|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
9. Visākhā [158] Trong Kinh Phật thứ chín: tại Đông Phương tự (Pubbārāme): tại khu nhà nghỉ được xây cất tại phía đông[1] thành phố Sāvatthi ngay trong một phong cảnh giống như thiền viện[2]Uttamadevī tại thành phố Anurādhapura. Trong lâu đài của mẹ Migāra: Migāramātupāsāde = Migāramātuyā pāsāde [3] (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài), trong trường hợp này có một chuyện kể[4] lịch sử như sau: Trong quá khứ[5], khoảng một trăm ngàn đại kiếp trở lại đây, trong khi thị kiến vị Như Lai Thập Lực Padumuttara[6] theo lời một số cận sự nữ nàng đang có địa vị tối thượng phục vụ cho vị Như Lai, có một cận sự nữ đă mời Đức Thế Tôn ban phát vật cúng dường cho hơn một trăm ngàn các vị Tỳ khưu có Đức Phật đứng đầu, tuân theo lời dạy của Đức Thế Tôn, và rồi nàng đă phát nguyện đến đúng thời điểm để trở thành người phục vụ tối thượng cho Đức Phật tương tự như vị Như Lai Thập lực vậy. Sau khi đă tiếp tục trải qua (luân hồi) một quăng thời gian dài một trăm ngàn đại kiếp giữa các thần linh lẫn nhân loại, vào một thời điểm cùng thời với Đức Thiện Thệ chúng ta, nàng đă tái tái sanh trong ḷng bà Sumanadevī[7]trong gia đ́nh một thương gia giàu tên là Dhanañjaya, lại là con trai của một thương gia giàu khác có tên là Meṇḍaka[8] đang sống trong thành phố Bhaddiya. Và[9] vào thời điểm nàng được sanh ra, người ta đặt tên cho nàng là Visākhā. Khi Đức Thế Tôn du hành đến thành phố Bhaddiya, lúc đó nàng đă ra khỏi nhà để chào đón [10]Đức Thế Tôn, đi theo nàng có năm trăm cô gái hầu hạ, và nàng đă trở thành một vị Nhập Lưu[11] (sotapanna) ngay từ giây phút đầu tiên diện kiến Ngài Như Lai Thập Lực. Một thời gian sau đó, sau khi đă kết hôn trong gia đ́nh Puṇṇavaḍḍhana Kumāra, là con trai một thương gia giàu có tên là Migāra, đang cư trú trong thành Sāvatthi[12]. Bố chồng của nàng, là thương gia giàu có tên là Migāra[13]. Tại đó nàng đă được làm mẹ bằng cách phục vụ chồng, kết quả là nàng đă trở thành mẹ của Migāra[14]. Nàng đă sang nhượng áo choàng[15]to lớn của ḿnh và với chín kotis (có được số tiền)[16]nàng đă xây một karīsa[17] với qui mô một lâu đài được trang hoàng với một ngàn pḥng, tức là có năm trăm pḥng[18] nằm trên lầu và năm trăm pḥng[19] ở tầng trệt làm chỗ ở cho Đức Thế Tôn và Tăng Đoàn các vị Tỳ khưu, v́ lư do đó có lời nói rằng: “Tại ṭa lâu đài bà mẹ Migāra”. Một số lợi tức này nọ (kocid eva attho): một số thương vụ này nọ. Nhà vua:raññe = rājini (một h́nh thức ngữ pháp khác). Tùy thuộc vào (paṭibaddho): phụ thuộc vào[20], những đồ dùng được nạm đá quí và ngọc bảo v.v… phải được di chuyển từ gia đ́nh của những người họ hàng của Visākhā đến cho nàng để làm quà tặng; [159] khi những vật đó đă được di chuyển tới cổng thành, những quan thu thuế tại đó, đang khi thu các khoản thu thuế, đă cho thu cả những ǵ họ cho là thích hợp, có nghĩa là đă thu nhiều hơn những ǵ cho phép. Khi nghe biết điều này, Visākhā muốn cho nhà vua biết rơ điều này, liền đến chỗ nhà vua cư trú cùng với đoàn tuỳ tùng như để làm hậu thuẫn. Sau thời gian đó nhà vua liền lui vào nơi ở riêng có hoàng hậu Mallikā hộ tống. Không thể tận dụng được cơ hội Visākhā đă bỏ bữa ăn đă dọn lên nghĩ rằng “Giờ th́ ta sẽ có một cơ hội; giờ th́ ta sẽ tận dụng được cơ hội”[21]và rồi nàng ra đi sau khi đă lên đường mà không ăn chút ǵ vào bụng cả. Ngay cả sau hai ba ngày như vậy, nàng vẫn chưa thể gặp được cơ hội nào. Chính v́ thế người ta nói rằng nhà vua đó “đă không thực hiện những điều đă dự định.” V́ lư do nhà vua đă không tạo được cơ hội[22] để phán đoán vấn đề đó, ngay cả nhà vua không hay biết ǵ về điều này. Về điểm này: Như đă dự định (yathādhippāyaṃ): phù hợp với ư định của nàng. Không thực hiện được (na tīreti): không thể kết luận được. V́ đó là ư định của cận sự nữ vĩ đại đó[23], sau khi đă giao nộp một phần thuế thuộc nhà vua[24], và không nộp thêm phần c̣n lại. Nhà vua[25] không thể thực hiện điều này được lư do là nhà vua đă không gặp được nàng. Được rồi, giờ đây (handa) là một tiểu từ hiểu theo nghĩa cam chịu. Vào thời điểm ban ngày: divādivassa = divasassa divā (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới dạng ngữ pháp khác), ư nghĩa là vào thời điểm giữa ngọ. Điều này nhằm chỉ rơ một thực tế, tức là “Tiếp tục vào ban ngày[26], trong ṿng hai ba ngày, trước cổng thành nơi nhà vua cư ngụ, liên quan đến một số nhiệm vụ này nọ. Ta đi đến gặp Ngài không v́ bất kỳ nhiệm vụ nào, thực tế là điều thú vị đó vẫn chưa đến hồi kết thúc; trong khi đó chính hành động đi đến gặp này lại liên quan đến Đức Thế Tôn, liên quan đến một số mục tiêu nào đó, cả nguyên nhân để đạt được điều vô thượng liên quan đến thấy vô thượng v.v…[27] Ôi! Đức Thế Tôn, chính v́ thế tôi đă đến địa điểm này” cận sự nữ vĩ đại đó đă lên tiếng “Ôi Đức Thế Tôn trong trường hợp này liên quan đến một số lợi ích của tôi thưa Ngài.” v.v… Vấn đề này (etam atthaṃ) thẩm định lại vấn đề này được coi là ư định của nàng không được thành công[28] do c̣n phụ thuộc vào điều khác nữa. Kinh Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): kinh Phật Tự Thuyết này xuất hiện đă giải thích hoàn toàn các nguy hiểm cũng như lợi ích liên quan đến một số cách sống[29] đó trong đó một số người phải chịu khuất phục. Về điểm này: Tất cả là do ảnh hưởng của một điều khác là đau khổ (sabbaṃ paravasaṃ dukkhaṃ): bất kỳ công việc ǵ, bất kỳ ai có liên quan, đều do người khác gây ảnh hưởng cả, đều phụ thuộc vào người khác, do ta bất lực không thể kết thúc được theo ư muốn[30]. Đau khổ, có nghĩa là đem đến (gây ra) đau khổ. Toàn bộ uy lực hạnh phúc (sabbaṃ issariyaṃ sukhaṃ): uy lực có hai loại: uy lực hiệp thế và siêu thế. Về điểm này uy lực hiệp thế chính là quyền lực của nhà vua v.v…cũng như quyền lực trí tuệ xuất hiện thông qua nhập thiền Jhanas hiệp thế và khả năng thần thông hiệp thế (abhiññās); uy lực siêu thế chính là quyền lực tịch diệt có thể do đắc đạo (chứng đắc thánh đạo) và thánh quả[31] thánh đạo đem lại. Liên quan đến vấn đề này, uy lực đó có liên quan đến nhân loại lại thấy điểm tột đỉnh chuyển luân vương (cakkavatti), và uy quyền đó, về phía các dạ xoa (Sakka) v.v… bao gồm chủ quyền trên nhóm chư thiên này nhóm chư thiên nọ[32] cả hai loại này cho dù có hạnh phúc sung sướng làm đối tượng, đều có thể qui về hạnh phúc sung sướng cả; giả dụ như kết thúc được điều ǵ ta ước muốn là do uy lực nghiệp chướng mà ra, mặc dù đơn giản trong thực tế đó chỉ là đau khổ chuyển đổi[33] thành đau khổ mà thôi. Cũng tương tự như vậy [160] uy lực tâm xuất hiện[34]nhờ nhập thiền Jhanas hiệp thế. Thực tế là ta có thể chứng minh một cách tuyệt đối là do vô thường mà ra[35]; trong khi đó uy lực chính là tịch diệt được đề cập đến một lần duy nhất là hạnh phúc sung sướng tuyệt đối; chính do bản chất tịch diệt có tính chất không thể đảo ngược được v́ không thể rung động trước các pháp thế gian. Hơn thế nữa, về vấn đề này tức là hạnh phúc tâm ta có được do không lệ thuộc vào người khác dưới bất kỳ t́nh huống nào, Bậc đạo sư đă nói. “Toàn bộ uy lực là hạnh phúc”. Khi cùng chịu sầu khổ chung với nhau (sādhāraṇe vihaññanti): điều này tiết lộ ra ư nghĩa đoạn văn “Tất cả là do ảnh hưởng của một điều khác nữa là đau khổ và đây là ư nghĩa trong mối tương quan này, khi công việc chung xuất hiện (với người khác) cần phải được hoàn tất. Những người này phải chịu đựng sầu khổ chung với nhau, gặp nhau trong buồn khổ, trở nên ngă ḷng[36]qua việc không thể kết thúc được ǵ phải hoàn tất[37] đă được trù liệu mà kết quả lại do phụ thuộc vào người khác. Tại sao vậy? V́ những ách th́ khó có thể vượt qua được (yogā hi duratikkamā): việc hàm ư ở đây chính là v́ dục ách, hữu ách,tà kiến ách và vô minh ách, đều phát triển trong thời gian không có khởi điểm, rất khó có thể được vượt qua. Do bất khả kháng, về phía những ai có những pháp thiện không được tích trữ, để diệt trừ những (thứ đó), và như vậy, tà kiến ách là điều phải được vượt qua do đệ nhất thánh đạo, dục ách[38] được vượt qua do đệ tam thánh đạo, điều c̣n lại do thánh đạo tột đỉnh: chính v́ thế những ách này khó ḷng có thể vượt qua do thực tế là thánh đạo tự bản chất rất khó chứng đắc, chính v́ thế, do không thể sở hữu được tài sản này như là ḷng mong ước[39] do những ách như dục ách v.v…đă đem lại sầu khổ; trong khi đó khi xuất hiện uy lực tâm và uy lực đó chính là tịch diệt, chẳng có điều ǵ lại diễn ra chung (với những thứ khác), do vậy lúc nào sầu khổ cũng sẽ được tạo ra. Hay nói cách khác, Tất cả là do ảnh hưởng của một điều khác là đau khổ (sabbaṃ paravasaṃ dukkhaṃ) : toàn bộ những ǵ được cho là trạng thái cuộc sống trong đó chúng ta phải lệ thuộc nhau[40] đó chính là đau khổ, do bản chất đích thực của đau khổ lại chính là vô thường, v́ bất kỳ pháp vô thường nào cũng đều tạo đau khổ cả.” (S ii 53). Toàn bộ uy lực (sabbaṃ issariyaṃ): toàn bộ[41] những ǵ[42]được phân thành những dư sót của sanh y (substrate) v.v…đó chính là cách thoát[43] khỏi tất cả những pháp hành (ư muốn nói là) Hữu Dư Níp Bàn có tên gọi là “uy lực” v́ lư do đó là một địa điểm “uy lực” của chư phật,[44] lại chính là hạnh phúc tột đỉnh vậy” (M. i 508). Một khi đă phải chung đụng với tha nhân (sādhāraṇe): một khi đau khổ và hạnh phúc tột đỉnh lại được dàn hàng[45] như vậy các chúng sanh phải lặn hụp trong đau khổ gây phiền toái là điều dành cho nhiều người, sầu khổ xuất hiện. Tại sao vậy?[46] v́ ách phược rất khó vượt qua (yogā hi duratikkamā): Hàm ư ở đây chính là v́ các dục ách này.v.v..được tạo tác trong mọi t́nh huống, nguyên nhân việc đắm ch́m và lặn ngụp đó khó ḷng vượt qua[47]. Như vậy, cả các bạn nữa, hỡi Visākhā, với ước muốn có được những điều ta ước ao, điều này phụ thuộc vào người khác, v́ không đạt được những điều như vậy, sầu khổ xảy ra là đều khó tránh khỏi. Việc giải thích Kinh Phật thứ chín kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Sāvatthiyā c̣n bản văn ghi là Sāvatthiyaṃ. [2]. DPPN, mặc dầu có đưa ra tên, chẳng nói điều ǵ hết, chỉ trích tham khảo hiện nay và tham khảo trong “MA i 471” không phải là ấn bản của PTS. Không thể t́m đâu ra được nguồn chính xác trong các bản chú dẫn cho các từ sau này, v́ danh sách này chỉ là các từ được b́nh luận mà thôi. [3]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Migāramātuyā pāsāde, c̣n bản văn chỉ ghi là Migāmamātuyāpāsāde. [4]. Chú giải Ce giải thích là anupubbīkathā, bản văn Be Se ghi là anupubbikathā; chú giải Ud-a 51, 168. [5]. Là dạng viết tắt về chuyện kể này được t́m thấy trong MA ii 296 và trong SA i 148, trong hai tác phẩm này đoạn văn này dùng làm nhập đề giới thiệu tập chú giải S i 77tt # Ud VI 2. [6]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Padumuttaradasabalaṃ c̣n bản văn ghi Padumuttarassa Bhagavato kāle [7]. Điều chú giải tiếp theo được ghi lại chi tiết hơn trong Dhp-a i 384tt (BL ii 59tt) [8]. Meṇḍakaseṭṭhi; Dhp-a i 384tt cũng như vậy. V́ một vài lư do. Burlingame luôn tự ám chỉ ḿnh là “con cừu đực” (BL ii 59tt) [9]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ’assā. C̣n bản văn lại ghi là ’ assā. [10]. Chú giải Ce Be giải thích là paccuggamanaṃ katvā, Se paccuggamanaṃ gantvā, c̣n bản văn lại ghi là paccuggantvā; theo như chú giải Dhp-a i 385 Meṇḍaka đă dạy nàng phải thực hiện như vậy, rồi sau này nàng đă thực hiện bằng cách ra ngoài để chào đón ngài cùng với năm trăm các cô gái hầu hạ nàng, lại đi trên năm trăm chiếc xe ngựa. [11]. Như năm trăm người bạn của nàng đă thực hiện, theo chú giải Dhp-a i 385 kể lại. [12]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Sāvatthiyaṃ c̣n bản văn th́ ghi là Sāvatthiyā. Theo tập chú giải Dhp-a i 385tt, nhà vua nước láng giềng Bimbisāra và Pasenadi lại có tương quan qua hôn nhân. Quốc độ Bimbisāra đă nổi tiếng v́ có năm nhân vật rất giàu có. C̣n Pasenadi th́ không. Pasenadi yêu cầu Bimbisāra tặng cho ḿnh một trong số năm nhân vật đó, và Bimbisāra đă thuyết phục được Dhanañjaya lên đường đến Pasenadi vào thành phố Sāvatthi; đang khi họ chỉ c̣n có bảy do tuần (yojanas) là đến thành phố Sāvatthi, Dhanañjaya có yêu cầu Pasenadi xây cho ông một thành phố, nhà vua đă đồng ư, thành phố này có tên là Sāketa. Chính từ thành phố này ông đă đến thành Sāvatthi khi ông đă lập gia đ́nh với Puṇṇavaḍḍhana. [13]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Migāraseṭṭhi c̣n bản văn lại ghi là Migaseṭṭhi [14]. Upakāravasena; trong tập chú giải Dhp-a i 405tt chúng ta được biết Migāra, là người đă có t́nh cảm với Jainas, theo lời khuyên của các vị đó một số đă miễn cưỡng không tham dự buổi bố thí do con dâu ông tổ chức. Tuy nhiên người đó cảm thấy là nên nghe theo giáo lư Phật Pháp tiếp theo, mà chàng đă thực hiện, lại nữa theo lời khuyên của họ, kết quả là từ sau một bức màn chàng đă trở thành một vị Nhập Lưu; thế rồi “đang khi vén màn lên, chàng đă đi về phía trước và chấp người con dâu của ḿnh, chàng chấp nhận người con dâu làm mẹ nói rằng, “Từ hôm nay trở đi nàng là mẹ ta”, và kể từ đó nàng được gọi với tên là Mẹ của Migāra. Sau này khi nàng đă có con, nàng đă đặt tên cho con ḿnh là Migāra” (BL ii 75) [15]. Chú giải Ce Se giải thích là mahālatāpasādhanaṃ; (Be ghi là mahallatāo) c̣n bản văn ghi là mahālātāpasādhanaṃ; để biết thêm chi tiết xin đọc chú giải Dhp-a i 394tt, BL ii 66 (được trích trong VS 249 n 8). Như đă được khẳng định ở đây, cha nàng đă tốn hết chín kotis để tạo ra, nàng đă cởi nó ra khi nàng đến thăm thiền viện một ngày kia, rồi giao cho một tớ gái đề giữ; tuy nhiên tớ gái của nàng đă bỏ quên nó ở thiền viện khi họ lên đường. Visākhā cảm thấy sai quấy nếu nàng đ̣i lại món đồ, chính v́ thế nàng đă quyết định bán đi và dâng cúng giúp cho Tăng đoàn được phát triển; nhưng không kiếm đâu ra một người giàu có mua, nàng đă tự bỏ tiền ra mua với giá là chín kotis, là số tiền cha nàng đă bỏ ra để thực hiện. – xin đọc chú giải Vv-a 187tt; Dhp-a i 410tt. Trong chú giải Dhp-a i 413 người ta khẳng định rằng chính Đức Phật đă quyết định sử dụng số tiền đó để làm một nơi cư trú. [16]. Chú giải Dhp-a i 413, 416 khẳng định rằng nàng đă trả chín kotis để mua nơi đó và chín kotis nữa dùng vào việc xây cất. Như đă lưu ư đến ở trên, người ta nói rằng nàng đă kiếm được số tiền chín kotis bằng cách bán chính áo choàng của ḿnh; nhưng có một điều không được rơ ràng là khong hiểu việc buôn bán dùng để mua nơi đó hay dùng vào việc xây dựng nhà cửa trong đó. [17]. Chú giải PS 270 n 2. [18]. Gabbha; hay những căn pḥng ngủ. [19]. Bản văn Ce lại bỏ qua. [20]. Chú giải Ce Be Se giải thích là āyatto c̣n bản văn lại ghi là āsatto. [21]. Chú giải Ce Be Se giải thích là idāni labhissāmi idāni labhissāmī ti c̣n bản văn ghi là idāni labhissāmī ti. [22]. Chú giải Ce Be Se giải thích okāsākaraṇena c̣n bản văn lại ghi là okāsakaraṇena. [23]. Chú giải Ce Be Se giải thích là mahā-upāsikāya c̣n bản văn ghi là mahā upāsikā. [24].Chú giải Ce Be giải thích rājāyattasuṅkaṃ c̣n bản văn Se ghi là raññāyattasuṅkaṃ. [25]. Chú giải Ce Be Se giải thích là so raññā na diṭṭhattā eva na tīrito c̣n bản văn ghi là tassā rañño na diṭṭhattā, evaṃ na tīretī ti. [26]. Divasassa divā; Be bỏ qua. [27]. Chú giải D iii 219; Trung Bộ Kinh (M) i 235 đối với một bộ gồm có ba pháp vô thượng, D iii 250, Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 284. 325tt và Ud-a 335 dưới đây dành cho một bộ sáu pháp vô thượng; đây rơ ràng chỉ là một cách nói bóng gió có liên quan đến vấn đề sau này; trong đó quan cảnh được ám chỉ đến chính là Đức Phật, về điểm này xin đọc Ud-a 276 dưới đây. [28]. Chú giải Ce Be Se giải thích là adhippāyāsamijjhanao c̣n bản văn lại ghi là adhippāyā samijjhanao . [29]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ovuttīsuo c̣n bản văn lại ghi là ovuttīnaṃ; chú giải DA 212. [30]. Bản văn chèn thêm taṃ; chú giải Ce Be Se lại bỏ qua. [31]. Ce Be Se giải thích là lokiyajjhānābhiññānibbattaṃ cittissariyañ ca/ lokuttaraṃ maggaphalādhigamanimittaṃ nirodhissariyaṃ; c̣n bản văn lại ghi lokiyajjhānābhiññanibbattakaṃ: Cittissariyañ ca lokuttara maggaphalādhigamanimittaṃ nirodhissariyañ ca lokuttaraṃ. [32]. Ce Be Se giải thích manussesu issariyaṃ/yañ ca…issariyaṃ/tadubhayaṃ; c̣n bản văn ghi là manussesu issariyañ ca…issariyañ ca tadubhayaṃ. [33]. Vipariṇāmadukkhatāya; là một trong ba loại đau khổ, hai loại khác là dukkhadukkhatā (đau đớn nội phần) và saṅkhāradukkhatā (đau khổ do các hành gây ra) – xin đọc chú giải D iii 216. S iv 259. Thanh Tịnh Đạo 499, v.v… [34]. Ce Be Se giải thích là onibbattaṃ; c̣n bản văn ghi là onibbattakaṃ. [35]. Aniccantikatāya; không thấy ghi trong tự điển Childers, PED hay CPD (thực chất PED không có mục từ anicca) [36]. Kilamanti; chú giải Pv-a 277. [37]. Chú giải Be giải thích là anipphādanato. Chú giải Se giải thích là anijjhanato, c̣n bản văn Ce lại ghi là anipphajjanato. [38]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kāmayogo c̣n bản văn ghi là kāmayoga. [39]. Icchitālābhahetu; Woodward đă chấm câu sai là icchitā lābhahetu. [40]. Ce (Be) giải thích là añña (p) paṭibaddhavuttisaṅkhātaṃ c̣n đối với bản văn lại ghi là aññapaṭibaddhapaccayā yathāvuttisaṅkhātaṃ, chú giải Se ghi aññapaṭibaddhaparāyattavuttisaṅkhātaṃ, được coi như là một phương thức cuộc sống. Trong đó chúng ta thường bị lệ thuộc và bị nô dịch hóa với một số người, cách giải thích của bản văn như sau, rất có khả năng, phiền năo điều đó được t́m thấy nơi chú giải Se. [41]. Ce Be Se giải thích là taṃ c̣n bản văn lại ghi là taṃ taṃ. [42]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yaṃ; c̣n bản văn lại bỏ qua. [43]. Chú giải Ce Be Se giải thích là onissaṭaṃ; c̣n bản văn lại ghi là onissaṭa. [44]. Chú giải Ud-a 374 dưới đây. [45]. Vavatthite; hay loại ra ngoài, tách biệt ra v.v… [46]. Chú giải Be Se giải thích là kasmā; c̣n bản văn Ce lại bỏ qua. [47]. Tuy nhiên, ta không nên quên là Visākhā đă trở thành một vị Nhập Lưu ngay từ thời con nhỏ, và như vậy người nào ít nhất đă vượt qua được tà kiến ách. H́nh như Dhammapāla đă để mất tầm nh́n về điểm này. |
|