NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

9. Upasena Vaṅgantaputta.

Trong kinh Phật thứ chín: Về Upasena (Upasenassa): liên quan đến nhân vật này “Upasena” là tên của vị Trưởng Lăo; nhưng các từ này cũng có liên quan đến ngài Trưởng lăo[1] có tên là “Vaṅgantaputta do một thực chất ngài là con trai (puttattā) của một thầy Bà La Môn Vaṅganta[2]. V́ vị Trưởng Lăo[3] này là em trai của trưởng lăo Sāriputta – ngài đă xuất gia theo lời mời gọi của giáo lư và rồi, là một người chỉ trong ṿng hai năm với chức vị đó ngài đă được thọ cụ túc giới (vào thời điểm) khi những chi mục tu luyện vẫn chưa được đặt xuống[4] ngài đă trở thành thầy dạy[5] được ban cho thọ cụ túc giới so với một số các vị Tỳ khưu và rồi cùng đi với ngài đến thọ giáo với Đức Phật; nhưng với tâm bị động như thể đă bị một người đánh ngựa đánh gục.[6]Sau khi bị la rầy với câu “nhà ngươi đă tỏ ra quá hấp tấp, nhà ngươi là đồ vô dụng; nhà ngươi là người quá phung phí, có nghĩa là, trong khi tạo thành một nhóm người[7] (Vin i 59) theo như lời đă được truyền lại trong kinh Khandhaka, sau khi ngài đă được giảng dạy do Đức Phật về pháp cùng chung sống với vị Tỳ khưu đó, ngài đă trở thành người rất nhiệt t́nh nghĩ rằng, “Ngay cả giờ đây tôi đă bị  Đức Phật khiển trách trên cương vị một Tăng đoàn, tôi đă trở thành một người được khen ngợi[8]” và sau khi đă khởi sự nhập thiền minh sát ngài đă tiến hành thực hiện toàn bộ những tu tập hạnh đầu đà[9], chẳng bao lâu sau đó ngài đă trở thành vị chứng đắc toàn bộ sáu phép thần thông. Một người đă đạt đến bốn đạt thông và là một người vĩ đại nơi ngài mọi phiền năo đă bị diệt trừ hết.[10] Sau đó khi đă giáo hoá các đồ đệ của ḿnh trở thành người duy tŕ các hạnh đầu đà, ngài đă đi tới gặp Đức Phật cùng với họ. Nhận lời khen ngợi từ[11] Đức Phật về Tăng đoàn ngài đă thiết lập, tức là “Ngài là người đă tạo cảm hứng thanh thản trong Tăng đoàn của nhà ngươi” upasena” (Miln 360) theo cách đă được truyền đạt lại liên quan đến tiết mục tu luyện có dính líu đến cách truyền bá,[12] và trở thành một thành viên trong số tám mươi Đại đệ tử (đại thinh văn). được ban cho một vị trí chính thức theo cách, “hỡi các vị Tỳ khưu, người này là vị tối thượng thinh văn của ta, là những người dễ mến toàn diện, có nghĩa là Upasena Vaṅgantaputta vậy.” (A i 24)

[267] Một này kia, đang trên đường trở về nhà sau chuyến đi khất thực tiếp theo sau bữa cơm trưa, ngài đă lấy nước trong b́nh đựng nước ra trong khi những người bạn của ngài đă ra đi tới nhiều nơi khác nhau vào ban ngày, rửa chân cho ngài, làm lạnh các chi, trải ra một miếng vải bằng da và rồi ngồi thiền trên đó suốt quăng thời gian c̣n lại trong ngày, chú ư đến toàn bộ những ân đức ngài đă chứng đắc. Những ân đức này tự xuất hiện trước mặt ngài, giống như một trận mưa cung tên[13] bất tận. Sau đó ngài chuyển tập trung chú ư đến những ân đức đặc biệt của Đức Phật, nghĩ rằng, “Nếu như ở mức độ này những ân đức đặc biệt này thuộc dạng như vậy của ta mới chỉ là một vị đồ đệ mà thôi, th́ thử hỏi những ân đức đặc biệt của Đức Phật phải được xếp vào dạng nào đây?” (Sau đó) những ân đức này đă tự xuất hiện trước ngài[14], theo phương cách phù hợp với sức mạnh trí của ngài, với số lượng vô số. Rồi sau khi đă hồi tâm, theo cách thức phù hợp với kiểu cách những ân đức này đă xuất hiện trước ngài, các ân đức đặc biệt nơi Đạo sư cũng xuất hiện theo cách “Giới (ḷng đạo đức) nơi đạo sư ta là thế đó, bản chất của ngài cũng là thế đó[15], tuệ giác của ngài cũng như vậy,  giải thoát của ngài v.v…[16]cũng như vậy, và theo cách “Chính v́ thế,  Đức Thế Tôn, là vị A-la-hán, là vị Chánh Đẳng Giác hoàn hảo nhất.” v.v… Rồi sau đó ngài hồi tâm nhập thiền về những ân đức đặc biệt nơi Giáo Pháp bằng cách. “Giáo Pháp đă được khéo thuyết giảng” v.v…, và c̣n về thánh Tăng bằng cách, “Có diệu hạnh” (suppaṭipanno [17])v.v…[18] chính v́ thế vị đại Trưởng Lăo, trong tâm đầy phỉ lạc[19] nơi những ân đức đặc biệt của Tam Bảo đă xuất hiện với ngài dưới muôn vàn vô số cách thức khác nhau, ngài vẫn tiếp tục hành thiền để cảm nghiệm niềm vui và phỉ lạc bất tận, để hiểu rơ đâu là thực chất “về Trưởng lăo Upasena Vagantaputta là người đă an trú trong cuộc sống sa môn” v.v…và về điểm này có lời nói rằng:

Người nào đă lui vào ẩn dật[20]: rahogatassa = rahasi gatassa (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Người nào đang sống đời sa môn.(taisallīnassa): là người sống ẩn dật. Đă nổi lên mối suy tư trong tâm (evaṃ cetaso parivittako udapādi): đă nổi lên (uppajji) suy nghĩ này trong tâm (cittassa) theo cách thức ta đă đề cập đến ở trên. Đây quả là lợi lộc kiếm được của ta (lābhā vata me): những thiền chứng hoàn hảo này, được coi như bản chất con người, (là điều đă có thời nổi lên với tôi) khi một Đức Phật xuất hiện, và cả những ǵ liên quan đến đức tin v.v… - đây quả là những lợi lộc kỳ diệu[21] đối với ta. Quả thật ta đă được quá nhiều lợi lộc (suladdhaṃ vata me): và ta là[22] người đă xuất gia và được thọ cụ túc giới nơi giáo lư của Đức Phật và ta cũng đă ngồi thiền cùng nhau để kính lễ Tam Bảo v.v…quả thực đây là điều lợi kỳ diệu ta đă thu được (suṭṭhu laddhaṃ, thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Ngài đă khẳng định lư do về vấn đề này bằng những lời như sau, “Nơi những ǵ vừa đề cập đến ngài quả là vị Đạo sư của ta vậy.” v.v…Về điểm này:

Ngài là “Đạo sư”[23] (Satthā) v́ ngài đă diễn giải Phật Pháp cho chúng sanh (satte anusāsati), là điều chắc chắn, bằng cách đề cập đến những ǵ gắn liền với nguyên nhân nhăn tiền này, hay bằng cách thuyết pháp về những ǵ gắn liền với kiếp sau, hay những ǵ có liên quan đến mục tiêu tối hậu[24]. Ngài là vị “Thiện Thệ” (Bhagavā) v́ những lư do như: ngài chứng đắc những ǵ đem lại nhiều phúc đức v.v…cho chúng sanh (bhāyavantatādīhi)[25]. Ngài là vị “A-la-hán”[26] (arahaṃ) liên quan đến việc ngài luôn giữ ḿnh lánh xa (ārakatta) các phiền năo, do thực tế là các người thù của ngài (arīnaṃ) dưới dạng các phiền năo đă bị diệt trừ và tiêu diệt toàn bộ (hatattā) hay liên quan đến một thực chất là Ngài[27] đă bẻ găy hết các nan (spokes) (arānaṃ) bánh xe nơi ṿng luân hồi, liên quan đen đặc tính ngài luôn xứng (arahattā) được kính lễ[28] v.v…(và) liên quan đến việc nơi ngài ta không t́m thấy bất kỳ bí mật nào (rahābhāva) liên quan đến những điều bất thiện. [268] ngài là “Đấng Toàn Giác”[29] (Sammāsambuddho) liên quan đến toàn bộ Giáo Pháp Ngài giác ngộ hoàn toàn (sammā) [30] ngài (sāma) đă tự giác ngộ (buddhattā) không nhờ đến một ai liên quan đến vấn đề này, đây (chỉ) là phần (tường thuật) ngắn gọn; tuy nhiên ta có thể biết thêm chi tiết trong phần mô tả về “Tuỳ Niệm về Đức Phật” trong tập Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo 198tt). Được khéo thuyết giảng: svākkhāte = suṭṭhu akkhāte, thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài), là điều khi được công bố (bhāsite[31]) sẽ cung cấp cho ta ǵ hiện có[32] chắc chắn. Nơi pháp luật này (Dhammavinaye): nơi lời Đức Phật[33], v́ thế ta gọi đây[34] là “Pháp luật” (dhammavinayo) liên quan đến việc  duy tŕ (dhāraṇena) tu luyện pháp giới này, như đa được truyền dạy để khỏi rơi vào đau khổ nơi kiếp luân hồi và v́ giới luật này có liên quan đến việc dẫn dắt [35](vinayanena) chúng sanh tránh khỏi những ǵ có do các phiền năo tham dục v.v…liên quan[36]. Theo đuổi cuộc sống Phạm hạnh Bà la môn[37] (sabrahmacārino[38]): họ là những người theo đuổi “bậc Phạm hạnh” (sabrahmacārino) chính v́ muốn như Ngài (samāna [39]), nên họ đă theo đuổi Giáo Pháp (caranti) đă tu luyện giáo lư của Đức Phật. Việc tu luyện thánh đạo[40] được xem như là việc “phạm hạnh ” (brahmaṃ) hiểu theo nghĩa là điều tuyệt hảo nhất. Những người nào chứng đắc giới (có giới) (sīlavanto): người nào có được giới thông qua giới đó lại liên quan đến thánh đạo và giới đó cũng liên quan đến thánh quả[41] do thánh đạo đem lại. Có pháp tuyệt đẹp (kalyāadhammā): họ là những người có pháp tuyệt đẹp “là những người đă có pháp xinh đẹp” (kalyāadhammā) v́ những pháp (dhammā) dễ thương, xinh đẹp, định, tuệ giác, giải thoát, tri kiến giải thoát bằng cách này, Ngài đă nêu rỏ ân đức diệu hạnh của Tăng (suppaṭipattiṃ [42]). Và ta đă đem đến viên măn bất kỳ nơi đâu liên quan đến “giới” (sīlesu ’ amhi paripūrakārī): ngài cũng đă khẳng định rằng bằng cách xuất gia ngài cũng đă lưu lại, với tư cách là người không diễn giải những bài thuyết pháp tạm thời, ngài cũng chẳng bận tâm đến thân,[43] hơn nữa bằng cách hoàn tất giới tức là bốn cách thu thúc giới bổn v.v… bằng cách thực hiện thu thúc liên tục[44], không gián đoạn, không hư hỏng, không lồi lơm, nhằm thoát cảnh nô lệ[45], là điều được trí thông thái[46] ngưỡng mộ, không thể bác bỏ được.[47] Hơn thế nữa, ngài đă tự tham gia thánh đạo, bằng cách này Ngài đă làm rơ chứng đắc thành công nơi cặp thánh quả thấp của ngài, v́[48]các vị Nhập Lưu và Nhất Lai chính là những người đă hoàn tất những ǵ liên quan đến giới. Và ta là người đă chánh niệm nghiêm túc, tâm nhất cảnh (susamāhito[49]  ’ambi ekaggacitto): và ta là người hoàn toàn tập trung  định những ǵ liên quan đến  cận hành định và an chỉ định, không phân tâm, bằng cách này ngài làm rơ, với lời tuyên bố đă hoàn tất việc liên quan đến thiền định, đến thiền chứng thánh quả thứ ba của ngài. V́ các vị Bất Lai là những người hoàn tất được hết mọi việc nơi những ǵ có liên quan đến thiền định[50]. Và ta là A-la-hán, là người đă diệt trừ hết mọi phiền năo trong tâm (arahā ’ amhi khīāsavo): liên quan đến một thực chất là các phiền năo, như dục lậu v.v…đă bị đoạn tận, mọi phiền năo đă được đoạn tận, chỉ duy nhất có điều này người nào đă diệt trừ hết các hữu kiết sử [51] v́ ta là thủ lănh cơi thế gian này cùng với chư thiên và những người nào xứng đáng được dâng cúng của lễ, đó là vị A-la-hán[52] - bằng cách này ngài đă hoàn thành tất cả những ǵ cần phải thực hiện[53] và ta c̣n là một người đầy uy lực, đầy oai nghiêm (mahiddhiko ’ amhi mahānubhāvo): liên quan đến thực tế là Ngài được thành tựu quyền lực to lớn, chế ngự được những sức mạnh giúp quyết định và biến h́nh v.v… ta c̣n là (asmi[54], là dạng ngữ pháp khác), một người có sức mạnh vô song, [269] thông qua chứng đắc thiền chứng nơi vẻ oai nghiêm vĩ đại đó dưới dạng công đức và vẻ oai nghiêm vô song dưới dạng những ân đức đặc biệt,[55] đây là cách làm sáng tỏ mối liên quan đến các phép thần thông và với những thiền chứng dưới dạng chín tuần tự trú thiền chứng[56]. Do liên quan đến những oai lực nơi phép thần thông, các vị thánh nhờ hoàn tất được những sự việc theo các ước muốn của ngài.[57] Đối với uy lực vĩ đại,  nơi liên tục tính đă được thanh tịnh thông qua những thiền chứng đầy tiềm năng[58] trước đó và thông qua các thiền chứng dưới dạng nhiều trú xứ đa dạng, thuộc uy lực này. Triển vọng đối với ta chính là sống (bhaddakaṃ me jīvitaṃ) cho đến bao lâu thân được thành tựu với những ân đức đặc biệt về giới v.v… về loại đó[59] c̣n tiếp tục tồn tại, đang khi c̣n sống cũng là chính có đầy triển vọng, v́ bao lâu hạnh phúc và sung sướng của chúng sanh c̣n phát triển, đang khi sống cũng là triển vọng, xinh đẹp đối với ta đă trở thành nguồn công đức. Chết cũng đầy triển vọng (bhaddakaṃ maraṇaṃ): Ngài đă làm rơ pháp kiên định của Ngài liên quan đến cả hai trường hợp nói rằng, “Về mặt khác, nếu như ngũ uẩn này bị tiêu diệt (nibbāyati)  ngay ngày hôm nay[60] và ngay chính lúc này, giống như ngọn lửa không c̣n nguyên liệu, th́ người chết không phải tái sanh được coi như là vô dư níp bàn, cũng là điều đầy triển vọng đối với ta.” Chính v́ thế[61] đang khi cảm nghiệm được phỉ lạc vĩ đại[62] liên quan đến những cách diễn tả về từ bỏ ưu việt hơn vị đại Trưởng lăo này đă khiến nổi lên phỉ lạc và phấn chấn[63], được phản ảnh ở việc kính lễ Giáo Pháp[64] bằng cách cảm nghiệm được thứ nước uống hân hoan[65]thuộc Giáo Pháp vậy. Đang khi biết được điều này thông qua trí toàn tri khi ngài vẫn c̣n lưu lại hương pḥng, Đạo sư đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích pháp kiên định liên quan đến sanh và diệt, v́ lư do đó có lời nói rằng “Thế rồi Đức Phật … đă khiến khởi sanh (vào thời điểm đó) Phật Tự Thuyết này” Về điểm này:

Người nào sống mà không gây đau khổ (yaṃ jīvita na tapati): người nào đă đoạn tận hết các phiền năo trong tâm, th́ người đó đang sống mà không gây ra đau khổ, không gây ưu phiền, liên quan đến việc chẳng c̣n bất kỳ uẩn nào diễn ra[66] trong tương lai[67] hoặc giả (cũng con người đó), khi c̣n sống lại không gây phiền hà cho bất kỳ ai, việc liên kết giữa chánh niệm và thiền định dưới mọi t́nh huống do kết quả sau khi đă đạt đến chánh niệm và tuệ giác viên măn mà thực chất là toàn bộ các pháp đều là hữu vi mà thôi[68] V́ một người chỉ là người phàm tục mù quáng, là người phục vụ chúng sanh bất thiện, là người không khéo tác ư, là người đă thực hiện những điều bất thiện[69] là người không thực hiện bất kỳ hành vi công đức nào. Sau này phải bị tra tấn do hối hận, v́ những suy nghĩ như “quả thực ta chẳng thực hiện được điều ǵ tốt đẹp cả.” v.v… Ta cho cuộc sống của người này gây đau khổ cho ḿnh[70]; đối nghịch với những ǵ c̣n lại, tức là bảy hạng người hữu học sekhas[71] cùng với những người hiền triết phàm tục là những người không thực hiện bất kỳ hành vi bất thiện nào, song chỉ thực hiện những hành vi thiện mà thôi. Bằng cách diệt trừ các pháp gây đau khổ và được thành tựu cho các pháp không dẫn đến đau khổ[72] lại không bị tra tấn bằng cách trở nên hối hận sau đó. Cuộc sống của họ không gây đau khổ[73] cho chính ḿnh; đang khi đó v́ việc diễn giải những ư nghĩa[74] cũng gây đau khổ liên kết với việc các  uẩn xuất hiện, chẳng c̣n bất kỳ điều ǵ khả dĩ cần đề cập đến những ǵ liên quan đến những người đă diệt trừ các phiền năo trong tâm. Không than văn vào lúc chết (manraṇante na socati): không than văn vào lúc kết thúc cuộc sống, vào lúc tột đỉnh, chính là vào lúc chết, hay nói cách khác ngay lúc cận kề với thần chết. – Thực chất là (bất kỳ loại) đau khổ nào đă bị diệt trừ hoàn toàn đến tận gốc bằng những phương pháp thánh đạo Bất Lai đă thực hiện.  Quả thật người nào đă chứng kiến rơ ràng, lại tỏ ra cương quyết, sẽ không phải buồn sầu trước đau khổ nữa (sa ve diṭṭhapado dhīro sokamajjhe na socati): [270] Đó là người đă nhận rơ các câu (sections) liên quan đến việc nhận ra bốn câu (sections) Phật Pháp bao[75] gồm không tham lam v.v… hay chính níp bàn, lại tỏ ra cương quyết, thực chất là người đó đă có quyết tâm như vậy.[76] Không phải sầu khổ ngay cả khi phải lưu lại giữa những chúng sanh chưa được giải thoát khỏi tham dục họ là những người “sầu khổ.” (soka) Thực chất là bản chất điều đó chính là sầu khổ (socana), hay nói cách khác (giữa những điều hiệp thế lại chính là nguyên nhân sầu khổ vậy. Tiếp theo[77] đó ngài nói rằng, “Đối với người nào đă diệt trừ hết hữu ái” v.v…để làm rơ sự thiếu vắng căn nhân duyên sầu khổ. Về điểm này: chính người nào đă diệt trừ hoàn toàn hữu ái bằng thánh đạo tột đỉnh đó là “người đă diệt trừ[78] được hữu ái  - v́ người nào, vị Tỳ khưu nào đă diệt trừ được hết các phiền năo trong tâm, họ sẽ có tâm an tịnh do không c̣n dư sót phiền năo. Việc chạy theo tái sanh đă được diệt trừ hoàn toàn (vikhīo) việc tiếp tục chạy theo (sasāro), đặc tướng tái sanh v.v… đă được đề cập đến như sau:[79]

“Chuỗi ngũ uẩn, các giới và xứ vẫn tiếp tục không ngừng[80] được công bố là “ṿng luân hồi” (        )

đă bị diệt trừ một cách dứt khoát (khīo). Tại sao vậy?[81] Đối với người đó chẳng c̣n tái sanh thêm nữa. ’atthi tassa punabbhavo): v́ không c̣n tái sanh thêm nữa trong tương lai đối với các Bậc thánh nhân thuộc hạng người đó, chính v́ thế người nào tiếp tục chạy theo bằng cách tái sanh sẽ bị hủy diệt. Nhưng tại sao hạng người này lại không phải tái sanh nữa? Lần trở lại những dấu vết luận cứ, ta phải nói rằng[82]: “V́ nơi người đó mọi hữu ái đă bị diệt trừ hết và tâm của họ đă được an tịnh, chính v́ thế…” Hay nói cách khác, ư nghĩa ở đây cần được giải thích là “Việc chạy theo tái sanh đă bị diệt trừ hoàn toàn. Do một điều duy nhất đó là[83]: người này chẳng c̣n phải tái sanh thêm nữa.”

Việc diễn giải Kinh Phật thứ chín đến đây là kết thúc.


 

-ooOoo-


[1]. Chú giải Be giải thích là ca na c̣n bản văn Ce ghi là ca, Se ghi vacana.

[2]. Rất có thể đây là cách sanh đặc biệt (jāti), và rất có thể đây là tên gọi dân cư, nội bên trong giai cấp Bà la môn; bằng không đây là một Bà la môn có tên là Vaganta. Một danh sách các đoạn chính liên quan đến Upasena được phát hiện trong B Disc ii 83 n 3          

[3]. Những ǵ diễn biến tiếp theo. xin đọc chú giải Vin i 58tt. AA i 270tt  

[4]. Xin đọc chú giải Ud-a 296. 

[5]. Dvivasso upajjhāyo hutvā; tôi không chắc chắn Cô Horner đúng hay sai khi trích đoạn này trong B Disc iv 76 n 2, coi như là “hai năm lănh vai tṛ một người thầy dạy”. 

[6]. Kasābhihato; Be patodābhitunno, có nghĩa là chọc, đâm bằng chiếc gậy (thúc ḅ), chiếc gậy (để chống) hay là chiếc đinh thúc ngựa v.v… 

[7]. Gaa; xin đọc chú giải Ud-a  310 dưới đây.  

[8]. Pasasiyo; Ce Be Se ghi pāsasiyo.

[9]. Xin đọc Chú giải Ud-a 253 ở trên.

[10]. Xin đọc Chú giải Ud-a 244 ở trên.

[11].  Ce Be Se giải thích là santikā  c̣n bản văn ghi là santike.

[12]. Chú giải Ce Be Se giải thích là santhatasikkhāpade c̣n bản văn ghi là santatasikkhāpade; h́nh như đây là  cách ám chỉ Vin iii 232tt.

[13]. Pokhānupokha; hay là liên tục không ngớt, nghĩa đen là liên tục hết mũi tên này đến mũi tên khác.

[14]. Chú giải Ce Be Se giải thích là te tassa  c̣n bản văn ghi là ’ assa tāni.

[15]. Evadhammo.

[16]. Chú giải Ce Be Se giải thích là evavimutti c̣n bản văn ghi là evamutti.

[17]. Chú giải dưới đây trong đó người ta cho rằng Tăng Già được gọi là suppatipatti (người có phẩm hạnh tốt).

[18].  Một cách ám chỉ ba đoạn văn gốc trong Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 207tt v.v…

[19]. Chú giải Ce Be Se giải thích là attamano  c̣n bản văn ghi là attanā;  chú giải Ud-a 156 ở trên trong đó một cách giải thích khác về các từ “tự có” được đưa ra.

[20].  Chú giải Ud-a 80 ở trên cũng tương tự như vậy.

[21]. Aho vata;  chú giải Ud-a 125 ở trên.

[22].  Ce Be Se giải thích là yañ ’ ida  c̣n bản văn ghi là ya ’ ida.

[23]. Cũng như trong  chú giải Ud-a 404 dưới đây.

[24].  Chú giải  Ud-a 28; cũng tương tự như 404 dưới đây.

[25].  Chú giải cũng giống như Ud-a 24tt, 125. 404.

[26]. Tiếp diễn theo sau đó xin đọc Ud-a 84 ở trên; cũng như  chú giải Sn-a 441.

[27]. Chú giải Be giải thích là kilesārīna hatattā sasāracakkassa vā arāna hatattā c̣n bản văn (Se) ghi là sasāracakkassa vā arāna hatattā kilesādīna (Se kilesārīna) hatattā. Ce sasāracakkassa vā arāna hatattā.

[28]. Paccaya; hay các Tứ vật dụng – xin đọc chú giải Ud-a 80 ở trên.

[29].  Chú giải Ud-a 125 ở trên cũng tương tự như vậy.

[30]Chú giải Ce Be Se Ud-a 84 giải thích là ca c̣n bản văn ghi là va

[31].  Chú giải Ce Be cũng giải thích như vậy c̣n bản văn Se ghi là kathite, là điều ta nói đến.

[32]. Ekantaniyyānika (chú giải Be Ce cũng như vậy) katvā bhāsite, tôi chấp nhận điều này mang ư nghĩa là Pháp và Luật đă được khéo thuyết giảng hiểu theo nghĩa là việc thuyết giảng này tạo ra một số phản ứng tốt nơi ṿng luân hồi, như thể chính sāsana được đề cập đến trong chú giải  Ud-a 431 dưới đây, chú giải thanh tịnh đạo Vism 214tt trong cùng một văn cảnh, Ñāamoli đă coi niyyānika là một “lối thoát”, đối nghịch lại với CPD mục từ sv ekantaniyyānika, đă đưa ra ư nghĩa là (?) “lợi ích toàn diện”. Cũng xin đọc chú giải Vv-a 180 để biết thêm những điểm giống nhau.

[33]. Pāvacane; xin đọc chú giải Ud-a 265 ở trên.

[34]. Ce Be Se giải thích là ta hi, c̣n bản văn ghi ta ’ eta.

[35]. Hay là việc chấp hành giới luật; xin đọc chú giải Ud-a 326 dưới đây nói về vinīta và chú thích ghi trong đó.

[36]. Chú giải Ce Be giải thích là rāgādikilese vinayanena c̣n bản văn Se ghi là rāgādikilesavinayanena.

[37].  Chú giải Ud-a 97 ở trên để biết thêm những điểm tương đồng.

[38]. Ở điểm này và dưới đây th́ chú giải Be Se cũng giải thích giống như vậy, c̣n bản văn ghi là sabrahmacāriyo, chú giải Ce giải thích là sabrahmacārayo; xin đọc chú giải Ud.

[39]. Cùng với chú giải Be giải thích là saha, nhưng xin đọc Ud-a 97 ở trên.

[40]. Chú giải Be giải thích là ariyamagga c̣n bản văn ghi là ariyamaggañ ca,  chú giải Ce Se giải thích là ariyamaggasacca.

[41]. Chú giải Be giải thích là maggaphalasīlavasena  c̣n bản văn Ce Se ghi là maggasīlaphalasīlavasena.

[42]. Chú giải, giải thích là suppaipanno (có phẩm hạnh tốt) đă khẳng định về thánh Tăng (Ariyasagha) ở trên.

         [43]. Kāyadaḍḍhībahulo; Chú giải Be giải thích là kāyadahibahulo. Se viriyadahabahulo. Chú giải Thanh Tịnh Đạo 127 và việc trích dẫn của ngài Ñāamoli  về việc chú giải của ngài trong bản dịch cùng một tác phẩm ở trên (Ppn 133 n 16).

[44]. Xin đọc Chú giải D ii 80 để biết thêm những điểm tương đồng; cũng xin đọc Thanh Tịnh Đạo 51tt. Tôi không hiểu việc tham khảo ngài Woodward thực hiện về điểm D i 94.

[45]. Về  ái dục– xin đọc DA 537.

[46]. Giống như  Đức Phật  v.v…  DA 537.

[47]. Về ái dục và tà kiến – DA 537.

[48].  Chú giải Ce Be Se giải thích là hi c̣n bản văn ghi là pi.

[49]. Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy bản văn lại ghi là samāhito.

[50]. Ce Be Se giải thích là paripūrakārino c̣n bản văn ghi là  paripūrakāri. 

[51].  Ce Be Se giải thích là obhavao  c̣n bản văn ghi là obhāvao

[52]. Theo nghĩa đen là “người xứng đáng”;  chú giải Ud-a 84 ở trên cũng tương tự như vậy.

[53]. Katakaraīyata; một phần cách mô tả về một vị A-la-hán ghi trong D i 84 v.v…

[54]Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là asmi

[55].  Chú giải Be Se giải thích là guānubhāvassa ca sampattiyā, c̣n bản văn Ce ghi guānubhāvasampattiyā

[56].  Chú giải chú thích trong tập Ud-a 135 ở trên.

[57].  Chú giải Ce be Se giải thích là yathicchitao c̣n bản văn ghi là yadicchitao; xin đọc chú giải PED svv.

[58]. Chú giải Ce Be giải thích là pubbūpanissayao (Se ghi pubbupanissayao) c̣n bản văn ghi là pubbūpanissāyao ; có nghĩa là, cơ duyên chứng đắc một hay nhiều thánh đạo trong số bốn thánh đạo siêu thế và các thánh quả nơi thánh đạo đó.

[59]. Evavidha; xin đọc Ud-a 7 ở trên.

[60]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ajja c̣n bản văn ghi là ajjhatta.

[61]. Eva; Se ghi iti. H́nh như điều này liên quan đến toàn bộ việc quán xét như đă được ghi lại trong Ud, hơn là câu văn tiếp theo ngay sau đó.

[62]. Chú giải Be giải thích là uārasomanassito c̣n bản văn Ce Se ghi là uārasomanassata

[63]. Chú giải Be giải thích là ouppilāvitavāsanussannattā c̣n bản văn ghi là oubbilāvitattussannattā, Ce Se ghi oubbillāvitavāsanattā.

[64]. Dhammabahumānena; chú giải Ce ghi là  Dhammabahumāne

[65]. Dhammapītipaisavedanena; Chú giải Sn 257 = Dhp 205.

[66]. Chú giải Ce Se giải thích là oppavatti c̣n bản văn Be giải thích là opavattiyā, trong trường hợp này chúng ta nên dịch là “những ǵ đang tồn tại trong cuộc sống, (có nghĩa là )việc các uẩn trong tương lai không diễn ra, không được gây ra đau khổ, liên quan đến đặc tính bất hiện hữu.”

[67].  Ce Be Se giải thích là āyati khandhao  c̣n bản văn ghi là āyatikkhandhao 

[68]. Ce Be Se giải thích là sakhatao c̣n bản văn ghi là sakhātao.

[69].  Chú giải Be giải thích akatakusalo, người nào không thực hiện điều thiện, c̣n bản văn Ce Se ghi là katākusalo. Có sự khác biệt đáng kể. Tuy nhiên việc lựa chọn các giải thích xem ra lại có vẻ tuỳ tiện.  Tuy nhiên thoạt tiên việc giải thích akatakusalo akatapuñño xem ra có vẻ là cách giải thích được ưa chuộng hơn là katākusalo akatapuñño,  và có lẽ chúng ta duy tŕ cách diễn đạt về sự hối tiếc tiếp theo, không nhất thiết đoạn văn katākusalo akatapuñño cần phải tồn tại để cân bằng sự hiện hữu của đoạn văn akatapāpā katapuññā liên tiếp.

[70]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ta;  bản văn lại bỏ qua.

[71]. Bản văn Ce Se thêm vā; bản văn Be lại bỏ qua.

[72].  Chú giải Dhs 1304tt.

[73].  Be Se giải thích là tapati c̣n bản văn Ce ghi là tappati.

[74]. Chú giải Be Se giải thích là atthavaṇṇanā. C̣n bản văn Ce ghi là attavaṇṇanā,  (?) tự khen ḿnh.

[75]. Chú giải Be Se giải thích là anabhijjhādīna c̣n bản văn Ce ghi là dukkhādīna; ba điều c̣n lại là vô sân ác, chánh niệm và chánh định. –  chú giải D iii 229,  Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 29, v.v…

[76].  Chú giải Nd1 44.

[77].  Chú giải Ce Be Se giải thích là ’ ssa sabbaso sokahetūna c̣n bản văn ghi là sabbaso sokohetūna.  

[78]. Ce Be Se giải thích là bhavatahā so ucchinnabhavataho c̣n bản văn ghi là bhavatahā.

[79]. Đoạn kệ này cũng được trích trong AA iii 206; Sn-a 426, Thag-a i 162 và  Thanh Tịnh Đạo 544, trong khi đó ta cũng thấy có điều tương tự như vậy trong Asl 10; Woodward đă gán cho nguồn sử liệu Sn-a 426 không chính xác, trong phần biên tập tập chú giải Ud-a và Thag-a.

[80]. Ce Be Se AA Sn-a Thag-a Thanh Tịnh Đạo giải thích là abbochinna, c̣n bản văn ghi abbhochinna (h́nh như đây là cách giải thích ngài Woodward đă áp đặt lên bản