ phân từ theo thứ tự.

[14]. Niddhārae; không thấy liệt kê trong Tự điển PED nhưng lại chú giải trong tự điển Childers sv.

[15]. Be Se giải thích ở đây và ở dưới là pavisana-āyao c̣n bản văn th́ ghi là pavisana-ayao. Ce ghi là pavisana-ayao, …pavisana-āyao.

[16]. Ce Be Se giải thích là maṇio c̣n bản văn th́ ghi maīo, cũng đáng chú ư là chính vào lúc này tài sản (dhanaṃ)  th́ lại trái ngược lại với kho báu (kosa) trong khi ở trên th́ việc cũng như vậy chú giải sánh lại xảy ra ở giữa của cải (bhoga) và kho báu (kosa)

[17]. Marakaṭo;  đây là thế giới Hindu. Sv “châu báu”.

[18].  Ce Be Se giải thích là kakketano c̣n bản văn lại ghi là kakkatano; chú giải VS 167 n 32

[19]. Ce Se giải thích là phulako, Be giải thích là pulako. C̣n bản văn ghi là phuḷako;  chú giải VS 167 n 32

[20]. Chú giải VS 167 n 33

[21]. Be Se giải thích là jotiraso c̣n bản văn Ce là jotiraṅgo; châu báu này và hai châu báu kế tiếp cũng xuất hiện trong Vv-a 111, về châu báu này xin đoc VS 167 n 34, 35.

[22]. Thường thường chỉ là huệ nước màu trắng, tức là huệ Nymphaea. Tuy nhiên theo tự điển SED sv saugandhika, điều này cũng chỉ rơ đó là đá Ruby.

[23]. Điều này thường cho thấy đây là kiểu cẩn sà cừ.

[24]. Gốc cây añjana, Añjana thường cho thấy đây là loại thuốc nhỏ mắt thường được xức vào lông mi để làm cho đen thêm.

[25]. Be giải thích là rājapaṭṭo c̣n bản văn Ce Se là rājāvaṭṭo, t