|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
6. TRƯỞNG LĂO ĐẠI CA DIẾP (Kassapa) Trong Kinh Phật thứ sáu: Tại Rājagaha (Rājagahe)[1]: trong một thành phố có tên gọi như vậy. V́ thành phố này có tên gọi là “Rājagaha”2 liên quan đến một vấn đề là các vị Mandhātu3 và Govinda 4 v.v… đă chiếm cứ thành phố này. Liên quan đến vấn đề này họ đă b́nh luận theo một cách khác5 sau đây, “Chính là thành phố “Rājagaha” v́ thành phố này đă hành sử như một cái bẫy6 chống lại các vị vua thời bấy giờ. Liên quan đến vấn đề là thật khó ḷng có thể trấn áp7 được thành phố này v.v… nhưng đâu là nguyên nhân của toàn bộ vấn đề này? Đây chỉ đơn giản là tên của thành phố và cũng thành phố này đă trở thành một thành phố vào thời Đức Phật mà thôi và vào thời các Chuyển Luân Vương (cakkavatti); vào thời c̣n lại thành phố lại trống vắng chỉ là nơi cư trú dành cho các Dạ-Xoa (yakkhas), làm trú xứ[2] cho ḿnh. Tại nơi làm địa đểm cho con sóc ăn trong cánh rừng tre (Veḷuvane Kalandakanivāpe): “cánh rừng tre” là tên gọi thiền viện đó. Người ta kể lại rằng khu rừng này có hàng rào bao bọc cao tới mười tám hatthas 2 có chiếc hương pḥng rất lớn trang hoàng cánh rừng đó, đây là nơi trú ngụ đặc biệt chỉ dành cho một ḿnh3 Đức Phật mà thôi và cũng c̣n có nhiều toà lâu đài, nhiều căn cḥi, hang động, sảnh đường, lối đi và các cổng vào thành v.v…(và) bao quanh bên ngoài là một lũy tre xanh cùng thiền viện đó lại là một nơi huy hoàng tỏa ra ánh sáng màu xanh dương và xanh lam4, làm cho ḷng người thêm sảng khoái. V́ lư do đó [60] nơi đây có tên gọi là “cánh rừng tre” và tại đây người ta thường đem đồ ăn đến để nuôi những con sóc.5 kết quả là nơi đây được gọi là “Phần đất cho Sóc ăn.” Người ta kể lại rằng từ những ngày xa xưa có một vị vua, đă vào công viên này để săn bắn, do uống nhiều rượu mạnh[3] làm cho say; và vào lúc nghỉ trưa nhà vua đă ngủ thiếp đi; trong khi đó các vị quan hầu biết nhà vua đang an giấc ngủ, họ liền tỏa đi khắp nơi và đă bị hương thơm hoa trái cuốn hút. Thế rồi, do hương rượu ảnh hưởng, có một con hắc xà ra khỏi lỗ cây và hướng về vị trí nhà vua đang nằm nghỉ; sau khi đă chứng kiến cảnh tượng đó, có một vị thần cây suy nghĩ, “Ta phải cứu mạng cho nhà vua” và giả dạng thành một con sóc và phát ra tiếng kêu ngay dưới lỗ tai của nhà vua,2 nhà vua liền tỉnh dậy và con hắc xà biến mất; ngay khi biết được điều này, nhà vua nhận ra rằng, “Mạng sống của trẫm đă được con vật đốm3 này cứu thoát” tại nơi đây nhà vua đă cho thiết lập một băi dành làm nơi cho những con sóc ăn; và rồi nhà vua hạ chỉ công bố biến những chú sóc thành loài vât được chăm sóc bảo vệ đặc biệt4. Kể từ đó trở đi nơi này đă trở thành một nơi dành làm “mảnh đất cho sóc ăn”5 v́ sóc chính là tên những con vật đốm đó; ngay tại nơi cho Sóc ăn trong khu rừng tre. Trưởng lăo đại Kassapa[4]: (Mahākassapo): ngài chính là “Trưởng lăo đại Ca Diếp” v́ ngài là Trưởng lăo đại Ca Diếp, v́ lư do có lần kia ngài được trang bị với nhiều loại giới đức v.v…2 thuộc loại cao thượng và hơn thế nữa, vị đại Trưởng lăo này lại có tên gọi là “ Mahākassapa” hoàn toàn trái ngược lại với trường hợp vị Trưởng lăo Kumārakassapa3 (Đồng tử Ca diếp). Nơi Động Hồ Tiêu (Pipphaliguhāyaṃ 4): người ta kể lại rằng có một cây hồ tiêu gần ngay cửa chiếc động này, chính v́ thế mà động này trở nên nổi tiếng với tên gọi là “Động Hồ Tiêu”, tại nơi động Hồ Tiêu đó.Bệnh (ābādhiko): ngài bị bệnh v́ bệnh xảy đến với ngài.5 có nghĩa là ngài đang bị bệnh6. Phải chịu đau khổ (dukkhito): phải chịu đau khổ v́ đau khổ thân [5] đang đè nặng trên ngài, ư nghĩa ở đây là mắc phải đau khổ thân Mắc bệnh trầm trọng (bāṭhagilāno): bị mắc bệnh trầm trọng; nhưng khi một người nào chánh niệm và chăm chú th́ người đó có thể kiên nhẫn chịu đựng bệnh tật đó. Thế rồi Đức Thế Tôn, khi vừa biết được điều ǵ xảy ra với ông. Ngài đă đến đó và công bố các Giác Chi Paritta2 kết quả là mối đau khổ của vị Trưởng lăo đó đă được diệt trừ. V́ thế người ta nói về điều này trong tương ưng bộ kinh như sau: “Và vào dịp Trưởng lăo đại Kassapa đang lưu lại trong Động Hồ Tiêu bị bệnh và phải chịu rất nhiều đau khổ dằn vặt, và ngài đă bị bệnh rất nặng. Thế rồi Đức Thế Tôn khởi xuất khỏi t́nh trạng ẩn cư vào một khoảnh khắc đặc biệt. Vào buổi tối, ngài đă đi đến gần Trưởng lăo đại Kassapa; và sau khi đă đi lại gần, ngài ngồi xuống trên chiếc ghế soạn sẳn cho ngài; và khi ngồi như vậy, Đức Thế Tôn nói điều này3 với (Trưởng lăo đại Kassapa): “Hỡi Kassapa, ta tin tưởng rằng nhà ngươi có thể vượt qua; ta tin rằng nhà ngươi đang t́m thấy được nơi nương tựa, ta tin rằng [61] các cảm thọ khổ đang lùi dần khỏi nhà ngươi, không trở nên tồi tệ hơn đâu. Đau khổ bị đẩy lùi [6] thật đă quá hiển nhiên, mọi sự rồi sẽ khá hơn ’ ‘Ôi Đức Thế Tôn! tôi không thể chịu đựng được nữa. Tôi không t́m đâu ra nơi nương tựa. Những cảm thọ đau khổ nghiêm trọng2 của tôi ngày càng tệ hơn, không hề thuyên giảm; điều tồi tệ hơn thật đă quá rơ ràng và hiển nhiên, chẳng thuyên chuyển chút nào cả3’ ‘Thất giác chi mà ta đă giải thích cặn kẽ khi được tu luyện, khi thường xuyên được luyện tập, sẽ dẫn đến thắng trí, sẽ dẫn đến giác ngộ, tới Níp bàn.” “Thất Giác chi nào vậy? Niệm giác chi ta đă giải thích rơ ràng cho nhà ngươi. Khi được tu luyện, khi được thường xuyên luyện tập sẽ dẫn đến thắng trí, dẫn đến giác ngộ, đến Níp Bàn… Xả giác chi ta đă giải thích cặn kẽ, khi được tu luyện, thường xuyên luyện tập, sẽ dẫn đến thắng trí, dẫn đến giác ngộ, đến Níp bàn.” “Hỡi Kassapa, đó là thất giác chi 4 chính ta đă giải thích rất cặn kẽ, một khi được tu luyện, một khi thường xuyên được luyện tập sẽ dẫn đến thắng trí, dẫn đến giác ngộ, và níp bàn. Đây chắc hẳn phải là thất giác chi, ôi Đức Thế Tôn , đây ắt phải là các giác chi, ôi Sugata!” Đây là điều Đức Thế Tôn đă khẳng định; và Trưởng lăo đại Kassapa tràn đầy phỉ lạc trong tâm,[7] ngài vui mừng v́ lời Đức Thế Tôn công bố và rồi ngài Trưởng lăo đại Kassapa khởi xuất khỏi bệnh đó; và nhờ cách đó Trưởng lăo đại Kassapa đă diệt tận được nỗi đau khổ đó.” (S v. 79tt) V́ lư do đó, người ta nói rằng, “ Thế rồi Trưởng lăo đại Kassapa, đến đúng thời gian ấn định đă xuất khởi khỏi bệnh đó.” Điều này đă diễn ra (etad ahosi): trước đây, trong những ngày bệnh tật, ngài đă lưu lại trong thiền viện đó, dùng của bố thí những người cùng chung sống2 đem đến cho ngài, thế rồi, khi ngài đă xuất khởi khỏi bệnh, suy nghĩ này đă xuất hiện trong tâm ngài, tức là, điều ǵ sẽ xảy ra nếu ta vào thành Rājagaha để khất thực?” Có khoảng năm trăm devatas thiên nữ xuất hiện (pañcamattāni devatāsatāni): năm trăm nữ thần chân bồ câu là những người bảo vệ cho Thiên Chủ (Sakka), vua thần linh. Hăm hở bước vào thành (ussukkaṃ āpannāni honti): sau khi đă dừng lại với đồ đựng bằng vàng trong tay trên đường ngài[8] đang đi, sau khi đă sửa soạn năm trăm phần ăn là của bố thí, họ nghĩ rằng, “Chúng ta phải dâng cúng cho vị Trưởng Lăo” họ đă chăm chú đến của bố thí đó nói rằng, “Thưa ngài, làm ơn xin nhận của bố thí này, xin ngài đối xử nhân hậu với chúng tôi.” V́ lư do đó người ta nói rằng, “Vào lúc nhận của bố thí dành cho ngài Trưởng lăo đại Kassapa” người ta kể lại rằng vừa lúc biết được ư nghĩa này xảy đến với vị Trưởng lăo, th́ Sakka, vua các thần linh, đă sai các tiên nữ đó đi nói rằng, “ Các ngươi hăy ra đi, cúng dường của bố thí cho vị Trưởng lăo đại Kassapa là người xứng đáng nhận của bố thí đó và hăy cho ngài biết lập trường của các ngươi.2” V́ có điều đă xảy đến với ngài là nếu như tất cả những tiên nữ này đi đến gặp Trưởng lăo được ngài nhận của bố thí từ một trong số họ th́ người đó sẽ được sung sướng và hạnh phúc lâu dài, nhưng vị Trưởng lăo vừa đề cập đến ở trên đă từ chối không nhận của bất kỳ ai trong số họ. [62] Ngài đă cho họ biết3 “hăy đi đi các ngươi đă thực hiện việc công đức, các ngươi đă nhận được sung sướng lớn lao4; ta sẽ chỉ thực hiện ḷng từ tâm đối với những người nào gặp thiếu thốn nhiều mà thôi.” Khi họ đang thưa với ngài, “Thưa Đức Thế Tôn, xin hăy nhận của bố thí cho tôi, xin nhận của bố thí cho tôi và rồi ngài lại từ chối khi họ thưa với ngài, “Thưa Đức Thế Tôn, xin đừng tiêu diệt chúng tôi, xin hăy đối xử từ tâm với chúng ’ Và sau khi đă nói, “ Các ngươi không biết thân phận của các ngươi, hăy đi đi, v́ họ vẫn năn nỉ ngài, và miễn cưỡng ra đi, thế rồi ngài liền thách thức họ.[9] Và rồi, cảm thấy không thể lưu lại được nữa, họ liền biến mất và tiến thẳng về cơi trời. V́ lư do đó người ta nói rằng, “Sau khi đă từ chối toàn bộ năm trăm các vị thần linh”. Vào một giây phút đặc biệt vào buổi sáng: pubbaṇhasamayaṃ = pubbaṇhe ekaṃ samayaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); vào một thời điểm đặc biệt. Bận đồ (nivāsetvā): bận bộ đồ lót bó sát thay cho bộ đồ (đă cũ vẫn thường dùng) trong thiền viện2. Cầm lấy bát khất thực và mặc y cà sa (pattacīvaram ādāya): che thân với chiếc y cà sa và cầm lấy bát khất thực trong tay. Đi khất thực (piṇḍāya pāvisi): thực hiện chuyến đi khất thực. Các khu phố dân nghèo (daliddavisikhā): tập hợp các cư dân nghèo khổ gồm nhà ở [10] của người cùng khổ. Những khu phố có những người nghèo khổ nhất đang sinh sống.(kapaṇavīsikhā): tập hợp dân chúng nghèo khổ do kết quả họ gặp t́nh trạng mất mát tài sản. Khu phố gồm các cư dân làm thợ dệt sinh sống.(pesakāravisikhā): khu tập hợp các thợ dệt2 sinh sống. Và Đức Thế Tôn đă nh́n thấy (addasā kho Bhagavā): ngài nh́n thấy bằng cách nào? Đang khi ngài c̣n3 ngồi thiền tại khu rừng tre, Đức Thế Tôn đă quan sát thấy bằng thiên nhăn của ḿnh khi người ta đang đặt câu hỏi với Ngài, “trưởng lăo Kassapa đang làm ǵ vào lúc này sau khi đă khởi xuất khỏi mọi bệnh tật?” Thẩm tra lại vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): nắm bắt được vấn đề này, là điều đang đề cập đến việc tập luyện đó, về phía Trưởng lăo đại Kassapa. Về việc giúp đỡ chúng sanh đang phải trải qua đau khổ cùng cực sau khi đă từ bỏ của dâng cúng của các vị thần linh với đầy đủ nước sốt, với biết bao nhiêu đồ gia vị, năm trăm các vị thần tiên dâng cho ngài. Liên quan đến Udāna này (imaṃ udānaṃ): làm khởi sanh tập Udāna này để giải thích[11] vẻ uy quyền về hiện trạng2 kiên tŕ của những người đă đoạn tận 3 hết các phiền năo (asavas), mở ra cách chứng minh pháp của những ai thiểu dục 4. Về điểm này: Người nào không phải nuôi dưỡng người khác (anaññaposiṃ): người nào phải nuôi nấng người khác như vậy v́ chính người khác mà họ phải nuôi dưỡng (poseti). Một người không phải “nuôi dưỡng người khác” (na aññaposī) một người không có người bạn đời để nuôi dưỡng thông qua việc không c̣n người nào để nuôi dưỡng, ư nghĩa ở đây là tương trợ.5 Theo cách này ngài chỉ cho thấy t́nh trạng dễ dàng hộ độ cho một vị Trưởng lăo.6 V́ vị Trưởng lăo là người có nhu cầu rất ít, tự nuôi dưỡng chính ḿnh, lấy y cà sa che phủ thân ḿnh và lấy của bố thí để duy tŕ mạng sống; ngài không phải nuôi sống bất kỳ người anh em họ hàng và bạn bè nào cả v.v… liên quan đến t́nh trạng ngài không phải lệ thuộc vào bất kỳ điều ǵ cả; hay nói cách khác, anaññaposī chính là “người không phải nuôi dưỡng bất kỳ ai” liên quan đến việc không có bất kỳ nhu cầu phải nuôi dưỡng ai khác hơn là chính ḿnh. V́ đối với người nào mà bốn nhu cầu cần thiết lại phụ thuộc vào một thí chủ nào đó bố thí cho những nhu cầu cần thiết đó th́ không được gọi là “người không sống nhờ vào người khác.” [63] Liên quan đến sanh mạng của người đó trở thành phụ thuộc vào một người, nhưng vị Trưởng Lăo v́ có ít nhu cầu, đang khi đi khất thực chỉ dựa vào sức mạnh đôi chân của ḿnh, theo như cách thức chúng ta đă nói đến trong đoạn kệ, “Giống như con ong đến với đoá hoa” (Dhp 49), lại tự nuôi sống ḿnh, như là một người hoàn toàn mới tới giữa bộ tộc, dựa vào một hỗn hợp thức ăn khất thực. Cũng tương tự như vậy, chính v́ người đó mà Đức Thế Tôn đă tán dương liên quan đến phẩm hạnh của ngài có thể sánh bằng mặt trăng (S ii 197tt). Nổi tiếng (aññātaṃ): nổi bật, tiếng tăm lẫy lừng liên quan đến những ân đức có thật; hoặc giả[12], nổi bật 2 liên quan đến việc ngài có thiểu dục và tri túc của ngài như là kết quả của điều kiện trở thành “không cần người nào khác nuôi dưỡng.” Hay nói cách khác không nổi tiếng (aññātaṃ) : không được biết tới (na ñātaṃ) v́ tự làm cho người khác biết đến ḿnh về ước ao có lợi lộc, kính trọng và tiếng tăm, liên quan đến ái dục được đoạn trừ tất cả; v́ đây chính là một người có ham muốn thuộc loại bất thiện3. Người đó không được giải thoát khỏi ái dục, là người xuất phát từ ư đồ gian xảo, lại tự tỏ ra ḿnh được biết đến bằng cách đưa ra cách ám chỉ là ḿnh (xứng đáng) được mọi người ưa chuộng. Được thuần hoá (dantaṃ): được thuần hóa thông qua việc thuần hóa tuyệt đối. Trong đó lại liên quan đến những khả năng của ḿnh, thông qua sáu chi xả[13] được thiết lập nơi căn bản. (sāre patiṭṭhitaṃ): ổn định nơi chính đặc tính bao gồm giải thoát; hay nói cách khác được thiết lập nơi căn bản gồm có giới v.v…đó chính là cách phân loại giới v.v…được áp dụng với vô học asekkha2. Nơi một người mà mọi phiền năo đă được đoạn tận, mọi lỗi lầm được xoá sạch (khīṇāsavaṃ vantadosaṃ): nơi một người đă đoạn tận mọi phiền năo, liên quan đến một thực tế là bốn lậu hoặc như dục lậu v.v…đă được đoạn trừ không dư xót. Chỉ nhờ vào điều “mọi lỗi lầm đă được xoá sạch” liên quan đến một thực tế là toàn bộ lỗi lầm tham dục v.v…đă được xoá bỏ toàn bộ. Ta gọi người đó là một vị Bà la môn (tam ahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ): người có những ân đức đặc biệt. Người đó là vị Bà la môn theo nghĩa tuyệt đối, ta đă tuyên bố là một thầy Bà la môn. Đến đây ta nên hiểu bản chất đa dạng của giáo pháp cả trong trường hợp này nữa. Cũng giống như cách thức chúng ta đă khẳng định ở trên. Việc chú giải Kinh Phật thứ sáu kết thúc tại đây.
-ooOoo- [1]. Chú giải DA 132 cũng tương tự như vậy. 2. Theo nghĩa đen, là ngôi nhà hay chỗ ở (gaha, tiếng phạn gṛha) của nhà vua (rāja). 3 Cũng như vậy trong chú giải Ce Be Se c̣n về bản văn DA ghi là Mandhātu. 4. Chú giải Vv-a 82 khẳng định rằng, cùng thành phố này có tên là Giribbaja, đă được qui hoạch rất cẩn thận và một nhà thông thái (paṇḍita) tên là Mahāgovinda xây dựng. Ở đây h́nh như cả hai vị Mahāmandhātu và Mahāgovinda đều là vua cả. 5. Chú giải Be giải thích là ādinā’ ettha pakārena (Ce Se ghi là ādinā’ ettha pakārena ca) c̣n bản văn ghi là vuccati. Aññe ’ ettha pakāre, DA aññe ’ettha pakāre (nhưng lại bỏ qua các từ trước đó),với “kha” trong chú thích sau đây. “KhpA” h́nh như Woodward muốn ám chỉ “Dhp-a” 6. Gahabhūtaṃ; gaha ở đây h́nh như thay thế cho từ tiếng Phạn là graha. 7. Bản văn Ce lại chèn thêm naṃ; c̣n chú giải Be Se lại bỏ sót. [2]. Chú giải Ce Be giải thích là vasanaṭṭhānaṃ c̣n bản văn DA ghi là vasantavanaṃ. Se ghi vasanavanaṃ 2. Chú giải Ud-a 246 dưới đây nói về nhiều loại đơn vị đo lường 3. Eva; chú giải Be lại bỏ sót. 4. Nīlobhāsaṃ; nīla có thể mang ư nghĩa là màu xanh đậm, màu xanh đen và màu xanh lá cây. 5. Chú giải Ce Be Se giải thích là Kalandakānaṃ, c̣n bản văn ghi là kalandakaṃ. [3]. Surā; Cp Vv-a 73 lại chia thành năm loại, cũng như năm loại thần linh. 2. Kaṇṇamūle; cũng giống như trong Chú giải Ud-a 317 dưới đây, rất có thể là thùy nhĩ, hay rất có thể là lỗ tai; trong cả hai trường hợp ư nghĩa h́nh như là tiếng th́ thầm. 3. Kāḷaka; có lẽ đây là tên của một số loại sóc khác nhau. 4. Chú giải Ce Be giải thích là abhayaghosañ ca, c̣n bản văn Se ghi là abhayaghosanañ ca; nghĩa đen là một lời công bố không sợ sệt, hay là tính bạo dạn 5. Ce Be Se giải thích là onivāpaṃ c̣n bản văn ghi là nivāpo. [4]. Ngài đă được ban tặng chức thủ lănh những vị nào đang tu luyện đầu đà trong Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 23. Chuyện kể về ngài xuất hiện trong AA i 161tt. 2. Những người khác đều là những ai có định và tuệ (D i 206) đôi khi c̣n kèm theo giải thoát (D ii 122tt); chú giải Vv-a 155 cũng khẳng định tương tự như vậy. 3. Chàng trai Kassapa đă tham gia Tăng Đoàn khi c̣n rất trẻ.Chàng đă lănh nhận nhiệm vụ lănh đạo những vị có năng khiếu ăn nói, A i 24, chuyện kể về ngài cũng xuất hiện trong AA i 283tt. 4. Chú giải Be giải thích là pipPālio xuyên suốt bản văn cũng như các ấn bản tiếng Miến, trong S v 79 có điều không mấy rơ ràng, v́ lư do ǵ ngài Woodward lại cho rằng bản dịch tiếp ngay sau đó, trong KS v 66 lại không chính xác; thay thế “Động Cây Vải” trong VofU 5 n 1,v́ cách giải thích là pipp (h) ali, chứ không phải là pippala. 5. Được xác định trong Ud-a 125 dưới đây; cũng trong chú giải DA 212 về từ này và hai từ tiếp theo sau đó. 6. Be Se giải thích là byādhiko, c̣n bản văn ghi là byādhito. [5]. Chú giải Be Se giải thích là kāyasannissitaṃ, c̣n bản văn Ce ghi là kāyasannissayaṃ; rất có thể là sai nếu ta dịch dukkhito là “lo âu, lo lắng” và đại loại là như vậy, v́ các vị A-la-hán rất chú tâm (chánh niệm) về những đau khổ thân, nhưng không phải lo âu tâm. 2. Vấn đề này không thấy xuất hiện trong danh sách các Parittas Miln 150tt, Vism, 414. A Paritta (pirit Tích Lan (Sinhale)) là một Kinh Phật, tụng lên có thể đem lại an lành đặc biệt. 3. Be giải thích là etad avoca, c̣n bản văn Ce Se ghi là āmantesi.
[6]. Cho dù CPD, sv osāna, h́nh như đă chấp nhận từ paṭikkamosānaṃ và từ abhikkamosānaṃ, đây là những ví dụ điển h́nh về osāna. Ở đây theo cách chú giải SA ii 314 và S iii 120, tôi giải thích paṭikkamosānaṃ là paṭikkamo etāsaṃ; do có những chú thích đối nghịch của Woodward trong KS iii 102 n 2, v 66 n 2 và SA 314 n 2 đă đề cập tuần tự đến cách giải thích từ etāsaṃ, etesaṃ và esānaṃ. 2. Chú giải Be chèn thêm bhante; c̣n Se S v 80 lại bỏ sót. 3. Chú giải toàn bộ Be Se; bản văn Ce lại tinh giảm đi. 4. Chú giải Ce Be Se S v 80 giải thích là bojjhaṅgā; c̣n bản văn ghi là sambojjhange; sự khác biệt giữa từ bojjhaṅga và từ Sambojjhaṅga như thế nào lại không rơ ràng và chỗ này chỗ khác tôi cũng không phân biệt rơ hai từ này trong bản dịch. [7]. Hay tự đắc thủ; chú giải định nghĩa trong Ud-a 156 dưới đây. 2. Saddhivihārikehi; h́nh như từ này để chỉ các đồ đệ của một Bậc đạo sư, chú giải Vin i 45, A iii 69tt và Ud-a 266 dưới đây, có một điều không mấy rơ ràng không hiểu bằng cách nào giờ đây Dhammapāla lại đề cập đến Động Hồ Tiêu, rất có thể đây là một chiếc hang làm nơi trú ẩn như là một thiền viện có rất nhiều các đệ tử trú ngụ. Xin đọc chú giải tiếp theo. [8]. Antarāmagge; thường được hiểu là “lên đường” nhưng ở đây khó ḷng giải thích được, theo bản tường tŕnh trong Udāna, toàn bộ t́nh tiết này kể cả việc vị Trưởng lăo từ chối nhận của bố thí của thần linh h́nh như đă diễn ra trước khi ngài lên đường rời khỏi Động Hồ Tiêu 2. Chú giải Ud-a 281 liên quan đến bài thuyết pháp về bố thí. 3. Chú giải Be Se giải thích là vatvā, c̣n bản văn lại bỏ sót. 4. Chú giải Ce Be Se giải thích là mahābhogā, c̣n bản văn lại ghi là mohābhāgā. [9]. Accharaṃ pahari, cũng có nghĩa là “tấn công mỹ nữ”, mặc dù văn cảnh loại bỏ ư này. Tuy nhiên đây có thể là cách chơi chữ không hoàn toàn có chủ ư. 2. Về những câu hỏi liên quan đến ba chiếc y cà sa. Xin đọc B Disc ii 1 n 2, 32 n 2, 3 và iv 60 n. 1, 2, 3 trong đó có lưu ư đến, có người đang mặc (nivāseti) chiếc áo nivāsanaṃ, hay là bộ đồ lót, ngay duới thắt lưng nhưng lại che phủ toàn thân với y tăng già lê. Tôi dịch từ daḷhaṃ “được cột chặt”, cho dù thật là thú vị lưu ư rằng từ thường dùng trong văn cảnh như vậy phải là gāḷhaṃ (td. Thanh Tịnh Đạo105tt trong đó từ này có nghĩa đối nghịch lại với sithilaṃ tức là (cột lỏng) trong khi đó chính bản thân từ daḷhaṃ lại có nghĩa đối nghịch lại với từ sithilaṃ như trong Dhp 313; liệu cách giải thích nguyên bản phải là gāḷhaṃ chăng? [10]. Vasanavāṭo; chú giải Be giải thích là vasanokāso, Se giải thích là vasanavāso. Chú giải Be Se cũng giải thích là vāso như ở dưới đây, c̣n bản văn Ce ghi là vāṭo. 2. Tantavāya. 3. Chú giải Ce Be Se giải thích là eva c̣n bản văn ghi là evaṃ. [11]. Dīpakaṃ; chú giải Se ghi là vibhāvanaṃ, tức là giải thích. 2. Chú giải chú thích trong Ud-a 167 dưới đây. 3. Ce Be Se giải thích là Khīṇāsavassa tādibhāvānubhāvao c̣n bản văn ghi là khīṇāsavādibhāvānubhāvao 4. Một trong năm pháp kèm theo với tư tương ưng với các đầu đà (dhutaṅga) về vấn đề này ta thấy có trong chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 219. Thanh Tịnh Đạo 81. v.v… 5. Be Se giải thích là ekako ti, c̣n bản văn Ce ghi là ekaposī ti. 6. Chú giải Ce Be Se giải thích là subharataṃ, c̣n bản văn ghi là svācārataṃ ; chú giải Ud-a 204. [12]. Be Se giải thích là yathābhuccaguṇehi ’ eva vā c̣n bản văn ghi là Ce ghi là yathāvuttaguṇehi saṇhatāya ’ eva; chú giải Ud-a 204. 2. Be giải thich là ñātaṃ, c̣n bản văn Ce Se ghi là abhiññātaṃ. 3. Pāpiccho; được định nghĩa trong chú giải Ud-a 227 dưới đây. [13]. Xin đọc chú giải Thanh Tịnh Đạo 160. 2. Ở đây có nghĩa là bốn cách phân loại trong D ii 122tt; chú giải lưu ư trong Ud-a 60 ở trên. |
|