|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
8. Visākhā Trong Kinh Phật thứ tám: người cháu của Migā’s là mẹ của Visākhā đă chết (Visākhāya Migāramātuyā nattā kālaṅkatā hoti): một thiếu nữ[1] là con của người con trai cận sự nữ Visākhā đă măn phần. Người ta kể lại rằng nàng là thiếu nữ tuân giữ toàn bộ bổn phận của ḿnh[2] đă hoàn toàn nhiệt tâm với giáo lư của Đức Phật và chính nàng đă siêng năng thực hiện bất kỳ nhiệm cụ cần thiết nào phải được thực hiện cho các vị Tỳ khưu và Tỳ khưu ni khi họ đến thăm gia đ́nh của đại cận sự nữ, ngay cả trước khi bữa ăn được tiến hành, cũng như những việc tiếp theo sau bữa ăn trưa; nàng luôn thực hiện những ǵ tâm bà nội của nàng mách bảo; v́ lư do đó, “khi ra khỏi nhà, Visākhā chỉ ra đi sau khi đă một ḿnh thực hiện hết trách nhiệm của ḿnh, đang khi đó liên quan đến sắc đẹp, nàng là một thiếu nữ dễ coi, là người con gái luôn tạo ra thiện cảm cho bất kỳ người nào nh́n thấy nàng, chính v́ thế nàng luôn tỏ ra đặc biệt dễ thương và duyên dáng trước bà nội. Nàng đă qua đời sau khi đă không qua khỏi một số bệnh tật, chính v́ lư đó có lời nói rằng, “và nhân một cơ hội nọ, một người cháu của Visākhā là mẹ của Migāra, rất dễ thương và duyên dáng, đă qua đời”. Thế rồi người đại cận sự nữ này, do không thể chịu đựng được nỗi buồn khổ và thất vọng sau khi thân nàng đă được liệm, đă đi đến gặp Đức Phật nghĩ rằng nàng chắc chắn có thể t́m lại được b́nh thản trong tâm khi nàng đến trước vị Đạo sư. V́ lư do đó có lời nói rằng, “thế rồi Visākhā mẹ của Migāra”. Về điểm này: Vào ban ngày, trong thời gian ban ngày: divā divassa = ’ āpi divā (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài trong một dạng ngữ pháp khác) ư nghĩa ở đây là vào khoảng giữa trưa[3]. V́ biết rơ ràng việc vui thú củaVisākhā nơi ṿng luân hồi[4], Đức Phật đă nói, “hỡi Visākhā, liệu nhà ngươi có muốn chăng” v.v… với mục đích nhằm giảm bớt nỗi buồn khổ[5] của nàng bằng những cách thức khôn khéo. Về điểm này. Có bao nhiêu có thể: yāvatikā = yattakā (là hai từ đồng nghĩa) người ta kể lại rằng vào thời gian đó có tới bảy kotis chúng sanh đang lưu lại tại Sāvatthi, liên quan đến vấn đề này Đức Phật đă đặt câu hỏi “hỡi Visākhā, nhưng có bao nhiêu chúng sanh đang lưu lại tại Sāvatthi đă chu tất thời gian của ḿnh (chết, qua đời) mỗi ngày[6]? Visākhā cho biết “mười người tại Sāvatthi, bạch Đức Thế Tôn” v.v… Về điểm này. Có Ba: tīṇi = tayo (một dạng ngữ pháp khác); hay nói cách khác đây chính là cách giải thích. Có bao giờ được thoát không (avivittā): có bao giờ trống rỗng chăng?[7]. [428] Thế rồi, để làm rơ ư nghĩa trước đó, Đức Phật nói: “liệu có bao giờ vào bất kỳ thời điểm nào ngươi đă không dùng khăn ướt hay để tóc ướt chăng?” Ngài làm rơ rằng, nếu như điều này xảy ra như vậy, liên quan đến vấn đề nàng luôn khuất phục được sầu khổ, chắc chắn nàng có quần áo ướt, tóc ướt, một ḿnh nàng do kết quả của một nghi thức tắm rửa liên tục bằng những nghi thức gây rủi ro gây điềm xấu cho những đứa trẻ chết v.v… (mà nàng đă thực hiện). Cận sự nữ động tâm, tràn đầy sửng sốt vừa khi nghe thấy điều đó, liền từ bỏ đối tượng ḿnh yêu mến[8] nói rằng, “chắc chắn không phải thế, bạch Đức Thế Tôn” và rồi, nói cho vị Đạo sư biết rằng tâm của nàng đă quay lại với sự hối hận đó, nàng nói rằng: “bạch Đức Thế Tôn, biết bao nhiêu con cái cháu chắt[9] như vậy quá đủ đối với con rồi thưa Ngài.” Thế rồi Đức Phật trong khi diễn giải Phật Pháp cho nàng, tức là “điều chúng ta coi là đau khổ cũng có thể qui cho một đối tượng chúng ta coi như là thân thương nhất; có rất nhiều nguồn tạo đau khổ giống như bấy nhiêu đối tượng thân thương của ta vậy. Chính v́ thế người nào ước muốn hạnh phúc sung sướng, người nào thấy đau khổ đáng ghê tởm phải biết tách tâm ra khỏi toàn bộ đối tượng thân thương đối với chúng ta.” Ngài nói thêm “những người nào có tới hàng trăm đối tượng thân thương, Visākhā th́ cũng có tới hàng trăm nguồn tạo ra đau khổ cho ta vậy” v.v…Về điểm này. Một trăm đối tượng thân thương (sataṃ piyāni): một trăm đối tượng có khả năng được coi là đối tượng thân thương với chúng ta. Một số người cũng giải thích sataṃ [10] piyaṃ – ấy vậy về vấn đề này, v́ việc liệt kê, theo chừng mực từ một đến mười th́ có ưu tiên hơn theo thứ tự được liệt kê[11] sau đó. Chính v́ thế Kinh pāli truyền lại bằng đoạn yesaṃ dasa piyāni dasa tesaṃ dukkhāni v.v…; điều này không chính xác[12]. Hơn thế nữa, v́ cách liệt kê, theo chừng mực từ hai mươi đến một trăm, vẫn được coi là có ưu tiên hơn điều được liệt kê sau đó, chính v́ thế theo Kinh pāli, “gắn kết với cùng một ưu tiên đó (đối với cách liệt kê) theo đó những ǵ được liệt kê, cũng được truyền lại theo cách yesaṃ kho Visākhe sataṃ piyāni sataṃ tesaṃ dukkhāni v.v…Hơn thế nữa, cách giải thích toàn bộ những điều đó lại chính là dukkhassa; v́ theo cách giải thích này th́ giáo lư của Đức Phật đồng nhất với một hương vị duy nhất và một ư định duy nhất, chính v́ thế ta nên hiểu Kinh pāli chỉ theo cách đă nói đến ở trên mà thôi. Thẩm định lại vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): biết rơ toàn bộ những cách theo vấn đề này, tức là đau khổ thân và tâm, như nỗi buồn khổ, than văn v.v…; được qui cho một đối tượng thân thương với chúng ta, (điều này chỉ tồn tại khi có một đối tượng được ta coi là thân thương – không tồn tại khi chẳng có loại đối tượng nào như vậy. Điều này đă khiến nẩy sanh tập Phật Tự Thuyết này nhằm làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề này. Đây chính là ư nghĩa[13] vấn đề này: Bất kỳ mối (i) sầu khổ nào, có trạng thái là sự dầy ṿ tâm[14] đối với người ngu xuẩn, một khi người đó bị héo ṃn tâm vừa khi phải tiếp xúc với những (năm) mất mát, suy sụp gồm mất những người họ hàng thân thiết, mất của cải, mất mát do bệnh hoạn, mất mát giới đức và mất tri kiến[15] (và) liên quan đến bất kỳ mất mát nào, ta có thể phân loại thành (mất mát) nhẹ nhàng và (mất mát) trung b́nh v.v… [429] hay (ii) bất kỳ than văn nào, có nét đặc trưng nơi hành vi ấp úng thành lời được khởi sanh ra những lời ấp úng trước những nỗi sầu khổ[16] (đối với cùng một người ngu xuẩn đó) ngay khi ta phải tiếp xúc với những mất mát đó. Hay (iii) những đau khổ lại có trạng thái là dồn ép thể xác khiến người đó phải ray rứt do những đối tượng không ước muốn hiển nhiên tác động đến, hay[17] (iv) cũng bị ray rứt giống như vậy do chán nản và thất vọng v.v…, liên quan đến việc gộp chung cả những đặc tính đó, bằng cách dùng từ va (hay) mang một ư nghĩa khác, về những vấn đề đó[18] với ư nghĩa ta đă khẳng định ở trên[19], và bằng cách phân loại thiên h́nh vạn trạng, thuộc nhiều loại khác nhau, đă hiển hiện, và ta đă khám phá ra trong cơi dục giới này, là điều đáng tin cậy - toàn bộ các từ này (i-iv) đă khởi xuất, xuất hiện, đều tuỳ thuộc vào, lại dựa vào, do bởi, bằng cách biến thành một nhân duyên, điều ǵ đó rất thân thương với chúng ta, một vài chúng sanh, hay một số hành (formation)[20] lại thuộc loại những ǵ tỏ ra rất thân thương với ta. Nhưng một khi chẳng c̣n ǵ thân thương với ta, (khi chẳng c̣n đối tượng nào như ta đă đề cập đến ở trên, ta cho là thân thương đối với chúng ta, một khi tham lam và ái dục, khiến ta rơi vào trạng thái trong đó những ǵ là thân thương đối với ta, đă bị loại bỏ, th́ toàn bộ những ǵ nói trên đều không tồn tại[21] ở bất kỳ thời điểm nào. Về vấn đề này người ta nói rằng: “sầu khổ khởi sanh từ những ǵ là thân thương đối với chúng ta…sầu khổ khởi sanh từ t́nh yêu mà ra.” (Dhp 212tt[22]) v.v…Cũng như vậy, “những tranh căi, bất đồng, than văn và sầu khổ, kèm theo với tính vị kỷ[23], đều xuất phát từ những ǵ ta cho là thân thương với chính ḿnh.[24]” (Sn 863) v.v…và về vấn đề này, ta cho là đoạn paridevitā vā dukkhā vā là hiểu sai về giới tính; hay nói cách khác ta nên hiểu (đoạn văn) này là cách đọc lướt các tiếp ngữ, chính xác ta nên hiểu[25] đoạn văn trên là paridevitāni vā dukkhāni vā. Chính v́ thế đây chính là hạnh phúc sung sướng, giải thoát khỏi mọi sầu khổ (tasmā hi te sukhino vītasokā): v́ đối với những người sầu khổ này v.v…không bắt nguồn từ những ǵ thân thương đối với chúng ta, chính v́ thế người ta cho là những điều đó đem lại hạnh phúc sung sướng cho ta và giải thoát ta khỏi mọi sầu khổ[26] vậy. Nhưng những người này là ai vậy? Là những người nào chẳng c̣n điều ǵ được cho là thân thương đối với chính ḿnh ở bất kỳ nơi nào trên thế gian này (yesaṃ piyaṃ ’atthi kuhiñci loke): những vị thánh nhân đó, trước một thực tế là họ đă hoàn toàn được giải thoát khỏi ái dục, th́ họ chẳng có bất kỳ điều ǵ là thân thương đối với họ nữa, chẳng phải trải qua trạng thái nào trong đó đầy rẫy những ǵ là thân thương đối với chính ḿnh nữa – bất kỳ đâu[27] nơi cơi chúng sanh[28] này hay nơi cơi ngũ uẩn này – chẳng c̣n điều ǵ là thân thương, chẳng có trạng thái nào trong đó tồn tại những ǵ là thân thương, chẳng c̣n tài sản thân thương nào nữa, chẳng c̣n pháp nào xuất hiện những điều thân thương đối với chúng ta, cho dù điều đó có là con cái ta, hay anh chị em ta hoặc giả ngay cả vợ ta nữa (nơi cơi chúng sanh này) – (và pháp đối với người nào) chẳng c̣n điều ǵ thân thương, chẳng c̣n của cải ǵ là thân thương, chẳng c̣n trạng thái nào trong đó tồn tại những ǵ là thân thương bằng cách cho là “Điều này là của ta, chính nhờ điều này ta sẽ đạt được, sẽ chiếm đoạt được, ta gọi đây là hạnh phúc và sung sướng đích thực.”nơi cơi ngũ uẩn. Chính v́ thế, người nào ước ao thoát khỏi sầu khổ, ước ao những ǵ vô tỳ vết, chẳng nên tạo ra những ǵ là thân thương cho chính ḿnh ở bất kỳ nơi nào trên thế gian này (tasmā asokaṃ virajaṃ patthayāno piyaṃ na kayirātha kuhiñci loke): và v́ ta chỉ cho là hạnh phúc, là thoát khỏi mọi nỗi sầu khổ, chẳng phải rơi vào hiện trạng liên quan đến cùng một thực tế[29] là họ đă thoát khỏi sầu khổ, không rơi vào hiện trạng[30] trong đó đầy rẫy những điều kiện khách quan gồm những ǵ ta cho là rất thân thương với ta, chính v́ thế người nào ước ao những ǵ có liên quan đến chính ḿnh, do không c̣n những sầu khổ ta đă nói đến ở trên, là thoát khỏi sầu khổ, tức là pháp thoát mọi sầu khổ, ước ao những điều, thông qua việc mọi cấu uế dục lạc v.v…đă biến mất, tức là vô tỳ vết, ước ao có được pháp vô tỳ vết đó, ước ao đạt đến bậc A-la-hán, hay nói cách khác là chứng đắc níp-bàn, lại mang tên là “những ǵ giúp ta thoát khỏi sầu khổ, những ǵ vô tỳ vết” do chúng là nhân duyên giúp ta thoát khỏi sầu khổ và cấu uế tham dục v.v…[31] - người nào tràn đầy ước vọng[32] (cùng điều đó) bằng cách ước muốn pháp thiện bao gồm một ước muốn hành động (tác dục)[33] - [430] th́ lại chẳng nên tạo ra, chẳng nên làm khởi sanh, những ǵ tỏ ra thân thương với chính ḿnh, trong bất kỳ trạng thái nào trong đó xuất hiện những điều thân thương với ta, những ǵ ta cho là thân thương, ở bất kỳ nơi nào (kuhiñci = katthaci, là các từ đồng nghĩa) trên thế gian này, trong đó bất kỳ pháp nào, như cảnh sắc v.v…có liên quan trong đó bất kỳ pháp nào liên kết với chỉ tịnh hay thiền minh sát[34]. Về vấn đề này người ta nói rằng, “ta phải từ bỏ ngay cả những chánh pháp (right dhammas), huống hồ ǵ những pháp bất thiện.” (M. i 135). Việc diễn giải Kinh Phật thứ tám kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Kumārikā; người phụ nữ kumāraka, là thiếu nữ về người này xin đọc chú giải Ud-a 294 ở trên; hay rất có thể là một công chúa. [2]. Xin đọc chú giải Vibh-a 297, có đề cập đến 82 bổn phận nhỏ phải chu toàn, 14 bổn phận lớn, cộng với một số bổn phận khác nữa, nhưng lại không thảo kỹ lưỡng; trong lúc thực hiện dịch thuật, Ñāṇamoli đă không nghiên cứu tỉ mỉ. [3]. Xin đọc chú giải Ud-a 120, 159 ở trên. [4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vaṭṭābhiratiṃ c̣n bản văn ghi là vattābhiratiṃ. [5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sokatanukaraṇatthaṃ c̣n bản văn ghi là sokatanukakaraṇatthaṃ; xin đọc chú giải Ud-a 325 ở trên. [6]. Devasikaṃ; bản văn Ce Se chèn thêm divase divase (vào ban ngày, vào ban đêm) tuy nhiên ta không t́m thấy chi tiết này ở bất kỳ ấn bản Ud nào được sử dụng. [7]. Asuññā; xin đọc chú giải Ud-a 161 ở trên, trong đó suññaṃ được giải thích là vivittaṃ, ta giải thích là “từ xa”. [8]. Piyavatthuṃ; xin đọc chú giải Ud-a 120 ở trên. [9]. Chú giải Be Se và Ud giải thích là tāvabahukehi puttehi ca nattārehi cā ti c̣n bản văn ghi là tāva sambahulehi puttehi nattārehī ti, Ce tāva sambahulehi puttehi ca nattārehi cā ti. [10]. Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là sattaṃ. [11]. Saṅkheyyappadhānā; ở đây Dhammapāla đang nói bóng gió đến những chi tiết ngữ pháp nhỏ liên quan đến biến cách về số. [12]. Sundaraṃ; hay là thanh lịch tao nhă. [13]. Những ǵ diễn ra sau đó nên giải thích chung với Pṭs i 37tt và Thanh Tịnh Đạo 503 tt trong đó sầu, bi, khổ, ưu và năo v.v…được định nghĩa rơ ràng đến từng chi tiết. [14]. Cittasantāpa; “nóng ḷng”. Xin cũng đọc Pp 596 n 5. [15]. Xin đọc chú giải Ud-a 209 ở trên. [16]. Be giải thích sokuddehakasamuṭṭhāpitavacīvippalāpalakkhaṇā (Se giải thích là sokuddekasamuṭṭhāpītavacīvippalāpalakkhaṇā) c̣n bản văn ghi là kāyasokahetukassa samuṭṭhāpakā keci vippalāpalakkhaṇā, Ce kāyasosakao. xin đọc Thanh Tịnh Đạo 504 đối nghịch lại với sầu, bi, năo như sau: sầu đau buồn giống như một chiếc bếp dầu, v.v… trong một chiếc b́nh trên ngọn lửa riu riu. Bi than văn giống như nồi nước sôi từ chiếc b́nh trên ngọn lửa to. Năo thất vọng giống như điều c̣n lại trong b́nh sau khi đă sôi cạn hết và không c̣n làm ǵ được nữa đang tiếp tục nấu trong chiếc b́nh đất cho đến khi cạn hết. [17]. Vā; bản văn Ce ghi là pi. [18]. Công việc khảo sát tỷ mỉ khổ đế được tiến hành như sau: (1) sanh là khổ. (2)lăo là khổ, (3)tử là khổ. (4) sầu khổ, than văn, đau khổ, buồn nản và thất vọng cũng là đau khổ, (5) liên kết với những ǵ không thân thương cũng là đau khổ, (6) xa ĺa với những ǵ thân thương cũng là đau khổ,(7) không đạt được những ǵ muốn cũng là đau khổ (e.g Thanh Tịnh Đạo 498tt). Chính v́ thế trước tiên h́nh như Dhammapāla coi “đau buồn, than văn hay đau khổ” như là điều chỉ rơ ba thành viên đầu tiên tạo thành đau khổ (4) và rồi thứ đến ngài tranh luận rằng hiện hữu của từ vā (hay là) cũng có nhiệm vụ chỉ rơ một cách làm khác không được khẳng định rơ, chỉ rơ cho thấy việc gom tóm lại những dạng đau khổ khác nữa. [19]. Xin đọc chú giải Vv-a 37. [20] Chú giải Be Se giải thích là sattam saṅkhārañ ca c̣n bản văn Ce ghi là sattasaṅkhāraṃ; xin đọc Thanh Tịnh Đạo 504tt, trong đó liên kết với những ǵ không thân thương và xa ĺa khỏi những điều được coi là thân thương được giải thích bằng từ liên kết với/ bất tương ưng khỏi những chúng sanh và các hành có sức quyến rũ thu hút. [21]. Chú giải Be và Ud giải thích là bhavanti c̣n bản văn Ce Se ghi là sambhavanti. [22]. Ngài Woodward đă cung cấp sai nguồn Kinh Phật, trong tập VofU 112 n 2, cũng như “Dhp 209”. [23]. Chú giải Ce Be Se giải thích là omaccharehī ti ca ādi c̣n bản văn ghi là omaccharā ca ādi; Sn (Ee Be) cũng giải thích là maccharā ca, hơn là omaccharehi. [24]. Chú giải Ce Be Se giải thích là piyappabhūtā c̣n bản văn (Sn Ee Be) ghi là piyā pahūtā. [25]. Như vậy Dhammapāla giải thích là paridevitā và dukkhā hoặc là số nhiều giống đực thay cho trung tính số nhiều, hoặc giả ở số nhiều trung tính, nhưng vần cuối cùng lại là ni được đọc lướt đi. [26]. Vītasokā; chú giải Be và Ud cũng giải thích giống như vậy, c̣n bản văn Ce Se ghi là vigatasokā, tức là loại bỏ đau khổ nhưng h́nh như ta nên duy tŕ cách giải thích Ud ở đây. [27]. Chú giải Be Se ghi katthaci c̣n bản văn Ce ghi là na katthaci. [28]. Chú giải Ce Se giải thích là sattaloke ca saṅkhāraloke ca (Be sattaloke saṅkhāraloke ca) c̣n bản văn ghi là sattaloke ca. [29]. Piyāyanā; chú giải Ce Be Se giải thích là piyāyanaṃ, cả ở đây và ở dưới. PED chỉ liệt kê từ thứ nhất. [30]. Chú giải Ce Be Se giải thích là va c̣n bản văn ghi là vā. [31]. Chú giải Ce Be Se giải thích là rāgarajādīnañ ca c̣n bản văn ghi là rāgavirajādīnañ ca. [32]. Bản văn Ce chèn thêm pana; chú giải Be Se bỏ qua, thực chất, mệnh đề hiện hành là cách giải thích từ patthayāno (người có ước muốn) vài hàng trước đó, cho thấy bản dịch hơi tối nghĩa, lại đưa ra thứ tự các từ có phần khác nhau do yêu cầu của cả tiếng Pāli lẫn tiếng Anh. [33]. Xin đọc Thanh Tịnh Đạo 320, 385. [34]. MA ii 109 về Trung Bộ Kinh (M) i 135 (vừa được trích) khẳng định rằng Đức Phật tạo cho chúng sanh từ bỏ dục và tham ngay cả ở bất kỳ đâu có liên quan đến chỉ tịnh và thiền minh sát. |
|