NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10. UDENA (ƯU ĐIỀN VƯƠNG)

Trong Kinh Phật thứ mười: Khi nhà vua Udena[1](rañño Udenassa): có vị vua tên là “Udena” cũng là tên gọi của “nhà vua Vajjian”. Nhà vua đă ngự lăm trong công viên hoàng gia (uyyānagatassa): đă đi tới công viên nhằm mục đích tiêu khiển trong đó. V́ ở thể sở hữu cách hiểu theo nghĩa không đếm xỉa ǵ tới, không để ư tới, cho dù khi từ [2] antepura (vị trí bên trong) được xem xét tới, đây cũng là sở hữu cách liên quan đến sở hữu.[3] Hoàn tất thời gian (kālakatāni): trở thành người quá cố sau khi đă bị thiêu trên giàn hỏa. Với Sāmāvati dẫn đầu (Sāmāvatīpamukhāni): nhưng về điểm này ngài Sāmāvati là ai, và bằng cách nào nàng đă bị thiêu sống? Người ta kể lại rằng người con gái có tên là Sāmāvati[4] là con gái một thương gia giàu có trong thành Bhaddavati[5] là con nuôi của một thương gia giàu có, tên là Ghosaka[6], là hoàng hậu[7] nhà vua Udena với một đoàn tuỳ tùng gồm tới năm trăm phụ nữ[8], và các vị thánh đệ tử thường xuyên đến cậy nhờ vào ḷng từ tâm[9] (Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 26) về vấn đề này, đây chỉ là một bài tường thuật ngắn gọn; trong khi đó bất kỳ bài nói chuyện chi tiết về nhân thân của Sāmāvati, ngay từ lúc đầu, nên được hiểu theo sau cách thức đă được đưa ra trong câu chuyện Dhammapāda[10].

Māgandiyā[11], là con gái một thầy bà la môn tên là Māgandiya, nỗi oán giận của nàng đă gắn kết với vị đạo sư sau khi nghe đoạn kệ này do Đức Phật giảng về cha mẹ nàng[12]

[383]Vừa nh́n thấy Tahā, Arati và Ragā[13] không có bất kỳ ước muốn quan hệ t́nh dục nào. Tuy nhiên điều ǵ đă xảy ra khi có đầy chất nước tiểu và u nhọt? Ta không muốn đụng tới nàng ngay cả chỉ dùng chân nữa.” (Sn 835)

Sau đó, khi nhà vua Udena tấn phong ngôi vị hoàng hậu th́ nàng được biết sự việc là Đức Phật đă đến thăm Kosambi [14] và có năm trăm phụ nữ với hoàng hậu Sāmāvati đứng đầu[15] đă trở thành đồ đệ của Đức Phật; mặc dù đă cố gắng hết sức bằng nhiều cách[16] v́ không thể đem đến tham đắm cho vị Như Lai, và những người phụ nữ đó nghĩ rằng, “người ta nói rằng vị sa môn Cồ Đàm đă đến thăm thành phố này! ta phải  nghĩ xem có thể làm ǵ được cho ngài,[17] cũng như ta phải t́m cho ra có thể làm điều ǵ đối với những phụ nữ đó có Sāmāvati đứng đầu, là những cận sự nữ của ngài.” Cuối cùng[18] một ngày kia nàng đến công viên để tiêu khiển cùng với nhà vua,[19] nàng đă gửi một thông điệp[20] đến cho người cậu của nàng nói rằng, “hăy đến hoàng cung của Sāmāvati, hăy truyền cho họ mở[21] kho quần áo và kho chứa dầu, hăy nhúng ướt quần áo vào những b́nh dầu và hăy quấn vải vóc chung quanh những cây cột nhà, và thu nhặt toàn bộ chúng lại[22] hăy đóng cửa lại, khoá trái[23] bên ngoài và rồi sau khi đă xuống khỏi  lâu đài và lấy đuốc đốt cháy căn nhà đó, rồi hăy lên đường trốn đi[24]!”

Khi người cậu nghe được tin báo như vậy, ông ta liền đi về phía ṭa lâu đài, mở cửa[25] kho quần áo, tẩm ướt toàn bộ những đồ bằng vải trong những chiếc b́nh dầu và rồi bọc quanh những chiếc cột nhà, thế rồi những phụ nữ đó, với Sāmāvati đứng đầu, đi lại gần ông cậu nói rằng, “điều ǵ xảy ra vậy, thưa ông cậu? sau khi nói rằng, “nhà vua đă truyền tẩm ướt bọc [26] để có thể gia cố các cây cột, trong ṭa lâu đài của nhà vua thật khó ḷng có thể biết được điều ǵ c̣n tốt, điều ǵ cần sửa chữa[27]; làm ơn tránh xa ta[28] ra. Ông ta truyền cho những người phụ nữ đó đi vào pḥng ngủ, đóng cửa lại, khoá trái bên ngoài và rồi đi xuống tầng trệt rồi nổi lửa đốt mọi thứ trong đó như ông ta đă thực hiện.[29]

Hoàng hậu Sāmāvati đă động viên họ bằng những lời lẽ như sau: “các con thân mến,[30]thật khó mà xác định được cho dù với trí của một Đức Phật, những sự việc phải bị thiêu trong lửa như thế này,[31] đối với chúng ta đang khi c̣n phải lăn trôi trong ṿng luân hồi vô thủy vô chung[32], hăy b́nh thân!” toàn bộ họ đă chứng đắc thánh quả nhập lưu[33] trước sự hiện diện của nàng Khujjuttarā, nhờ nàng mà họ đạt thánh quả[34] và cũng chính nhờ nàng mà họ đă hiểu được giáo lư của đạo sư.[35] Vừa khi nghe Phật Pháp trước sự hiện diện của vị đạo sư. [384] Khi nàng, là vị thánh đệ tử đă đạt đến tŕnh độ phân định[36] đạt thông (vô ngại giải) hữu học cũng đă được diễn giải Phật Pháp theo cùng một cách như vậy, nhờ đó đă được chính vị đạo sư[37] diễn giải, trong khi đó, chỉ những khoảnh khắc[38] sau đó, những người đó đă tác ư vào đề mục thiền cũng đă hoàn tất thời gian của họ theo như họ đă tác ư đến đề mục thiền bao gồm cả những cảm giác đau đớn khi căn nhà đang bốc cháy, có một số đă chứng đắc đệ nhị thánh quả, một số chứng đắc đệ tam thánh quả.

Giờ đây sau khi các vị Tỳ khưu biết được biến cố vừa xảy ra, khi họ đang du hành vào Kosambi t́m kiếm đồ khất thực, các ngài liền bạch báo cho  Đức Phật vào bữa ăn trưa tiếp theo sau đó, và rồi họ t́m hiểu xem hiện trạng tương lai của các phụ nữ đó, và[39] Đức Phật đă nói cho các vị Tỳ khưu biết về việc chứng đắc thánh quả họ đă đạt được, v́ lư do đó có lời nói rằng, “và vào dịp đó đang khi nhà vua Udena….đă hoàn tất sanh mệnh của ḿnh mà không phải uổng công vô ích”. Về điểm này:

Không uổng công (anipphalā): không phải uổng công; họ đă kết thúc cuộc sống bằng cách chứng đắc cùng những thành quả giống như các vị sa môn đă đạt được; hơn thế nữa, chính nhờ tu luyện hành thiền minh sát họ đă tác ư đến đề mục thiền bao quát chính cảm thọ đau đớn, trong khi đó Sāmāvati[40] đă động viên cổ vũ họ để đạt được thánh quả bằng những đoạn kệ sau đây:

“Hăy cố gắng nỗ lực hết ḿnh, hăy từ bỏ mọi sự và hăy chăm chú vào lời giảng dạy của Đức Phật; hăy tiêu diệt đoàn binh thần chết như thể con voi vượt ra khỏi đám say”.

Bất kỳ người nào chăm chú thực hiện Pháp và giới này, trong lúc đoạn tận tái sanh và ṿng luân hồi, th́ sẽ kết thúc đau khổ” (S i 156tt = Thag 256tt[41]) họ đă chứng đắc thánh quả thứ hai và thánh quả thứ ba; nhưng do vẫn c̣n sót lại một số tàn dư sanh mệnh (vẫn c̣n khá rơ nét) và do thực chất là nàng đă không thực hiện một hành động đại loại như vậy[42], thế nên Khujjuttarā đă thấy ḿnh bên ngoài lâu đài, và họ cho biết nàng đă cách xa nơi đó khoảng độ mười do tuần.[43]

Thế rồi, trong sảnh đường Phật Pháp các vị Tỳ khưu bắt đầu bàn tán với nhau nói rằng, “các chư huynh, quả thật đối với các nữ thánh đệ tử phải chết kiểu đó không thích hợp[44] chút nào ”, khi vị đạo sư tới nơi và hỏi họ, “hỡi các vị Tỳ khưu, các ngươi đang bàn tán điều đó nhằm mục đích ǵ vậy? các ngươi tụ tập lại đây với mục đích ǵ?” và khi họ trả lời, “nhằm mục tiêu tranh luận về biến cố vừa xảy ra, cụ thể….” nghe nói vậy, Đức Phật lên tiếng, “hỡi các vị Tỳ khưu[45]cho dù sự hiện hữu của họ rất có thể đă nhận được điều không mấy thích hợp, tuy nhiên lại rất thích hợp đối với những hành vi họ đă thực hiện trước đó,” và khi các vị Tỳ khưu yêu cầu Đức Phật đă kể lại quá khứ (cho họ nghe).

“Trong quá khứ, trong lúc nhà vua Brahmadatta đang trị v́ tại thành Benares, có tám vị  Độc Giác Phật đă thường xuyên dùng bữa trong hoàng cung với nhà vua. [385] có tới năm trăm phụ nữ hầu hạ các ngài, có bảy vị trong số đó đă trẩy đến vùng núi Himālaya, trong khi đó chỉ có một vị tự[46] ngồi thiền nhằm đạt đến thánh quả trong một khu rừng cỏ rậm rạp kế bên bờ một con sông. Thế rồi một ngày nọ khi các vị Độc Giác Phật này đă lên đường, th́ nhà vua đến đó,[47] cùng đi có năm trăm phụ nữ đó theo hầu, mong ước được thưởng ngoạn tṛ tiêu khiển trên sông nước. Những người phụ nữ đó[48], bị lạnh cóng sau khi tắm (và) ước ao được sưởi ấm sau khi đă tiêu khiển dưới nước trong nhiều giờ liền, họ đă tụ tập lại [49] trong khu rừng cỏ và lấy cỏ khô[50] phủ kín lên chính ḿnh, trông y hệt như một đống cỏ khô, họ đă nổi lửa; thế rồi vừa khi nh́n thấy vị Độc Giác Phật giống như cọng cỏ khô đang ngă xuống[51] sau khi đă bị đốt cháy và nghĩ rằng, “Vị Độc Giác Phật của nhà vua đang bị thiêu sống; khi nhà vua biết sự việc này chắn hẳn sẽ giết chết chúng ta,[52] chúng ta chắc chắn phải bị thiêu sống toàn bộ,[53]’ tất cả các phụ nữ liền thu gom củi rừng v.v…[54]đây kia, và chất đống lên trên vị độc giác rồi mồi lửa[55] đốt cho bằng sạch, và rồi họ bỏ đi tin tưởng rằng, “giờ đây vị độc giác đă bị thiêu rụi”.

Trước đó các phụ nữ chỉ là những người hành động vô ư thức, song giờ đây họ đă trở thành những người bị buộc phải chịu trách nhiệm về hành vi đó,[56] hơn thế nữa, những phụ nữ đó[57] đă không thể, cho dù họ thu gom và nổi lửa đốt cả ngàn xe củi, cũng không thể khiến cho vị Độc Giác[58] Phật đạt đến thiền diệt, hay bị ảnh hưởng do[59] sức nóng thuộc loại đó[60]; chính v́ thế, vào ngày thứ bảy ngài Độc Giác Phật đă xuất khởi (khỏi thiền diệt đó) và đi khắp nơi theo ư ngài muốn. Do các phụ nữ đó đă thực hiện hành vi đó, họ đă bị thiêu đốt trong hỏa ngục trong nhiều ngàn năm, trong nhiều trăm ngàn năm, trong khi đó do kết quả c̣n sót lại của cùng một hành vi đó nơi hàng trăm lần tái sanh riêng rẽ họ đă phải chịu thiêu chết bằng cùng một cách[61] như vậy trong căn nhà bị hỏa hoạn[62]; đây chính là hành vi tiền kiếp họ đă thực hiện trong quá khứ; nhưng v́ trong kiếp hiện tại này, họ đă đạt được thánh quả,  thế nên họ đă ngồi lại với nhau và tỏ ḷng kính lễ Tam Bảo, chính v́ thế những người bất lai trong số họ đă tái sanh trong nơi trú xứ thanh tịnh, trong khi đó những người c̣n lại, một số đă tái sanh nơi cơi chư thiên, tam thập tam, một số nơi cơi Dạ Ma (Yāmas), số khác nơi cơi trời Đâu xuất, một số khác lại xuất hiện nơi cơi Nimmānaratis, số xuất hiện nơi cơi Paranimmitavasavattis [63]”.

Vào lúc này, cho dù nhà vua Udena vừa nghe cấp báo khẩn là lâu đài của Sāmāvati đă bị hỏa hoạn. Ngài chỉ đến tại[64] hiện trường sau khi các phụ nữ đó đă bị chết cháy trong đó, nhưng với ḷng ghê sợ nổi lên trong tâm, sau khi ngài đă tới hiện trường, dập tắt đám cháy và bị động tâm mạnh mẽ, khi nhà vua biết được sự việc xảy ra, bằng những phương cách khôn ngoan, ngài biết được sự việc này lại chính do bàn tay Māgandiyā[65]thực hiện, qua hành vi dính líu đến lỗi phạm, nàng đă gây ra cho các thánh đệ tử (ariyasāvakas), nhà vua đă ra lệnh[66] trừng phạt nàng theo luật hoàng cung, cùng với toàn bộ họ hàng của nàng.[67]Chính v́ thế cùng với các nàng hầu, bạn bè và bà con ruột thịt, nàng đă phải đối mặt với cảnh chạy trốn và bất hạnh.

Thẩm định lại vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm định lại vấn đề dưới mọi góc độ nguyên nhân của các phụ nữ đó, cùng vơi Sāmāvati đứng đầu, đă phải chạy trốn và bất hạnh trong trận hỏa hoạn đó,[386] và lư do nàng Māgandiyā, cùng với bạn bè và họ hàng ruột thịt gặp phải tai họa và bất hạnh do các trừng phạt theo luật hoàng cung đă khiến khởi sanh  Phật Tự Thuyết này nhằm làm sáng tỏ vấn đề đó. Về điểm này:

Cơi thế gian này, bị cột chặt với si mê, trông giống như vẫn có khả năng (mohasambandhano loko bhabbarūpo va dissati): cơi chúng sanh ở đây, h́nh như có khả năng làm nhân duyên[68] tuy nhiên lại bị ràng buộc với si mê, bị si mê vây quanh; nên không nhận ra được đâu là hạnh phúc và đâu là đau khổ cho chính bản thân ḿnh, và không thể giúp chúng sanh tu luyện những ǵ đem lại hạnh phúc cho chính bản thân, tích tụ những ǵ gây hại cho chính ḿnh, và đau khổ cũng như nhiều bất công cho người khác. Bhavarūpo va dissati[69] (giống như đă hiện hữu) cũng là cách giải thích, đây là ư nghĩa: cơi thế gian này đă bị si mê xiềng xích và bao trùm toàn bộ, chính điều đó như vẫn c̣n hiện hữu, tựa như bản ngă lại mang bản chất vĩnh cửu vậy, cơi thế gian này đă xuất hiện như thể đă thoát khỏi cảnh già lăo và chết chóc,[70] kết quả là những hành vi xem ra không nên thực hiện lại đă được thực hiện, như sát sanh v.v…Người khờ dại, bị bóng tối vây hăm, bị hệ phược sanh y (đến nỗi đối với người đó) cơi đời này h́nh như đă trở nên vĩnh cửu. (upadhibandhano bālo tamasā parivārito sassato-r-iva[71] khāyati): và không chỉ người đó đă bị hệ phược si mê , nhưng cả sanh y nữa cũng hệ phược họ như vậy, đó là cơi của những người mù quáng khờ dại đă bị bóng tối bao trùm đó chính là vô minh, đây là những ǵ đề cập đến vấn đều này: “do thiếu trí thế nên người đó đă coi toàn bộ tham dục và ngũ uẩn là vô thường là đau khổ và mang bản chất thay đổi, người khờ dại, những chúng sanh phàm phu đă bị vây hăm tứ bề[72] bị bóng tối đó cản trở chính là thiếu trí, gây trở ngại, chính v́ thế người đó bị lẩn quẩn với hết sanh y này đến sanh y khác, tức là sanh y tham dục, sanh y phiền năo và sanh y ngũ uẩn chỉ thấy dáng vẻ bề ngoài xuất hiện, đối với người đó chỉ nh́n ngắm sanh y đó ḱm hăm[73] lại coi đó là vĩnh cửu[74], như thể[75] những thứ đó có thể tồn tại vĩnh hằng. Asassati-riva khāyati (điều đó chỉ hiện hữu là bất vĩnh cửu mà thôi) cũng là cách giải thích; ư nghĩa ở đây là: giả sử thực chất là bản ngă tồn tại trong mọi khoảnh khắc, th́ những ǵ không phải là bản ngă đều là đoạn kiến, là vô thường, (chính v́ thế) mà sanh y xuất hiện- ư nghĩa là bản ngă xuất hiện. C̣n đối với cơi thế gian này, do gắn kết với những ǵ sai trái, thế nên đă coi đó như là một phần của kiếp sống này. Do nguyên âm ra là liên kết êm tai giữa các từ đó. Những người nào chủ trương holding không tồn tại (passato ’ atthi kiñcanaṃ): ngược lại với điều đó – người nào tu luyện thiền minh sát bằng cách tùy quán về đặc tính vô thường v.v… sau khi bao quát[76] cả các hành, người nào chủ trương, biết rơ, thấu triệt[77] được (những hành đó) thực sự đă tồn tại như thế nào, qua tuệ giác liên kết với thánh đạo liên quan đến tuệ giác thông qua thiền minh sát, [387] th́ chẳng c̣n có chỗ tựa nào (holding) như thể tham dục v.v…[78] thông qua đó, người đó lại bị hệ phược[79] trong ṿng luân hồi, v́ ư nghĩa ở đây chính là chỉ có người nào không coi các hành đó theo cách vừa nêu trên mới đă bị trói buột nơi ṿng luân hồi do các hệ phược đó là vô minh, ái dục và tà kiến v.v…

Việc diễn giải Kinh Phật thứ mười kết thúc tại đây.

Và việc diễn giải Tiểu phẩm[80] cũng kết thúc ở đây.


 

-ooOoo-

[1].  Chú giải Be đă giải thích Utena một cách xuyên suốt, có lẽ do hậu quả nguồn gốc tên của ngài, như đă đề cập đến trong chú giải Dhp-a i 165, như là megha-utuñ ca pabbata-utuñ ca aruṇa-utuñ ca gahetvā jātattā, liên quan đến việc ngài đă được sanh ra trong lúc (utu) băo tố đang diễn ra, vào lúc (utu) mẹ ngài đang bị mắc kẹt trên núi, và vào lúc (utu) rạng đông ló rạng.

[2]. Ce Be Se giải thích là pana padaṃ c̣n bản văn ghi là na padaṃ.

[3]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sambandhe ’ etaṃ c̣n bản văn ghi là sambandhe ’ etaṃ; theo nghĩa đen sambandha là “mối quan hệ”, cho dù ở đây có thể ám chỉ một dạng tài sản nào đó. Chính v́ thế trước tiên Dhammapāla cho là rañño Udenassa uyyānagatassa ở sở hữu cách tuyệt đối, theo như cách giải thích trong bản dịch Ud, và thứ hai được hiểu theo nghĩa là chủ nhân nội cung, khi Ud vào dịp được trở thành nội cung của nhà vua Udena đă bị đốt cháy,  khi nhà vua đến công viên hoàng cung để hưởng tṛ tiêu khiển. Woodward (VofU 96) đă chấp nhận cách giải thích thứ hai cho rằng: “đó là hậu cung của nhà vua Rājah Udena, lúc đó nhà vua đă đi tiêu khiển trong công viên hoàng gia”; ngược lại theo Ireland (p. 107) lại cho đó là khu vực dành cho các cung phi được xây trong công viên hoàng gia của nhà vua Udena” không theo bất kỳ cách giải thích nào và điều này quả thật không đúng.           

[4]. Đầu tiên tên nàng là Sāmā, nhưng sau đó mọi người đều gọi nàng là Sāmāvati đó là khi nàng cho xây một bức tường rào (vati) chung quanh địa điểm Ghosaka tổ chức cuộc bố thí – Dhp-a i 190.

[5]. Xin đọc chú giải Dhp-a i 187tt.

[6]. Chú giải Ce Be Dhp-a đều giải thích giống như vậy; bản văn Se ghi là Ghosita; việc lựa chọn này xem ra có vẻ độc đoán cho dù cách giải thích sau này có thể được ủng hộ; thực chất là ta thường ám chỉ đến địa điểm nghỉ ngơi đó như là nơi nghỉ ngơi của Ghosita; mặt khác, cách giải thích của Ghosaka h́nh như đă quay trở lại về thời điểm trước các biến cố đó xảy ra, khi mà ngài phải tái sanh thành một con chó thường xuyên sủa to tiếng. – Dhp-a i 171tt, về chi tiết việc chấp nhận này xin đọc chú giải Dhp-a i 190.

[7]. Là một trong ba vị, hai vị khác có tên là Māgandiyā và Vāsuladattā.

[8]. Họ đă trở thành những người hầu cho nàng trước khi nàng được tiến cung với nhà vua Udena, họ đi hầu hạ nàng khi tiến cung và sống trong đó.

[9]. Chính v́ điều này mà nàng được ban cho địa vị tối thượng trong số các cận sự nữ của Đức Phật (Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 26); nàng cũng thực hiện điều này để cứu mạng sống của ḿnh bằng cách trải ḷng từ tâm đối với nhà vua Udena khi nhà vua định giết nàng với mũi tên tẩm độc (Thanh Tịnh Đạo 381)

[10] . Dhp-a i 161-231; được dịch trong BL i 247- 293. Toàn bộ những người được đề cập đến ở đây đều đă được chứng minh có liên quan đến bằng nhiều cách phức tạp trong rất nhiều lần tái sanh, xin cũng đọc chú giải AA i 418-445.

[11].  Chú giải Ce giải thích là Māgandhiyā, Be Māgaṇḍiyā cũng chính những chú giải đă giải thích Māgandhiyā và Māgaṇḍiyā, đều là cha của nàng.

[12]. Nói đến cô con gái Māgandiyā của họ vừa được hứa cho phép kết hôn. Vừa khi nghe đoạn kệ, cha mẹ nàng đă trở thành các vị Bất Lai, họ đă xuất gia và trở thành các vị A-la-hán,  Māgandiyā vị phạm phải luận tội với Māgandiya, là em trai củc cha nàng, là người sau này đă hứa hôn nàng với Udena (Dhp-a i 199tt); chính v́ thế người này là cậu của nàng, chớ không phải cha nàng, và cũng chính là người đă nổi lửa đốt toà lâu đài.

[13].  Chú giải Ce Be Sn giải thích là aratiṃ ragañ ca c̣n bản văn ghi là arati rāgañ ca,  chú giải Se giải thích là aratiñ ca rāga;  đây là ba cô con gái của Ma vương Māra 

[14].  Chú giải Be Ce giải thích là Kosambi upagatabhāva  c̣n bản văn ghi là Kosambiya upagatabhāva, Ce Kosambi-upagatabhāvaṃ

[15].  Chú giải Ce Be Se giải thích là opamukhāna  c̣n bản văn ghi là parimukhāna.

[16]. Chú giải Ce Be giải thích là anekapariyāyehi (se anekehi pariyāyehi)  c̣n bản văn ghi là anekapariyāyena. Những điều này được ghi lại trong Dhp-a i 210tt.

[17]. ’ssa kattabba jānissāmi; Childers đề nghị, sv kattabbo, có nghĩa là “ giờ đây ta sẽ không thể đối xử tồi tệ chàng được”, nhưng xin đọc chú giải AA i 444 trong đó có một câu tương tự aññaṃ kātabba apassantī rất có thể và phải có nghĩa là “không đếm xỉa đến bất kỳ điều ǵ nàng có thể làm”.

[18]. Puna.

[19].  Chú giải Ce Be Se giải thích là raññā c̣n bản văn ghi là rañño.  Chú giải AA i 444 h́nh như ám chỉ rằng nàng đă rũ ngài vào công viên  để cho cậu của nàng có thể an tâm nổi lửa đốt toà lâu đài.

[20]. Sāsana; xin đọc Ud-a 124 ở trên.

[21]. Vivarāpetvā; không thấy liệt kê trong tự điển PED. BL i 288 chỉ đơn giản giải thích là “mở ra”.

[22]. Trong một phiên bản chú giải AA i 444, nàng đă dặn ḍ cậu của nàng dụ nàng Sāmāvati và đoàn tuỳ tùng của nàng đi vào nơi ở của họ trong hậu cung, sau đó ông ta có thể đóng cửa lại, nói rằng nhà vua hạ chiếu chỉ như vậy, và rồi phủ trấu hết hậu cung và nổi lửa đốt hậu cung.

[23]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yantaṃ datvā c̣n bản văn Dhp-a ghi là yantaka datvā, tuy toàn bộ chú giải này đều giải thích là yantakaṃ datvā như dưới đây.

[24].  Chú giải Ce Be Se và Dhp-a giải thích là gacchatu  c̣n bản văn ghi là gaccha.

[25]. Vivaritvā.

[26]. Vehāpeti; Be bandhāpeti.

[27]. Rājagehe nāma suyuttaduyutta dujjāna; BL i 288 giải thích là “thật khó ḷng hiểu được lư do tại sao một số điều nên làm trong hoàng cung, và c̣n những điều khác lại không được phép”. 

[28].  Ce Be Se Dhp-a giải thích là  me c̣n bản văn ghi là ime.

[29]. Ādito paṭṭhāya; hiểu theo nghĩa đen “ngay từ lúc bắt đầu” 

[30].  Ce Be Se giải thích ammā c̣n bản văn Dhp-a ghi là amhāka

[31].  Chú giải Ce Be Se Dhp-a (vl) giải thích là  evam eva agginā c̣n bản văn ghi là ’ eva agginā ca.

[32]. Anamatagge; xin đọc chú giải một loạt các Kinh Phật trong S ii 178tt.

[33]. Chú giải Ce Se giải thích là sotāpattiphalam adhigatā (Be sotāpattiphalassādhigatā) bản văn ghi là sotāpattiphalassādhigatattā. Cách giải thích này chỉ yêu cầu, như Ud đă xác định lại, v́ một số chỉ trở thành vị nhập lưu sau khi họ đă viên tịch.

[34].  Chú giải Ce Be Se giải thích là adhigataphalāya  c̣n bản văn ghi là āgataphalāya.

[35]. Viññātasatthusāsanāya;  chú giải Be bỏ qua satthu. Xin đọc Vv-a 192, đă giải thích viññātadhammā là “Ai là người đă thấu hiểu Phật Pháp, đó chính là Giáo Lư, có nghĩa là ai đă quán triệt Phật Pháp đó chính là tứ diệu đế.” 

[36].  Chú giải Ce Be Se giải thích là sekha “người hữu học”  c̣n bản văn ghi là  asekha “người vô học”; xin đọc Ps ii 203.

[37]. Xin đọc chú giải ācikkhissanti trong chú giải Ud-a 326 ở trên. Dhp-a i 209tt lại cho biết thêm rằng sau đó nàng thường xuyên đến gặp  Đức Phật, lắng nghe diễn giải giáo lư mới, và rồi nhắc lại cho Sāmāvati và đoàn tùy tùng của nàng. Đến đúng thời gian qui định nàng đă thông hiểu nằm ḷng toàn bộ Tam Tạng chính v́ thế nàng cũng được ban cho địa vị tối thượng trong số những người đă lắng nghe rất nhiều (Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 26)

[38].  Chú giải Ce Se giải thích là antarantarā ca (Be antarantarā) c̣n  bản văn ghi là antarā.

[39].  Chú giải Ce Be Se giải thích là ca; c̣n bản văn bỏ qua.

[40]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Sāmāvatiyā c̣n bản văn ghi là Sāmāvatiyo.

[41]. EV i 30 chú giải có hơi khác một chút, giải thích nikkhamatha là “xuất gia” và jātisasāra là “cuộc hành tŕnh đi từ tái sanh này sang tái sanh khác. Trong văn cảnh này, việc liên quan đến những người nào bị mắc kẹt trong ngôi nhà cháy phải xuất gia h́nh như không đúng, trong khi đó theo cách sau này tôi chấp nhận cách thứ nhất trong hai cách được đưa ra trong chú giải SA i 222, tức là jātisasāran ti jāti ca sasārañ ca/ jātisakhāta sasāra

[42]. V́ đó là cách dẫn đến những người khác cũng bị thiêu đốt cho đến chết.

[43]. Thực tế này h́nh như không thấy trong những bản tường tŕnh trong  chú giải AA, Dhp-a

[44].  Chú giải Be Se Dhp-a giải thích là ananucchavikaṃ, c̣n bản văn ghi là anucchaviyaṃ. Ce acchariyaṃ. 

[45]. Chú giải Ce Be Se Dhp-a giải thích là bhikkhave  c̣n bản văn ghi là na bhikkhave.

[46]. Bản văn chèn thêm ti;  Chú giải Ce Be Se lại bỏ qua.

[47]. Be giải thích là tattha gato c̣n bản văn Ce Se ghi là gato tattha.

[48]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tā; c̣n bản văn lại bỏ qua.

[49]. Bản văn Ce chèn thêm hitā; Be Se lại bỏ qua.

[50]. Bản văn chèn thêm disvā;  chú giải Ce Be Se lại bỏ qua.

[51]. Patantesu; hay rất có thể là bay lên, như cỏ cháy thường bay lên như vậy, v́ patati lại bao gồm cả hai nghĩa.

[52]. Bản văn Ce chèn thêm ti, hàm ư có hai trích đoạn riêng biệt; Be Se lại bỏ qua.

[53]. Theo cách chấm câu của  chú giải Be.

[54]. Chú giải Ce Be giải thích là dāru-ādīni, c̣n bản văn ghi là dāruni, chú giải Se Dhp-a giải thích là dārūni. Dāruni phải là một cách in sai, v́ ngài Woodward đă khẳng định rằng đây là cách giải thích trong  chú giải Dhp-a.

[55]. Ālimpetvā; BL i 291 giải thích điều này là “họ đă đổ dầu vào đó nhưng đây chắc chắn là một ví dụ cho nghĩa thứ hai được liệt kê trong tự điển PED với từ ālimpeti hơn là từ vừa nêu trên.

[56].  Be Se giải thích là kammunā bajjhisu c̣n bản văn Ce ghi là kammanā bajjhisu, chú giải Dhp-a giải thích là kammanābajjhiṃsu (nhưng chú giải vl, h́nh như lại theo BL).

[57].  Chú giải Ce Se giải thích là tā; c̣n bản văn Be lại bỏ qua.

[58].  Chú giải Ce Be Se Dhp-a giải thích là Paccekabuddhaṃ c̣n bản văn ghi là Paccekabuddhā.

[59].  Ce Be Se giải thích là gāhetuṃ  c̣n bản văn ghi là gahetuṃ. 

[60].  Chú giải Trung Bộ Kinh (M) i 333 (trích trong Thanh Tịnh Đạo 380) trong đó cho thấy tương tự như vậy Trưởng lăo Sañjīva đă không thoát khỏi bị ảnh hưởng do toan tính của những người dân thường có ư định muốn hoả táng thân ngài; cũng xin đọc chú giải  Ud-a 317 ở trên: “liệu các ngươi có nghĩ rằng đối với ta địa ngục (Avīci) liệu có lạnh lẽo giống như cánh rừng bông sen xanh chăng?” 

[61]. Iminā’ va niyāmena; điều này có thể coi như liên quan đến hoặc là cách thức những phụ nữ đó bị thiêu huỷ trong toà nhà của vua Udena , hoặc giả như cách thức vị Độc Giác Phật bị thiêu cháy trong ngôi nhà tranh của ngài.” 

[62]. Gehe jhāyamāne jhāyisu; hay là căn nhà của họ đang bốc cháy. BL i 291 “ngôi nhà của họ đang bốc cháy, và họ bị thiêu rụi trong căn nhà đó.

[63]. Năm trong số sáu cơi trời thuộc về cơi dục giới, cơi thấp nhất trong số đó, đó là cơi của Tứ Đại Thiên Vương, rơ ràng được coi như là bất hiện hữu, là các vị nhất lai thông qua chứng đắc đệ nhị thánh quả, họ chỉ có thể xuất hiện nơi những cơi nào có thể quay trở lại được, điều này tự động đoạn tận cơi Tịnh cư ta không thể nào quay trở lại được từ những cơi đó, xin đọc Trung Bộ Kinh (M) i 82 trong đó Đức Phật có khẳng định rằng,  chính v́ lư do đó ngài chẳng bao giờ tái sanh vào cơi đó, năm cơi trời này luôn luôn ở số nhiều, điều này gợi ư cho thấy hoặc là họ luôn khởi sanh với tư cách là các chư thiên nơi các cơi đó, hay với tư cách là một thành viên thuộc các đoàn tuỳ tùng nữ giới do chính các chư thiên đó đang sở hữu..

[64]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sampāpui//āgantvā c̣n bản văn ghi là sampāpuitvā āgantvā.

[65]. Chú giải Se giải thích là Māgandiyāya (Ce Māgandhiyāya. Be Māgaṇḍiyāya) c̣n bản văn ghi là Māgandiyā.

[66].  Ce Be Se giải thích là kāresi c̣n bản văn ghi là karesi.

[67]. Nhà vua Udena, giả vờ tin tưởng những lời ám chỉ của Māgandiyā cho rằng Sāmāvati đang kiếm cách để hạ sát nhà vua, đă lên tiếng khen ngợi con người đă giải thoát ngài khỏi tay Sāmāvati.  Māgandiyā đă tin vào những lời đó, sau đó Udena đă cho mời toàn thể họ hàng của nàng để nhà vua có thể trọng thưởng cho họ. Khi họ đă tụ tập đông đủ, nhà vua đă truyền lệnh cho chôn tất cả trong những chiếc hố sâu đến thắt lưng, lấy rơm phủ đầy trên họ và rồi nổi lửa đốt cháy toàn bộ họ cho đến chết, trong khi đó Māgandiyā c̣n truyền lệnh thêm cho cắt thịt nàng, và nấu lên trước mặt nàng và rồi ép nàng ăn thịt của chính nàng. (Dhp-a i 223tt).

[68]. Hetusampanno; bhabba (có khả năng) được giải thích trong chú giải Ud-a 281 ở trên bằng những từ có khả năng chứng đắc thánh đạo và thánh quả, chính hetu (nhân duyên), tạo thành ân đức thứ ba trong số tám ân đức cần thiết để nguyện vọng của vị Bồ Tát đi tới thành công, đă được chú thích trong chú giải  Bv-a 91 bằng từ hetusampanna và tác giả đă giải thích là nhân duyên tạo thành chứng đắc A-la-hán cho những người hiện c̣n tồn tại nơi chính cuộc sống của ḿnh. (hetū ti purisassa pi tasmi attabhāve arahattappattiyā ’ eva patthanā samijjhati). Woodward (VofU 96) đă giải thích từ bhabbarūpo là “buộc phải tái sanh” cho dù bất kể ư nghĩa nào đi chăng nữa, trong khi đó Ireland (tr.107), cho dù có giải thích đúng nghĩa là “có khả năng”, nhưng lại ghi thêm một chú giải trong đó có giải thích rằng, “có khả năng hành động tùy nghi và si mê không có ảnh hưởng ǵ” cho dù rất có thể không sai tuyệt đối, nhưng đây lại là sai lầm lớn nhất.