|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
5. UPOSATHA: Bố Tát (ngày tụng giới) [296] Trong Kinh Phật thứ năm: vào ngày[1]: tadahu = tasmiṃ ahani (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài hay một dạng ngữ pháp khác), vào ngày đó (tasmiṃ divase). Uposatha (uposathe): liên quan đến vấn đề này, đây chính là “Uposatha” (uposatho) (ngày bát giới quan trai) v́ họ nắm giữ (upavasanti [2](những điều) ở đây (ettha), (uposatho) (họ thọ tŕ) ư nghĩa ở đây là như được trang bị (upetā) hoặc là các giới[3] hay với việc kiêng cữ đă được ấn định (vasanti[4]). V́ từ uposatha này đă được truyền lại liên quan đến các giới luật, như trong câu, “Ta sẽ thọ tŕ ngày Trai giới (uposatha) được đầy đủ với tám chi phần.” (chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 213[5]) v.v…; liên quan đến hành vi chính thức liên kết với Giới luật, như việc tụng kinh Giới Bổn (Pātimokkha) v.v…như trong câu “ ngày Trai giới (Uposatha) hay ngày tự tứ (Pavāraṇā)” ( [6] ) v.v… liên quan đến việc thọ tŕ[7] như trong “ngày trai giới của những người chăn thả, ngày trai giới của những người Ni-Kiền tử (Nigaṇṭhas)” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 205) v.v… liên quan đến việc mô tả, như trong câu “Vương Tượng tên là Uposatha” (D ii 174) v.v… (và) liên quan đến một ngày, như trong câu, “Hôm nay là ngày rằm và cũng là ngày Trai giới” (Vin i 102) v.v…cũng trong trường hợp này, đơn giản được coi như liên quan đến một ngày. Chính v́ thế, “vào ngày Trai giới (Uposatha) có nghĩa là ngày (ahani) tạo thành ngày trai giới (divasa). Đang ngồi thiền (nisinno hoti): đang ngồi thiền, vây quanh là một Tăng đoàn các vị Tỳ khưu, để tụng những lời giáo giới[8] Giới bổn (Pātimokkha).[9] Nhưng vừa nh́n thấy một người sống ác giới, khi ngài nh́n thấy tận thâm tâm các vị Tỳ khưu đó sau khi đă ngồi thiền, xuất phát từ ḷng từ bi nhân hậu ngài vẫn tiếp tục ngồi thiền, hoàn toàn im lặng. Biết rằng, nếu như ngài tụng giới bổn(Pātimokkha) đang lúc họ vẫn c̣n ngồi thiền tại đó, đầu của ngài sẽ vỡ thành bảy miếng[10]. Và liên quan đến vấn đề này vị Trưởng Lăo thỉnh cầu Đức Phật tụng giới bổn(Pātimokkha) nói rằng: “Xin Ngài hăy tụng giới bổn (Pātimokkha) với các vị Tỳ khưu” ngay cả khi ngài nói đến[11] b́nh minh đă ló rạng, nói rằng “b́nh minh đă xuất hiện”[12] Có một thực chất là vào sát na đó đối tượng tu luyện (để đem lại hiệu quả) “Hỡi các vị Tỳ khưu, kinh Trai giới, không nên tụng vào những ngày không phải là ngày tụng giới[13]. hỡi Ānanda. Tăng đoàn không phải đă hoàn toàn thanh tịnh. (aparisuddhā Ānanda parisā): thay v́ nói rằng, “vị Tỳ khưu này nọ đă không được hoàn toàn thanh tịnh” khi nói rằng - v́ ngài Trưởng Lăo đă thỉnh cầu đến ba lần để ngài tụng giới bổn (Pātimokkha) - liên quan đến lư do không phải là ngày tụng giới (thay vào đó Đức Phật) đă nói rằng: “Hỡi Ānanda, Tăng đoàn đă không được hoàn toàn thanh tịnh” Nhưng tại sao Đức Phật đă trải qua suốt ba canh đêm trong pháp như vậy? Để chỉ dẫn cho chúng sanh biết rơ căn bản ước muốn của ngài không c̣n nữa sau khi đă tụng giáo giới. Ngài đă nhận ra (addasā): đă nhận ra bằng cách nào? Bằng cách am hiểu toàn diện tâm trí các vị Tỳ khưu trong Tăng đoàn đó[14] bằng trí tuệ của chính ḿnh, ngài đă nh́n thấu tâm phàm phu của họ với ác giới. Hơn thế nữa, v́ khi tâm được tỏ lộ, coi như Đức Phật có thể biết rơ những ǵ đă nh́n thấy, chính v́ thế có lời nói rằng, “ Và Trưởng Lăo Mahāmoggallāna đă nh́n thấu tâm người đó có ác giới” v.v…[297] V́ khi người đă hiểu rơ hoàn toàn suy nghĩ người khác về tương lai, th́ cũng biết rơ những ǵ xảy ra trong đó trong bảy ngày sắp tới, kể cả trong quá khứ nữa.[15] Có ác giới (dussīlaṃ) [16]: thiếu giới, có nghĩa là họ không có giới đức. Thuộc bản chất bất thiện (pāpadhammo): xuất phát từ bản chất của ḿnh, người đó tỏ ra đê tiện, hèn hạ. Do có khuynh hướng về những ǵ là hèn hạ ti tiện v.v…[17] liên quan đến chính ác giới. Ô uế (asuciṃ): không trong sạch do những hành vi thân v.v…không hoàn toàn thanh tịnh. Với sở hành đáng nghi ngờ. (saṅkassarasamācāraṃ): với sở hành đó (samācāraṃ) khiến ta có thể gợi nhớ (saritabba) đến nghi ngờ (saṅkāya) v́ người khác có thể cảnh giác về những ǵ có trong đó, ngay khi chứng kiến bất kỳ điều bất thiện nào, họ có thể nghĩ rằng đó là những ǵ[18] chính hắn đă thực hiện. Hay nói cách khác, về sở hành đó khiến ta gợi nhớ lại (saritabba) với vẻ nghi ngờ (saṅkāya) về chính con người đó, vừa nh́n thấy như vậy, các vị Tỳ khưu chẳng bàn luận đến điều ǵ khác, mà chỉ nghĩ rằng rất có thể[19] họ đang bàn luận về sở hành của hắn, chỉ biết rằng[20]chính hắn đă thực hiện điều đó. Hắn là người thực hiện công việc một cách mơ hồ[21] v́ về phần người đó, ta thấy xuất hiện những việc làm mờ ám cần được che dấu, do chính bản chất đáng xấu hổ, v́ sợ ta phát hiện ra hắn là một sa môn giả mạo do chấp nhận hành vi đê tiện giả làm sa môn, chứ không phải sa môn. (cho dù) hắn công bố ḿnh là một sa môn đích thực bằng lời khẳng định sai trái “ta cũng là một sa môn” trong khi nhận danh hiệu[22] sa môn v.v… và khi được kể vào số các sa môn nhằm xác định con số sa môn là bao nhiêu, một vị Phạm hạnh giả mạo qua hạnh kiểm[23] không thuộc xuất sắc,[24] cho rằng ḿnh là Phạm hạnh tốt trong số đó, vừa chứng kiến các vị Phạm hạnh khác[25] đi khất thực nuôi ḿnh, bằng cách du hành vào các làng mạc hay khu phố chợ v.v…. ăn mặc đồ đạm bạc thích hợp, đắp y phù hợp, mang theo bát khất thực rất quí, dẫu rằng chính ḿnh là một vị Phạm hạnh giả mạo, bằng cách tu luyện cùng một cách giống như bao vị khác, và cũng thấy xuất hiện cùng với họ trong ngày trai giới v.v… hắn hành xử như muốn công bố kết quả là “Ta cũng là một vị Phạm hạnh tốt” một người bị thối rữa ngay từ bên trong do thực chất là hắn đă nhập nhiễm chính tâm phiền năo[26] bằng những hành vi đồi bại, một người đă trở nên chai đá.[27] do đă trở nên ẩm ướt bằng những trận mưa phiền năo tham dục v.v…[28]thông qua lục môn,[29] một người đầy rác rưởi do những rác rưởi tham dục v.v…đă chất đầy trong tâm và do thực chất là các vị có giới đức thâm tín đă loại bỏ các thứ rác rưởi đó ra ngoài[30]. ngồi thiền giữa Tăng đoàn các vị Tỳ khưu (majjhe bhikkhusaṅghassa nisinnaṃ): ngồi thiền ngay giữa trong Tăng đoàn các vị Tỳ khưu như thể ḿnh thuộc thành viên Tăng đoàn. Người ta thấy rơ nhà ngươi: diṭṭhosi = diṭṭho asi (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) do Đức Phật coi như là một vị Tỳ khưu không b́nh thường[31]; và khi (bạn thuộc hạng người như vậy)[32] mọi người đều nhận rơ điều đó, chính v́ thế nhà ngươi sẽ không được cảm thông (te=tava, là dạng ngữ pháp khác), thông qua nhiệm vụ[33] đặc biệt v.v…với các vị Tỳ khưu đang khi đó do nhà ngươi không được đồng cảm như vậy, chính v́ thế, hỡi chư huynh, đă khởi sanh - chính v́ thế, trong mối tương quan này, ta nên hiểu đây chỉ là phân tích từ mà thôi. Do đây là lần thứ ba người này giữ im lặng (tatiyam pi kho so puggalo tuṇhī ahosi) ngay cả khi hơn một lần ngài đă đề cập đến vấn đề này, vị trưởng lăo[34] vẫn giữ im lặng hy vọng hoặc (Mahāmoggallāna) có thể, tuỳ thuộc vào chính sự đồng ư của ḿnh, không c̣n quan tâm và ngừng lại. Hay nói cách khác chính giờ đây cũng nhận ra[35] việc tập luyện của ngài. Sau khi đă nắm lấy tay (bāhāyaṃ gahetvā): ngài đă nắm lấy tay vị trưởng lăo[36] nghĩ rằng, “chắc chắn cả Đức Phật và ta cũng đă nhận ra, ngài không thể khởi sanh khi nói đến lần thứ ba. Bây giờ[37][298] chính là sát na để ngài đuổi ra – nhà ngươi không thể ngăn cản ngày Bố tát nơi Tăng đoàn.” Sau khi đă nắm tay như vậy, trưởng lăo đă đuổi người đó ra khỏi toà nhà mái cong (bahidvārakoṭṭhakā nikkhāmetvā): đuổi ra khỏi pḥng họp mái cong, bahi (bên ngoài) tuy nhiên đây là cách ám chỉ một vị trí là nơi ngài bị đuổi ra khỏi đó. Hay nói cách khác, bằng từ bahidvārakoṭṭhakā (ra khỏi căn nhà mái cong) có nghĩa là trưởng lăo đă đuổi người đó ra khỏi hội chúng, cho dù không phải từ bên trong căn nhà mái cong,[38] như vậy trong cả hai trường hợp[39] đều có nghĩa là đuổi ra khỏi thiền viện. Cài then và cột lại (sūcighaṭikaṃ datvā): cài then cửa cho chặt và cột bậu cửa lại[40]có nghĩa là cột cửa[41] lại rất cẩn thận. Cụ thể là (con người vô dụng đó có thể đă chờ đợi) cho đến khi bị nắm lấy cánh tay (yāva bāhāgahaṇā pi nāma) bằng cách này ngài làm rơ ngay sau khi đă nghe lời tuyên bố, “Hỡi Ānanda, Tăng đoàn không được hoàn toàn thanh tịnh” người đó đương nhiên đă trở thành một người phải rời khỏi thiền viện, và đây là điều lư thú cụ thể là, thà phải ra đi như vậy c̣n hơn là người vô dụng đó chờ cho đến khi bị nắm lấy cánh tay dẫn ra ngoài. Cả điều này nữa cũng nên hiểu là một điều kỳ diệu có nghĩa la mắng mà thôi. Sau đó Đức Phật nghĩ rằng, “Ngày nay Tăng đoàn các vị Tỳ khưu đang nổi lên tiếng đồn đại ồn ào[42]. Những người không được hoàn toàn thanh tịnh đến với ngày trai giới, ấy vậy mà các vị Như Lai đă không thực hiện ngày trai giới, mà lại tụng giới bổn(Pātimokkha)[43] nơi Tăng đoàn chưa được hoàn toàn thanh tịnh và khi họ không thể tụng kinh đó, th́ lệnh ngày trai giới đối với các vị Tỳ khưu coi như bị gián đoạn. Điều ǵ sẽ diễn ra nếu các vị Tỳ khưu lại được phép tụng giới bổn (Pātimokkha) kể từ nay trở đi?” Hơn thế nữa, sau khi đă suy nghĩ như vậy, Ngài chỉ cho phép các vị Tỳ khưu tụng kinh Pātimokkha mà thôi. V́ lư do đó có lời nói rằng “Thế rồi Đức Phật …. cho phép tụng giới bổn (Pātimokkha)” Về điểm này. Giờ đây ta sẽ không (na ’ āhaṃ): việc liên kết (các động từ) với mẫu tự na (không) được sử dụng thường xuyên, tức là. Giờ đây ta sẽ không thực hiện ngày trai giới, không tụng [44] giới bổn (Pātimokkha). V́ có hai loại kinh Pātimokkha theo huấn từ, và giáo giới nhằm để khuyên can. Liên quan đến vấn đề này, huấn từ giới bổn được bắt đầu như sau, “ Ôi Đức Thế Tôn, xin Ngài lắng nghe tiếng con” ( [45] ) v.v… chỉ có các đồ đệ tụng kinh này mà thôi, chứ không phải Chư Phật. Kinh này được tụng hai tuần một lần[46]; ngược lại ta được biết chính ba đoạn kệ này lại là giáo giới bổn vậy.[47] “Tinh tấn và nhẫn nại là cách tu luyện khổ hạnh tột đỉnh, (cho dù) Chư Phật lại cho Níp bàn là tột đỉnh. V́ người nào làm hại đến người khác không phải là người xuất gia cũng không phải là vị sa môn một khi gây hận thù với người khác.” (Dhp 184) “Không thực hiện toàn bộ điều ác, thực hiện điều thiện cùng với thanh tịnh tâm – đây chính là giáo lư của các Đức Phật.” (Dhp 183) “Không khiển trách, không gây hại, và thu thúc những ǵ liên quan đến giới bổn (Pātimokkha), am tường tiết độ liên quan đến việc ăn uống. Nhận nơi trú xứ bên ngoài và đạt được với tâm cao hơn - đây chính là giáo lư của các Đức Phật” (Dhp 185 =Ud IV 6) Chỉ có các Chư Phật mới được tụng kinh này, chứ không phải các đồ đệ của ngài, cho dù họ chỉ được tụng sau khi đă trải qua sáu năm tu luyện. V́ đối với các Chư Phật có tuổi thọ lâu dài, chỉ có điều này tạo nên việc tụng giới bổn (Pātimokkha) trong suốt khoảng thời gian các ngài hữu dư níp bàn; [299] ngược lại đối với các Chư Phật có tuổi thọ ngắn, chỉ khi mới giác ngộ[48], sau đó chính người khác[49] tiếp tục việc tụng giới bổn (Pātimokkha) đó và chỉ có vị Tỳ khưu này tụng, chứ không phải các vị Chư Phật. Chính v́ thế cả Đức Phật của chúng ta nữa, vừa khi nh́n thấy mối hiểm nguy sau khi đă tụng giới bổn (Pātimokkha) đă khích lệ trong ṿng hai mươi năm, sau đó ngài không tụng kinh này nữa. Không thể diễn ra (aṭṭhānaṃ): không có lư do ǵ (akāraṇaṃ), anavakāso (không có cơ hội nào) chỉ là một từ đồng nghĩa với từ này. V́[50] đây chính là nguyên nhân (kāraṇaṃ) được cho là “Nơi có điều ǵ đó diễn ra” (ṭhānaṃ) trong đó chỉ là kết quả, liên quan đến sanh mệnh là điều không phải là ngẫu nhiên diễn ra tiếp theo ngay sau đó.[51] (tiṭṭhati), chính v́ thế (một số điều không thể diễn ra) cũng được nói đến là “Những ǵ không có điều kiện diễn ra vậy) (anavakāso [52]) Điều đó (yaṃ) chỉ ra cho thấy hành vi liên quan; điều này phải được phân tích theo cách đă được nói đến ở trên.[53] Hỡi các vị Tỳ khưu, có tám điều liên quan đến Đại Dương (’ ime bhikkhave mahāsamudde)- Tiếp theo sau đó giáo lư[54] dạy ǵ vậy? Trong giáo lư cùng kinh giới bổn (Pātimokkha) một Tăng đoàn không được hoàn toàn thanh tịnh sẽ không được tụng, như đă đề cập đến ở trên do Kinh giới bổn có liên quan đến pháp và luật này. Đây là điều nhiệm mầu, có nghĩa là đây là điều chưa từng thấy, vị Đạo sư muốn làm rơ điều này, bằng cách phân loại thành bảy điều khác nữa (liên quan đến điều đó) đây lại là điều nhiệm mầu, chưa từng thấy, ngài nói rằng, “Hỡi các vị Tỳ khưu, liên quan đến Đại Dương, có tám điều” v.v…, trước tiên để làm rơ về toàn bộ tám điều liên quan đến Đại Dương lại là điều nhiệm mầu, chưa từng thấy liên quan đến các ẩn dụ cho các điều này. Các A-tu-la (asurā): họ là các A-tu-la, V́ họ không giống như các Chư thiên b́nh thường[55], các Chư thiên đó không có ḷng dũng cảm (na suranti) không thể hiện quyền uy[56], không toả sáng; hay nói cách khác. “các Sura”chính là tên dành cho các Chư thiên này[57] những Chư thiên nào chống lại với họ[58] cũng lại là các “Chư thiên A-tu-la”, như Vepacitti và Pahārāda v.v…[59] Cơi giới của các ngài thuộc phần chân núi Sineru[60] thấp; vừa khi gia nhập và rời khỏi đó, họ đă thích thú tiêu khiển tṛ phù thuỷ v.v…[61] ngay dưới chân núi Sineru. Chính việc tiêu khiển[62] trong đó đă nổi lên khi vừa chứng kiến những ân đức thiện ngài nói rằng: “Vừa khi nh́n ngắm các A-tu-la đang thích thú vui chơi nơi Đại Dương.” Về điểm này[63]; tiêu khiển (abhiramanti): thấy thỏa thích, có nghĩa là không nhàm chán những thú tiêu khiển đó. (1a). Những triền dốc liên tục (anupubbaninno) tất cả đều là các từ đồng nghĩa với điều kiện triền dốc liên tục như vậy. Không phải là vực thẳm đột ngột đâu (’ ā’eva papāto): ngay từ lúc đầu, không phải là vực thẳm đâu, không giống như một hố sâu to lớn với tường cắt đứng (thẳng đứng). V́ ngài làm rơ rằng, bắt đầu với vùng bờ biển[64] liên tục tiến về phía trước[65] cho đến khi đạt đến một độ sâu khoảng độ một aṅgula[66], rồi hai aṅgulas, một vidatthi, một ratana, một yaṭṭhi, một usabha, một nửa gāvuta, một gāvuta[67], một nửa yojana và v.v…[68] (cho đến khi) dừng lại[69] ngay dưới chân[70] núi Sineru, sau khi đă đạt đến một độ sâu khoảng tám mươi tư ngàn do tuần (yojanas)[71]. (2a) Có bản chất tĩnh (ṭhitadhammo): chính là bản chất nơi chính bản chất tĩnh của nó, là bản chất có tính chất đă được ấn định trước.[72] (3a). Không có điểm tương đồng với tử thi, với một xác súc vật (na matena kuṇapena saṃvasati): không tồn tại (vasati [73]) chung với (saddhiṃ) bất kỳ một tử thi nào, như thể xác voi và xác ngựa v.v…bất kỳ. Chuyển tới bờ (tīraṃ vāheti [74]): di chuyển khỏi biển. Trôi dạt vào đất liền (khô) (thalaṃ ussādeti [75]): [300] liệng[76], giống như bắt được bằng tay, trên đất liền (khô) với cùng cơn sóng ập vào. (4a) Sông Hằng, tên là Yamunā (Gaṅgā Yamunā): con sông bắt nguồn từ phía nam hồ Anotatatta được coi như là một nơi tiếp giáp sau khi đă tự chuyển thành năm ḍng thác, đó là năm ḍng sông qua sông “Hằng” chảy ra biển v.v…Hiện nay cũng có câu chuyện nói về nguồn gốc năm con sông đó ngay từ lúc xuất phát. V́[77] châu lục Jambudīpa này (Ấn Độ) trải dài khoảng mười ngàn do tuần (yojanas), ch́m sâu dưới nước biển, được coi như là một “đại dương”; chúng sanh sống trong một (khu vực, vùng) rộng khoảng ba ngàn do tuần (yojanas), ngọn núi Himālaya[78] tọa lạc trong vùng đó được ba ngàn do tuần (yojanas), được trang điểm với tám mươi tư ngàn ngọn núi khác, mỗi ngọn cao khoảng năm trăm do tuần (yojanas), được trang hoàng rực rỡ với bảy chiếc hồ lớn, tức là hồ Anotatta[79], hồ Kaṇṇamuṇda[80] hồ Rathakāra[81] hồ Chaddanta, hồ Kuṇāla, hồ Mandākini và hồ Sīhappapāta, (mỗi hồ) dài khoảng năm mươi do tuần (yojanas), rộng và sâu, mỗi hồ có chu vi khoảng một trăm năm mươi do tuần (yojanas). Trong số các hồ này, có hồ Anotatta nằm giữa năm ngọn núi, tức là. ngọn Sudassana, ngọn Citta, ngọn Kāḷa, ngọn Gandhamādana và ngọn Kelāsa.[82] Trong đó: ngọn Sudassana được làm bằng vàng, cao độ ba[83] trăm yojans, cuộn vào bên trong[84] và có h́nh dáng giống như chiếc mỏ quạ và đứng che khuất cả chiếc hồ này; Ngọn Citta làm thành bằng bảy[85] châu báu, ngọn Kāḷa làm bằng collyrium[86]; ngọn Gandhamādana làm bằng đá mắt mèo[87] có màu đậu mugga; có mùi thơm của mười loại hương t́m thấy nơi cây cối tức là hương t́m thấy nơi rễ, nơi lơi cây, nơi gỗ non, nơi vỏ cây,[88] hương thơm t́m thấy nơi cành cây[89], nơi nhựa cây, nơi hoa, nơi quả, nơi lá và bao trùm với những loại dược thảo đủ loại. Lại c̣n rực sáng lên[90] giống như than củi toả sáng vào ngày trai giới (uposatha) trong bóng tối ban đêm.[91] Ngọn Kelāsa được làm bằng bạc. Và tất cả các ngọn núi này đều có cùng chiều cao và vóc dáng như ngọn Sudassana, cũng đứng che khuất chiếc hồ đó và trong đó, thông qua vẻ oai nghiêm Chư thiên và long vương[92], thần mưa đổ mưa xuống, và các con sông tràn bờ. Toàn bộ nước đó lại chảy vào hồ Anotatta; trong khi đó mặt trời mặt trăng, [301] di chuyển xuống miền nam hay miền bắc lại tạo ra một thứ ánh sáng rực rỡ tại những ngọn núi đó. (Nhưng) không phải khi cả hai di chuyển trên đỉnh núi,[93] chính v́ lư do đó đă nổi lên một chiếc hồ được gọi là “Anotatta”[94] và ở đó lại xuất hiện[95] qua nghiệp chướng chúng sanh v́ họ đă tiêu khiển tại đó, với chỗ tắm có những bậc thang rất tuyệt làm bằng châu báu và các bề mặt[96] tảng đá bằng phẳng với nước tinh khiết giống như pha lê.[97] Trong những chiếc hồ đó không có cá cũng như rùa[98], các Chư Phật, các vị Độc Giác Phật cùng với các đồ đệ đầy uy lực, ngay cả các thầy rishi[99], cũng xuống tắm tại đó v.v… đang khi đó các Chư thiên và Đế thích v.v…lại vui thích tṛ chơi trên nước.[100] Trên bốn triền sông[101] là bốn cửa sông nước[102] từ đó chảy ra, tức là. miệng sư tử[103], miệng voi, miệng ngựa và miệng ḅ. qua đó có bốn con sông chảy qua. Trên bờ sông chảy từ miệng sư tử, có rất nhiều sư tử có bờm[104], cũng giống vậy có cả voi, ngựa và ḅ (xuất hiện rất nhiều trên bờ nơi các con sông đó chảy ra) như cửa sông voi chẳng hạn. Con sông xuất phát từ vùng phía đông chảy lượn quanh hồ Anatatta ba ṿng về phía bên phải rồi tránh ba con sông khác, di chuyển qua cùng một đoạn sông hướng về phía đông dẫy núi Himālaya qua một nơi con người không thể đặt chân đến được[105], sau đó con sông đổ vào đại dương. Những con sông chảy từ phía tây và phía bắc cũng[106] chảy ṿng quanh hồ Anatatta ba ṿng về phía bên phải rồi chảy xuống vùng phía tây hướng về núi Hymālaya cũng tương tự như vậy qua một vùng con người không thể tới được. Sau đó cả ba chảy vào Đại Dương. Nhưng con sông chảy về phía nam[107] cũng chảy quanh hồ Anatatta ba ṿng về phía bên phải di chuyển xuống phía nam[108] phía trên chảy qua đỉnh một tảng đá cao sáu mươi do tuần (yojanas), đụng phải ngọn núi nổi lên trở thành một ḍng thác chu vi đo được khoảng ba gavutas di chuyển trên không khoảng độ sáu mươi do tuần (yojanas) sau đó đáp xuống trên tảng đá ṃn có tên là Tiyaggaḷā. Tảng đá đó chảy với vận tốc một thác nước. Tại đó tạo thành một đầm sen lớn[109] có tên là Tiyaggaḷā[110] đo được khoảng năm mươi do tuần (yojanas), nổi lên một bờ đê cao vây quanh hồ sen chảy vào tảng đá[111], di chuyển khoảng độ sáu mươi do tuần (yojanas) sau đó lại đổ ra mặt đất cứng di chuyển qua một đường ngầm dưới mặt đất khoảng độ sáu mươi dậm, đụng phải một cao nguyên[112] có tên là Viñjha[113] từ đó biến thành năm ḍng thác tương tự như năm ngón tay của một bàn tay, [302] thế rồi con sông chảy tiếp sau khi ṿng quanh hồ Anatatta ba ṿng về phía phải, được gọi là āvaṭṭa-gangā (sông Hằng soắn ốc): ngay tại vị trí chảy lượn trên đỉnh một tảng đá trồi lên mặt đất khoảng độ sáu mươi do tuần (yojanas), là con sông Kaṇha-gangā (sông Hắc Hằng); ngay tại vị trí đó con sông di chuyển thêm sáu mươi do tuần (yojanas) trên không, được gọi là ākāsa-Gaṅgā[114] (Sông Hằng từ trên không) vẫn c̣n lưu lại trên không khoảng độ năm mươi do tuần (yojanas) trên tảng đá Tiyaggaḷā là đầm sen Tiyaggaḷā, ngay tại vị trí đó con sông chảy thêm sáu mươi do tuần (yojanas) sau đó làm thành một đập nước và chảy vào một tảng đá, gọi là Bahala Gaṅgā (Sông Hằng rậm rạp); Trong lúc ngay tại vị trí đó con sông di chuyển khoảng độ sáu mươi do tuần (yojanas) chảy ngầm dưới ḷng đất, được gọi là Ummagga-Gaṅgā (sông Hằng chảy ngầm dưới đất.) Ngay tại vị trí tiếp tục ḍng chảy sau khi con sông đụng phải cao nguyên tên là Viñjha và biến thành năm ḍng thác. Người ta cho là năm ngọn thác, tức là. sông Hằng, sông Yamunā, sông Aciravati, sông Sarabhū và sông Mahī. Chính v́ thế ta nên hiểu đây là năm con sông xuất phát từ[115] dẫy núi Hymālaya. Về điểm này, “sông”[116]v.v… chính là từ chuyển tánh từ “Sông Hằng”, “sông Yamunā” v.v…đó là tên các con sông. (5a) Tuôn trào (savantiyo): bất kỳ ḍng sông lớn hay ḍng suối nhỏ, khi chúng tuôn chảy[117], di chuyển. Liên quan đến (appenti): tự gắn kết với, chảy xuống. Ḍng thác (dhārā): ḍng thác nước mưa[118]. No đủ thừa mứa (pūrattaṃ): sung măn. V́ đây là luật đại dương không thể nói được hoặc là[119] “ngay lúc này, thần mưa đă trở nên rảnh rỗi[120], nếu chúng ta thả lưới hay bẫy[121] v.v… chúng ta sẽ bắt được cá hay rùa” hay “hiện giờ trời mưa nhiều[122] chúng ta không thể[123] t́m đâu ra chỗ để ngả lưng[124] v́ từ sát na kappa đầu tiên trở về trước, nước như vậy đă được mưa xuống vẫn đang vỗ nhẹ vào bờ biển[125] núi Sineru- loại nước đó[126] chưa hề ch́m xuống[127]dưới, cũng chẳng nổi lên trên, cho dù chỉ ở mức độ chỉ độ một ngón tay. (6a) Chỉ có một hương vị duy nhất (ekaraso): chỉ có một hương vị không bao gồm các (hương vị[128] nào khác). (7a). Những viên ngọc quư (muttā): những viên ngọc quí đủ loại trong đó được phân chia thành nhỏ, to, tṛn và dài v.v…Đá quư (maṇi): các viên đá quí đủ loại phân loại thành đỏ và đen[129] v.v…Đá Be-ril (veḷuriyo): đủ mọi loại bao gồm tập hợp[130] những thể loai có màu tre xanh và những loại có màu hoa cây keo[131] v.v…Vỏ ṣ (saṅkho): Cũng có đủ loại vô số kể trong đó có những loại được phân chia thành: vỏ ṣ soắn ốc bên phải[132] những vỏ ṣ có màu vàng đồng, những thứ có lỗ hổng, và những thứ có thể làm tù và để thổi v.v… Cánh kiến (silā): cũng có vô số loại khác nhau trong số đó lại phân loại thành màu trắng, màu đen và màu đậu mugga v.v…San hô (pavālaṃ): cũng có vô số loại khác nhau theo cách phân loại thành nhỏ, to, màu đỏ nhạt, đỏ đậm v.v…Đá Ru-bi (lohitaṅko [133]): cũng có vô số loại khác nhau chia thành ruby padumarāga[134] v.v… Đá mắt mèo (masāragallaṃ): là đá quí có đốm nhỏ[135]; người ta nói rằng vẫn c̣n có các loại pha lê[136] có màu sắc đa dạng. (8a) [303] Các loại chúng sanh có thân h́nh to lớn (mahataṃ bhūtānaṃ): đó là những loài vật to lớn. “Timis. Timiṅgalas” v.v…[137] là ba giống cá; họ cho rằng Timiṅgalas[138] có khả năng nuốt chửng (gilana) loại timi, Timitimiṅgalas lại có khả năng nuốt chửng timi và timiṅgala. Long vương (nāgā): là những loại cư trú trên đỉnh ngọn sóng cũng như những loại long vương đó cư trú trong vimānas[139] Cũng theo cách đó (evam eva kho): cho dù đạo sư có thể làm rơ cho thấy bằng cách phân loại các sự vật, liên quan đến pháp và luật, là một điều kỳ thú, tiếp theo, thành mười sáu loại, ba mươi hai loại hay c̣n nhiều hơn thế [140], tuy nhiên vào sát na đó ngài lại nói, “Hỡi các vị Tỳ khưu, theo cùng một cách thức đó có tám pháp liên quan đến pháp và luật này đó là một điều kỳ thú. Cũng không thể so sánh được” v.v… làm rơ điều này bằng cách phân loại những điều đó có thể so sánh giống như tám loại phù hợp với tám loại đă kể đến liên quan đến những ẩn dụ đối với những thứ này. Về điểm này: (1b) Lại có tam học[141] trong đó gồm có các loại là “Các tuần tự giới ” có mười ba pháp hạnh đầu đà[142] ta gọi đó là những điều “thực hiện tuần tự” trong khi đó có bảy cách quán xét[143] mười tám đại thiền minh sát[144] có ba mươi tám đối tượng (làm thành những đề mục thiền)[145] và có tới ba mươi bảy pháp bồ đề phần[146] được gộp lại với những việc “tuần tự giới” Không có thấu triệt bất th́nh ĺnh về trí siêu thế (na ’ eva aññāpaṭivedho): Không giống với những hành động di chuyển hết chỗ này chỗ khác của loại ếch, chẳng có điều ǵ sánh với thấu triệt bậc A-la-hán mà ngay từ lúc đầu lại không phấn đấu để đạt đến giới đức sung măn v.v…[147] ư nghĩa ở đây là việc chứng đắc A-la-hán[148] chỉ xuất hiện sau khi chúng ta đă chu tất đầy đủ các giới thiền định và trí tuệ một cách thành công. (2b) Các đồ đệ của ta (mana sāvakā): ngài nói đến những người có liên quan đến bậc thánh nhân (ariyapuggalas) như các vị Nhập lưu v.v… (3b) không hợp chung lại (na saṃvasati) không tu luyện[149] chung bằng những hành vi trang trọng như thể nghi thức Trai giới v.v…dừng lại (ukkhipati) diệt trừ. Một người hoàn toàn xa cách (arakā’va): một người hoàn toàn tách biệt. (5b) không xuất hiện bất kỳ t́nh trạng thiếu thốn hay dư thừa nào do đó dành cho đại níp bàn (na tena nibbānadhātuyā ūnattaṃ vā pūrattaṃ vā): ngay cả khi chỉ có một chúng sanh không thể chứng đắc hữu dư níp bàn[150] trong suốt một đại kappa[151] vô kỳ hạn, Đức Phật không xuất hiện. Ta không thể nói rằng, ngay cả vào sát na đó, đại níp bàn đều trống rỗng; trong khi đó ngay vào sát na một Đức Phật[152], th́ vô vàn vô số chúng sanh đang chiến thắng thần chết trong bất kỳ cuộc gặp gỡ nào, có điều ta không thể nói rằng ‘ngay cả vào sát na như vậy th́ đại níp bàn lại có vẻ dư thừa.[153] (6b) Với hương vị giải thoát (vimuttiraso): đó là hương vị giải thoát khỏi các phiền năo; v́ đối với toàn bộ các đặc tính tuyệt hảo nơi giáo lư Đức Phật, chỉ nhằm ngắn gọn giải thoát tâm ta khỏi các phiền năo bằng không c̣n các chấp thủ. (7b) Châu báu (ratanāni) hiểu theo nghĩa tạo khoái cảm (ratijananaṭṭhena[154]); một khi chúng ta tu luyện tứ niệm xứ v.v… tạo ra niềm vui vô tận và niềm hân hoan đến được ngay cả ở giai đoạn tiền (chứng đắc thánh đạo), thế nên c̣n biết bao nhiêu điều như vậy ngay trong giai đoạn tiếp theo sau chứng đắc thánh đạo, v́ thế có lời nói rằng: [304] “Bất kỳ lúc nào ta hiểu rơ được sanh và diệt nơi các uẩn ta sẽ chứng đắc niềm vui và hân hoan, điều này sẽ trở nên bất tử đối với những ai phân định như vậy” (Dhp 374). thực chất là niềm vui và hỷ lạc đó có thể sánh với những châu báu thế gian không đáng giá một phần nhỏ những ǵ ta đă giải thích ở trên[155]. Hơn thế nữa: “Những ǵ ta cho là có giá trị lớn không ǵ sánh nổi, tri kiến đó quả khó khăn lắm mới đạt được, là sự hạnh phúc chỉ dành cho chúng sanh siêu phàm mà thôi[156] lại được ví như ‘châu ’ vậy.” (chú giải Tiểu Tụng Kinh (Khp-a) 170). Và nếu như lại liên quan đến những ǵ được cho là điều cần suy nghĩ rất nhiều v.v…và ta coi điều đó chính là“châu báu”, như vậy tứ niệm xứ v.v…liên quan đến thực chất này, ta cũng phải coi chúng là châu báu vậy. V́ đó là oai lực của những ai tạo thành bồ đề phần, một đồ đệ thành tựu ba la mật và trí dành riêng cho vị đồ đệ, Độc Giác Phật, cũng chính là trí của Độc Giác Phật (paccekabuddha), Toàn Giác, đó chính là trí của vị Toàn Giác, liên quan đến những nguyên nhân gần (āsannakāraṇaṃ) nơi những điều đó. Đối với nguyên nhân xa (paramparakāraṇaṃ [157]) tức là việc hổ trợ quyết định xuất phát từ bố thí v.v… cũng có đặc tính giống như châu báu vậy, thế nên ta nên hiểu theo nghĩa[158] tạo ra khoái cảm và thực chất đó là điều ta phải suy tính đến v.v…và t́m cách hoàn thành[159] nơi những ǵ tạo ra pháp bồ đề phần. V́ lư do đó có lời nói rằng, “Trong đó ta thấy xuất hiện những châu báu này, có nghĩa là tứ niệm xứ” v.v… Về điểm này[160]: đây chính là nền “tảng” hay “xứ” (paṭṭhānaṃ) hiểu theo nghĩa tự xuất hiện (upaṭṭhāna) sau khi đă hiểu rơ[161] đối tượng chính là “tứ niệm xứ” nơi chánh niệm đó, lại chính là nền tảng; nhưng liên quan đến đối tượng có bốn đặc tính là thân v.v… ta cho đây chính là “tứ niệm xứ”. Tương tự |