|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
CHƯƠNG SÁUNGƯỜI MÙ BẨM SANH1. THỌ MỆNH [322] Kinh Phật thứ nhất nói về người mù bẩm sanh trích từ chương tái sanh[1]: Trong thành Vesāli (Vesāliyaṃ) v.v… có cùng ư nghĩa như đă khẳng định ở trên[2]. Ngài đă vào thành Vesāli để khất thực (Vesāliṃ piṇḍāya pāvisi) : Ngài đă vào thành khi nào vậy? Vào thời điểm ngài đi vào thành Vesāli[3] sau khi đă rời khỏi thành Ukkācela[4]. V́ sau khi đă trải qua mùa an cư kiết hạ tại ngôi làng Beluva[5], Đức Phật[6] đă rời khỏi ngôi làng đó, và ngài đă kịp thời đi về thành Sāvatthi[7], ngài lưu lại tại cánh rừng Jeta. Và vào thời điểm đó, sau khi đă thấy rơ[8] thọ mệnh của chính ḿnh và biết rơ thọ mệnh đó c̣n kéo dài được bảy ngày nữa, vị tướng quân chánh pháp[9] liền đến thỉnh cầu Đức Phật cho phép ḿnh đến ngôi làng Nālaka, và tại đó ngài đă khiến cho mẹ tướng quân chánh pháp được chứng đắc thánh quả nhập lưu, và rồi ngài chứng đắc vô dư níp bàn.[10] Vị đạo sư đă tiếp nhận xá lợi (di cốt) của ngài, do Cunda mang đến, và truyền cho xây một điện thờ để lưu giữ xá lợi đó, và rồi vây quanh ngài là một Tăng đoàn đông đảo các vị Tỳ khưu, Đức Phật đă đi vào thành Rājagaha. Vào thời điểm ngài đi vào thành đó đă xảy ra biến cố, đó là ngài Trưởng lăo Mahāmoggallāna cũng chứng đắc vô dư níp bàn. Đức Phật cũng tiếp nhận xá lợi (hài cốt) của ngài và truyền cho xây một điện thờ để lưu giữ xá lợi của vị Trưởng lăo, sau khi rời khỏi thành Rājagaha, theo đúng thời gian đă định ngài đă đi vào thành Ukkācela. Và tại đó cũng có một Tăng đoàn gồm đông đảo các vị Tỳ khưu đi theo Ngài, Ngài ngồi trên bờ sông Hằng diễn giải Phật Pháp[11] kết hợp với giải thích về việc hai tối thượng thinh văn[12] của Ngài đă vô dư Níp Bàn, rồi Ngài cũng rời khỏi thành Ukkācela, và hướng về phía thành Vesāli; chính v́ ngài đă lên đường như vậy có lời nói rằng, “Sau khi đă diễn giải Phật Pháp vào dịp đặc biệt trong suốt buổi sáng, Ngài đă lấy bát khất thực và đắp y cà sa, Ngài đă vào thành Vesāli để khất thực.”, v́ lư do đó cũng có lời nói[13] rằng “vào thời điểm Ngài đi vào thành Vesāli sau khi rời khỏi thành Ukkācela”. Ngài đă ngồi trên vật ǵ đó (nisīdanaṃ): trong trường hợp này điều muốn ám chỉ ở đây là một miếng da[14]. Điện Thờ Cāpāla (Cāpālaṃ cetiyaṃ [15]): là nơi trước đó đă có một dạ xoa tên là Cāpāla lưu trú tại đó [323] là nơi rất nổi tiếng với tên gọi là “Điện Thờ Cāpāla”, sau đó cũng có một thiền viện được xây dựng trên phần đất này dành cho Đức Phật, và cũng có tên gọi là “Điện Thờ Cāpāla”. Đây cũng chính là phương pháp liên quan đến những (đoạn văn) bắt đầu với cụm từ “Điện Thờ Udena”v.v… Sattamba (Sattambaṃ): người ta đề cập đến địa điểm đó cho là có bảy công chúa do hoàng hậu Kiki sanh ra, Kiki là vua xứ Kāsi, bảy công chúa đó đă cố gắng thoát ra khỏi cuộc sống hoàng cung[16], sau khi đă cảm thấy dao động tâm trước cảnh điện thờ Sattamba. Cây “Bahuputta”, có một số cây đă có rất nhiều lộc mới; có rất đông (bahū) người thường đến đây để cầu lộc để được sanh con trai (putte) với các chư thiên (devatā) đang cư trú tại đó, do vậy mà nơi này trở nên nổi tiếng với tên gọi là “điện thờ Bahuputta”[17]. “Sārandata”[18] là nơi có một dạ xoa tên là Sārandata[19] cư trú tại đó. Chính v́ thế toàn bộ những địa danh này, không loại trừ bất kỳ nơi nào đều ám chỉ rơ đó là các “điện thờ” (Tháp) (cetiya), liên quan đến một thực chất là toàn bộ những địa điểm này, trước ngày Đức Phật xuất hiện đều do các Chư thiên[20] chiếm lănh; trong khi đó các thiền viện được xây dựng (tại những địa điểm như vậy) dành cho Đức Phật đều chỉ dùng làm tên phụ mà thôi.[21]Khoái cảm (ramaṇīyā [22]): về việc này, trước tiên bản chất thích thú nơi thành Vesāli, ta nên hiểu là do đặc tính tuyệt hảo của nơi đó trên thế gian này, liên quan đến bản chất tuyệt vời của chúng sanh nơi vùng đó, và có một thực tế là ta có thể dễ dàng kiếm được các đồ khất thực thiết yếu tại đó. Trong khi đó bản chất thú khoái cảm nơi các thiền viện này phải được coi như là do không quá xa cũng như không quá gần với thành phố, đối với tính tuyệt vời do các cuộc hành tŕnh tới lui thành phố đó, và c̣n liên quan đến một thực chất khác nữa đó là các thiền viện này đă trở thành những địa điểm cống hiến cho việc lưu lại tại thiền viện không quá đông đúc có bóng cây mát và nước đầy đủ, và việc những địa danh này có thể tạo được cuộc sống ẩn dật thích hợp. Tứ như ư túc (thần túc) (cattāro iddhipādā): về việc này, ư nghĩa của từ “thần lực (như ư)”[23] (iddhi) giống như những ǵ ta đă khẳng định ở trên[24]. Đă tu luyện: đă phát triển. Thường xuyên thực hiện (bahulīkatā): liên tục thực hiện những điều này tạo thành một cổ xe[25] (chuyển luân) (yānīkatā): biến thành một cổ xe đă được thắng yên cương[26]. Biến thành nền tảng (vatthukatā): biến chúng trở thành giống như một nền tảng hiểu theo nghĩa một sở duyên[27]. Vận dụng chúng (anuṭṭhitā): giải quyết chúng trở thành (như thế nọ thế kia) (adhiṭṭhitā). Xây dựng lên xung quanh ngài (paricitā): kiến tạo chúng (citā) vây quanh tứ phía (samantato)[28], phát triển chúng toàn bộ. Đảm trách toàn bộ: susamāraddhā = suṭṭhu samāraddhā (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài): đă hoàn tất[29] các việc đó một cách xuyên suốt. Sau khi đă nói về những (sự việc đó như vậy) không liên quan ǵ đến bất kỳ cá nhân nào, một lần nữa ngài nói thêm “Vị Như Lai” v.v…, giải thích rơ[30] (những sự việc như vậy) (liên quan đến một cá nhân rơ ràng) và về điểm này “trong ṿng một kappa” (kappaṃ) chính là đối với một kappa (hiểu theo nghĩa) một kiếp người (āyukappaṃ). Có thể tồn tại (tiṭṭheyya): vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục sống, làm trọn vẹn[31] bất luận điều ǵ thuộc phạm vi cuộc sống dành cho chúng sanh ở vào khoảng thời gian[32] nhất định nào đó. Hay đối với những ǵ c̣n sót lại sau một kappa[33] (kappāvasesaṃ vā): hay đối với điều ǵ đó vượt quá giới hạn một trăm năm được đề cập đến như thể là (đối với một trăm năm) hay hơn một chút”[34](D ii 4; S i 108). Tuy nhiên Trưởng lăo Mahāsīva có nói rằng: “Tuy vậy, về phía Chư Phật liên quan đến những ǵ không có khả năng diễn ra[35] th́ chẳng được công bố[36] bao giờ; chính v́ chỉ sau khi Ngài đă trấn áp cảm thọ trong ṿng mười tháng đă xuất hiện trong ngôi làng nhỏ Beluva và người ta đă chứng minh đó là điều không tránh khỏi,[37] chính v́ thế Ngài cũng có thể, bằng cách chế ngự cùng những điều đó[38] bằng cách liên tục chứng đắc thiền chứng đó[39] tồn tại trong suốt một kappa[40] này. [324] Chính v́ thế v́ lư do ǵ ngài đă lưu lại? (đó chính là v́) điều đă được đề cập đến như là thành do thủ (tạo nghiệp chướng) cho thân [41] một khi đă được khắc phục[42] bằng những (cảnh tàn phá) do gẫy răng v.v… đem lại[43]; và hơn thế nữa (chính v́ [44]) Chư Phật đă chứng đắc vô dư Níp Bàn ngay trong giai đoạn thứ năm[45] của thọ mệnh (lifepan) trong khoảng thời gian các Ngài vẫn c̣n rất được yêu mến và kính trọng đối với nhiều chúng sanh. Trước khi họ đạt được một nguyên nhân trong đó họ đă gẫy răng v.v…v́ một khi các tối thượng thinh văn[46] sau khi đă giác ngộ do chính Đức Phật[47] giảng dạy, đă chứng đắc vô dư níp bàn th́ Ngài có thể được lưu lại một ḿnh[48] không có đoàn tuỳ tùng đi theo, hay chỉ với một đoàn tuỳ tùng gồm toàn các Sa-di trẻ mà thôi, sau đó Ngài có thể than oán về sự sa đọa giả dụ như “Ôi khổ quá! liệu đây là Tăng đoàn của Chư Phật chăng?” Chính v́ thế Ngài đă không lưu lại. Tuy nhiên ngay cả khi nói như vậy; điều này cũng không thể chứng minh[49] chỉ có điều đó đă diễn ra mà thôi, tức là,“một kappa (hiểu theo nghĩa) một kiếp người có được”, đây chính là điều dứt khoát của tập chú giải. Một cách nh́n thô thiển[50](oḷārike nimitte): đây là điều đă chắc chắn tạo cho tầm xuất hiện, v́ điều chắc chắn này có nghĩa là làm cho trí nổi lên; v́ điều chắc chắn này cũng có nghĩa là tạo điều kiện cho trí nổi lên có mục tiêu khiến cho người ta nài nỉ[51]ngài lưu lại trong suốt một kappa[52], nói rằng, “Mong rằng Đức Phật lưu lại trong suốt một kappa” – có nghĩa đây là cách giải thích mang tính cách đặc trưng[53] thuộc chính khả năng Ngài có thể lưu lại trong suốt một kappa, như là một kết quả của uy lực liên kết với việc tu luyện tứ như ư túc của chính ngài. Bằng một lời tuyên bố bắt đầu như sau, “Hỡi trưởng lăo Ānanda, bất kỳ ai đă tu luyện tứ như ư túc được viên măn.” Cho thấy (obhase[54]): một lời tuyên bố chính thức; và lời tuyên bố này được chính thức công bố, lại là một cách giải thích thẳng thắn về kỳ vọng của Ngài, không nhất thiết cần tới một bài diễn giải[55] ṿng vo[56] đến như vậy. Đối với[57] hạnh phúc chúng sanh (bahujanahitāya): v́ mục tiêu đem lại hạnh phúc cho chúng sanh[58]. Xuất phát từ ḷng thương xót thế gian này (lokānukampāya): thông qua[59] ḷng bi mẫn đối với cơi nhân loại này. Đối với cơi chúng sanh đặc biệt nào vậy? Đối với cơi dục giới[60], vừa khi nghe lời thuyết pháp của Đức Phật, họ đă quán triệt[61] giáo Pháp đó, đă được tận hưởng thức uống bất tử đó[62]; v́ đối với[63] mười tám kotis vị Phạm thiên, có trưởng lăo Aññākoṇḍañña[64], đă quán triệt được Phật Pháp trong khi Đức Phật diễn giải về kinh Dhammacakkappavattanasutta[65]- và cũng như vậy cho đến khi việc thuyết giảng ngài dành cho du sĩ Subhadda[66], chẳng có việc liệt kê các chúng sanh trong thời gian đó đă thấu triệt được Phật Pháp như thế nào, chẳng có bất kỳ giới hạn đối với chúng sanh nào đă thấu triệt Phật Pháp vào thời điểm ngài diễn giải bốn Kinh Phật[67] này, tức là: Kinh Mahāsamayasutta (D ii 235tt), Kinh Maṅgalasutta (Khp 2tt=Sn tr. 46tt), Kinh Cūḷa-Rāhulovādasutta (Trung Bộ Kinh (M) iii 277tt) và Kinh Samacittasutta (Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 64tt), c̣n tồn tại (trong ṿng luân hồi và Đức Phật đă diễn ra[68] do ḷng bi mẫn đối với Tam giới này thật vô lượng. Ngài[69] đề cập đến vấn đề này ám chỉ rằng trong tương lai cũng sẽ như vậy. Cả các chư thiên cũng như chúng sanh (devamanussānaṃ): không chỉ dành riêng cho chư thiên và các chúng sanh mà thôi; (v́) việc tồn tại (nơi ṿng luân hồi) và Đức Phật c̣n nhằm đem lại lợi ích, hạnh phúc và sung sướng cho cả những thành phần c̣n lại nữa, như thể long vương (nāgas) và các supaṇṇas nữa v.v…Tuy nhiên, người ta cũng khẳng định như vậy nhằm làm rơ những chúng sanh đó có liên quan đến tâm tái tục hữu nhân[70]có khả năng thành tựu thánh đạo và thánh quả, có ư nghĩa như sau,“Mong rằng Đức Phật cũng lưu lại nhằm đem lại lợi ích cho tha nhân khác nữa; v́ từ tâm của ngài là muốn đem lại hạnh phúc cho họ nữa”. Về điểm này: “Nhằm đem lại lợi ích (atthāya): nhằm đem lại những điều tuyệt hảo trên thế gian này. [325] Nhằm đem lại hạnh phúc (hitāya): nhằm đem lại hạnh phúc tạo thành nhân duyên cho những điều tuyệt hảo nơi kiếp sau. Nhằm đem lại an vui (sukhāya): v́ niềm an vui tạo thành níp bàn điều vừa đề cập đến trước đó bao gồm cả hạnh phúc và sung sướng, tuy nhiên ta nên hiểu đây là điều hạnh phúc thông thường, tuy nhiên ta cũng nên hiểu rằng niềm hạnh phúc này là chung cho hết thảy mọi chúng sanh. V́[71] tâm người nào do ma vương khống chế (yathā taṃ Mārena pariyuṭṭhitacitto): về vấn đề này, taṃ (không được dịch) nhưng chỉ là một tiểu từ mà thôi. Ư nghĩa ở đây là chính v́ bất cứ người phàm tục nào có tâm đă bị che lấp, có tâm đă bị ma vương tràn ngập, đều không có khả năng thấu triệt cùng một pháp đó. Như vậy chính người đó cũng chẳng quán triệt được cùng một sự việc như vậy; v́ ma vương đă ngăn cản tâm của người nào với bất kỳ điên đảo nào, ngược lại chẳng cần nói đến bất kỳ điều ǵ người nào đă diệt trừ được hết mười hai loại điên đảo[72]. Nhưng đối với vị Trưởng lăo bốn điều điên đảo[73] vẫn cần được diệt trừ, do kết quả đó ngài đă điều phục tâm của ḿnh; nhưng vị đó sẽ làm được ǵ khi chế ngự tâm ḿnh; vị đó tạo cho chúng sanh nhận ra cảnh sắc hay nghe được một cảnh thinh, lại tỏ ra khiếp sợ[74] sau khi vừa nh́n thấy cùng một đối tượng đó hay nghe được cùng một tiếng động đó, họ đă từ bỏ chánh niệm và trở thành người nói huyên thuyên; thế rồi tạo cho bàn tay của ḿnh nhập vào trưởng lăo thông qua lời nói của ḿnh và lại xoa dịu tâm của ḿnh; sau đó lại tầm các pháp một cách sai lầm.[75] Nhưng làm thế nào để có thể lấy tay thâm nhập vào người vị trưởng lăo thông qua lời nói của ḿnh? Bằng cách cho người đó nh́n xem cảnh khủng khiếp sợ hăi, vừa nh́n thấy điều vị trưởng lăo không thể quán triệt được tướng và h́nh thức bên ngoài đó; nhưng với mục đích ǵ đó đă ư thức đầy đủ vấn đề này, mà Đức Phật vẫn hỏi ngài ngay cả đến ba lần liên tiếp? Với mục đích xua tan buồn khổ của ngài bằng cách chỉ tội nơi ngài nói rằng, “việc làm sai trái này chỉ thuộc về một ḿnh ngài mà thôi; việc lỗi phạm này chỉ thuộc một ḿnh ngài mà thôi.”, sau đó[76] khi được ngài yêu cầu nói rằng, “bạch Đức Thế Tôn, xin ngài hăy nán lại.” v́ Đức Phật cho rằng, “tâm của con người này đă tỏ ra kính mến ta vô cùng; sau này người này, cũng nghe được lư do đất rung chuyển[77] và từ bỏ thọ hành, đă cầu khẩn ta lưu lại trong một thời gian dài hơn và thế là ta sẽ chỉ phê phán lên một ḿnh ngài mà thôi, nói rằng, “Tại sao theo cùng một cách khi có liên quan đến lỗi lầm chỉ liên quan đến chính ngài, th́ nỗi buồn khổ lại v́ thế mà trở nên giảm bớt đi[78]”[79] Hỡi trưởng lăo Ānanda, nhà ngươi có thể ra đi (gaccha tvaṃ Ānanda): v́ nhà ngươi đến đây để có những ngày nghỉ ngơi, chính v́ thế, hỡi trưởng lăo Ānanda nhà ngươi có thể ra đi, để có được những ngày nghỉ ngơi ở bất kỳ nơi nào nhà ngươi cảm thấy tốt, chính cùng một lư do đó ngài nói “và làm bất kỳ điều ǵ nhà ngươi cho rằng đó là thời gian dành cho nhà ngươi.” Ma Vương, một gă quỷ quyệt (Māro Pāpimā): về vấn đề này, hắn là ma vương (Māro) v́, đang khi kích động chúng sanh (để làm) những ǵ gây thiệt hại cho họ, th́ nhà ngươi đă sát hại họ (māreti) vậy. “Người xảo trá” cũng là một từ đồng nghĩa với chính từ này, v́ người ta gọi là “người quỉ quyệt” (Pāpimā) liên quan đến một thực chất là người đó được phú bẩm với bản chất bất thiện[80](pāpa). Hơn thế nữa, điều này đă được công bố rằng (bhāsitā kho ’ esā): v́, khi Đức Phật đang lưu lại ngay dưới gốc cây bồ đề,[81]sau khi ngài đă trải qua bảy lần trong bảy ngày tại Bồ đề đạo tràng Bodhimaṇḍa[82], [326] và sau khi chính những cô con gái của ma vương cũng đă tới đó, sau khi đă ra đi với những cám dỗ hoàn toàn thất vọng, người chăn cừu này đă tới đó và nói, tin rằng điều đó sẽ chỉ là những phương tiện, “bạch Đức Thế Tôn, giờ đây Ngài đă đạt được đại nguyện, liên quan đến việc ngài đă tṛn đủ Balamật; Ngài đă thấu triệt trí toàn tri, điều ǵ đă khiến Ngài c̣n phải rong ruổi trên thế gian[83] này làm chi?” và rồi chàng yêu cầu Ngài, theo chính những cách Ngài đă thành tựu ngày hôm nay, nói rằng, “Giờ đây mong rằng Đức Thế Tôn hăy nhập vô dư níp bàn!” và Đức Phật đă chối bỏ người đó nói rằng, “Ta sẽ chẳng nhập diệt (vô dư níp bàn, hỡi người xảo quyệt kia) chừng nào mà” v.v… chính v́ vấn đề này Ngài đă nói tiếp mà rằng, “Hơn thế nữa điều đă được công bố[84]” v.v… Về điểm này: Những người nào đă làm rơ vấn đề: viyattā = byattā (một dạng ngữ pháp khác) bằng cách chứng đắc Thánh đạo. Được hướng dẫn (vinītā): bằng cách thoát khỏi các phiền năo[85] bằng cùng một cách như vậy. Tin tầm (visāradā): đă đạt đến pháp tin tầm bằng cách diệt trừ những tà kiến và hoài nghi v.v…[86] là những ǵ tạo ra bất tín.[87] Những người nào đă lắng nghe rất nhiều (bahussutā) v́ lắng nghe (sutaṃ) nhiều (bahuṃ) thông qua Tam Tạng; họ là những người “mang Phật Pháp” (dhammadharā) chính v́ Phật Pháp (dhammaṃ) đó là điều họ đang ấp ủ (dhārenti) trong tâm . Hay nói cách khác, về vấn đề này, ư nghĩa cũng được hiểu như sau: Người nào đă được nghe nhiều đến như vậy (bahussutā): những người nào đă được nghe nhiều đến những ǵ có liên quan đến bản văn cũng như người nào đă được nghe nhiều những ǵ liên quan[88] đến thấu triệt; người mang Phật Pháp (Dhammadharā) họ là những người “mang Phật Pháp” liên quan đến vấn đề, họ mang những ǵ (dhammānaṃ) liên kết đến các bản văn cũng như những ǵ (dhammānaṃ) liên kết với việc quán triệt. Người nào đang tu luyện một pháp phù hợp với Phật Pháp của Đức Phật (Dhammānudhammapaṭipannā): những người đó đang tu luyện một pháp môn dưới dạng thiền minh sát đó là một loại pháp môn phù hợp với[89] Phật Pháp của các bậc thánh nhân.[90] Người nào đang tu luyện chánh hạnh (sāmīcipaṭipannā): những người đó đang tu luyện một qui tŕnh thanh tịnh liên tục thích hợp với việc tu luyện tri kiến[91]. Những hành tùy pháp (anudhammacārino): Những người đó đang theo đuổi, trong việc khổ hạnh.[92] Phật Pháp đó liên quan đến đặc tính thiểu dục v.v…[93] tỏ ra phù hợp với qui tŕnh đă nói đến ở trên. Điều đó thuộc về đạo sư của họ (sakaṃ ācariyakaṃ) đó là học thuyết của chính đạo sư của họ[94]. Có thể thiết lập mối tương quan (ācikkhissanti)[95]: có thể diễn giải về điều đó ngay từ lúc đầu, ư nghĩa là có thể tạo cho người khác chấp nhận học thuyết đạo sư của ḿnh theo cùng một cách chính họ đă chấp nhận chúng. Diễn giải (desessanti): nhắc lại cho người khác nghe, ư nghĩa ở đây là làm cho người khác có thể lặp lại được Kinh pāli một cách thích hợp[96]. Truyền bá cho người khác biết : paññāpessanti = pajānāpessanti [97] (một h́nh thức ngữ pháp khác), ư nghĩa ở đây là làm cho được phổ biến[98]. Thiết lập (paṭthapessanti): sắp đặt cách này cách khác[99]. Tiết lộ (vivarissanti): đem lại việc tiết lộ nào đó. Phân loại (vibhajissanti): đem lại cách sắp xếp phân loại nào đó. Làm sáng tỏ (uttānikarissanti): làm rơ, công bố cho mọi người biết, điều ǵ chưa được rơ ràng, điều ǵ cao siêu[100]. Với lư do (saha dhammena) với một lời tuyên bố bao gồm nguyên nhân và lư lẽ[101]. Đi kèm với các phép thần thông (sappāṭihāriyaṃ): xuất phát từ khởi điểm tạo giải thoát khỏi ṿng luân hồi. Để diễn giải Phật Pháp (dhammaṃ desessanti): tạo cho tha nhân giác ngộ trước chín pháp siêu thế.[102] có nghĩa là khiến các Pháp này thể hiện ra và liên quan đến vấn đề này, bằng sáu từ bắt đầu với từ paññāpessanti (khiến thể hiện) ư nghĩa của sáu từ đó[103] được làm rơ trong khi đó thông qua hai từ vào lúc ban đầu[104] sáu từ được h́nh thành; chính v́ thế, ngay tại điểm này có cho thấy được gộp lại bằng các hướng dẫn chú giải khác nữa, toàn bộ lời Đức Phật đều thuộc Tam Tạng[105], v́ điều này đă được khẳng định trong tác phẩm Netti: [327] “Có mười hai từ tượng trưng cho các Kinh Phật, bao gồm toàn bộ các h́nh thức và ư nghĩa trong đó…” Nett 1) Cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) : toàn bộ cuộc sống phạm hạnh đó chính là giáo lư của Đức Phật bao gồm trong tam học[106]. Như ư (iddhaṃ): thành tựu (samiddhaṃ), bằng cách khởi sanh[107] thiền jhānas. Thể hiện sự phát triển.(phītaṃ): đạt được tiến bộ, triển nở toàn diện, bằng cách chứng đắc các phép thần thông (abhiññās). Lan rộng khắp (vitthārikaṃ): lan rộng khắp nơi (vitthataṃ) thông qua việc thiết lập[108] ở nơi này nơi khác. Nhiều người có khả năng biết được (bāhujaññaṃ): được biết đến (ñātaṃ), được thấu triệt, thông qua nhiều người đă thấu triệt được (bahujana)[109]. Trở thành lan rộng (puthubhūtaṃ): đạt đến pháp phát triển phát tán (puthulabhāva [110]) thông qua đủ mọi h́nh thức đa dạng. Bằng cách nào vậy? Do cả chư thiên lẫn chúng sanh đă biết đến phù hợp với thực chất (yāva devamanussehi suppakāsitaṃ) ư nghĩa đă được thể hiện một cách thích hợp tới mức độ cả các chư thiên lẫn chúng sanh có trí phát sanh nữa (suṭṭhu pakāsitaṃ, thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) do toàn bộ những điều này. Một chút nhiệt t́nh (appossukko): thiếu nhiệt t́nh, không đáng tin cậy (vào,[111] Ngài nói rằng, “Hỡi người thiếu nhiệt tâm, v́ nhà ngươi đă quá bận tâm đến niềm vui chiến thắng ‘mong rằng Đức Phật giờ đây chứng đắc vô dư níp bàn!” kể từ thời gian ta trải qua bảy lần trong ṿng bảy ngày tại Bồ đề đạo tràng (Bodhimaṇḍa)[112].Giờ đây, kể từ lúc này trở đi, hăy từ bỏ mọi ư định đó đi, đừng bao giờ cố gắng phấn đấu nhằm đạt đến vô dư níp bàn của ta nữa.” Chánh niệm, tỉnh giác, diệt trừ các thọ hành (sato sampajāno āyusaṅkhāraṃ ossaji [113]): biến chánh niệm hiện hữu đầy đủ trước mặt ḿnh, cộng với Phật trí[114], để xác lập ranh giới phân định rơ ràng), đẩy lùi, diệt trừ các thọ hành. Về điểm này, chẳng phải trường hợp Đức Phật từ bỏ các thọ hành như thể vứt một cục đất trong tay ngài đâu; nhưng mà[115] Ngài khiến khởi sanh tâm ngài có thể chứng đắc điều đó chỉ trong ṿng ba tháng và không thể chứng đắc điều đó vượt quá thời gian vừa kể; chính liên quan đến điểm này mà từ “diệt trừ” (ossaji) được đề cập đến, ussajji[116] cũng là một cách giải thích. Nhưng v́ lư do ǵ trong khi Đức Phật có thể tồn tại trong khoảng thời gian một kiếp trái đất, hay v́ lư do ǵ Ngài vẫn tồn tại sau một kiếp trái đất, lại lưu lại trong khoảng thời gian quá ngắn ngủi đến như vậy, và rồi do lời thỉnh cầu của Ma vương lại muốn Ngài đạt đến vô dư níp bàn, từ bỏ các thọ hành? Chẳng phải trường hợp do từ bỏ thọ hành của Ngài là do lời thỉnh cầu của ma vương chăng? Cũng chẳng phải do kết quả của lời thỉnh cầu[117] của vị trưởng lăo, người sau này cũng từ bỏ như vậy, - song Ngài đă từ bỏ thọ hành của ngài là do sau ba tháng đó, vẫn không thấy xuất hiện những người có khả năng lănh đạo. [328] v́ Đức Phật chỉ tồn tại trong phạm vi thời gian có nhu cầu hướng dẫn chúng sanh có khả năng đón nhận sự tế độ của Ngài mà thôi; khi không thấy họ có khả năng chịu sự lănh đạo[118] của ngài. Thực vậy v́ lư do ǵ các ngài phải tiếp tục tồn tại đây? Nếu như[119] ngài phải chứng đắc vô dư níp bàn do kết quả lời thỉnh cầu của Ma vương ắt hẳn ngài đă nhập vô dư níp bàn trước đó lâu rồi; v́ thực chất đó đă được khẳng định[120] trước đó là chính ma vuơng đă thỉnh cầu ngài tại Bodhimaṇḍa và Ngài đă nêu ra và cho thấy việc đó, cả hai việc này chỉ nhằm diệt trừ các sầu khổ cho vị trưởng lăo mà thôi; trong khi đó việc ngài ra hiệu và chứng tỏ điều đó chỉ nhằm mục đích làm rơ sức mạnh nơi Chư Phật mà thôi, v́ chính Chư Phật này, có được thần lực to lớn như vậy, trong khi chỉ lưu lại phù hợp với chính những thọ kư của Ngài mà thôi, cũng như các ngài, đang khi thành tựu vô dư níp bàn, cũng chỉ làm điều đó phù hợp với chính (hạnh nguyện) của các Ngài mà thôi. Một chấn động lớn (mahābhūmicālo): trái đất rung chuyển kinh hoàng, người ta kể lại rằng vào thời gian đó đă diễn ra một chấn động nơi mười ngàn cơi ta bà thế giới. Khủng khiếp (bhiṃsanako): tạo ra sợ hăi. Trong khi đó tiếng trống thiên cung trổi lên liên tục (devadundubhiyo ca phaliṃsu): những chiếc trống định âm thiên cung vang rền, các vị chư thiên cũng tạo ra những tiếng ầm vang khắp nơi, và những tia chớp sáng loé liên tục phát ra khắp trên không trung, những trận mưa liên hồi đổ xuống đó là những ǵ cần nói tới. Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm định lại dưới mọi h́nh thức, vấn đề này được coi như là việc phân định giữa một bên là có các hành hữu vi c̣n bên kia th́ vô vi[121]. Tập Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): khiến khởi sanh tập Phật Tự Thuyết này để làm sáng tỏ chính việc ngài đạt tới vô vi sau khi đă diệt trừ toàn bộ các hành không dư sót điều ǵ. V́ lư do ǵ ngài đă tạo ra Phật Tự Thuyết này?[122] Một số giả thuyết có thể cho rằng sau khi đă bị Ma vương theo đuổi đến cùng việc ngài “chứng đắc vô dư níp bàn”, “Mong rằng Đức Phật nhập vô dư níp bàn”[123] chính Đức Phật đă phủ nhận[124] các thọ hành của ngài do sợ hăi. (Nhưng) ta thấy được khẳng định trong các tập chú giải cho rằng ngài đă khiến khởi sanh tập Phật Tự Thuyết này, ngài đă tỏ ra vui mừng phấn khởi, với mục đích làm sáng tỏ cho hắn[125] biết một thực chất là hắn chẳng bao giờ có cơ hội như vậy, chẳng có bất kỳ Phật Tự Thuyết lại khởi sanh do sợ hăi đâu, ngài đă trước đó không lâu, gánh nặng đau khổ mà ngài đă phải mang theo trong một thời gian dài như vậy có thể được diệt trừ. Liên quan đến những nhiệm vụ của ngài là một Đức Phật[126] sau khi đă hoàn tất trong ṿng ba tháng, đă nổi lên nơi ngài, sau khi đă quán xét lại những ân đức vô dư níp bàn một niềm vui to lớn và phỉ lạc luôn là điều phù hợp với những ǵ ngài đă làm khởi sanh nơi tập Phật Tự Thuyết đó, là kết quả một niềm vui to lớn.[127] Chỉ nhằm phục vụ hạnh phúc cho chúng sanh mà vị đạo sư đă, (cho dù) có chiều hướng thiên về vô vi (do dù) đă được thành tựu về níp bàn, ngài vẫn lưu lại[128], hầu như dưới sự thúc bách[129], xuất phát từ ḷng từ tâm to lớn trong một khoảng thời gian dài nơi kiếp này, thí dụ như, ngài đă có thể sử dụng thiền chứng lên tới hai mươi tư trăm ngàn kotis[130]; nhưng giờ đây với tâm hướng về níp bàn chỉ nhằm phục vụ[131] bằng cách thể hiện ḷng từ tâm to lớn của ngài đă được hoàn thiện, ngài đă cảm nghiệm được niềm vui to lớn và phỉ lạc. [329] V́ vào ngày, Ngài đắc chứng phiền năo níp bàn, cũng như vào ngày Ngài đắc ngũ uẩn níp bàn, thân xác của ngài đă toả sáng, cũng chính v́ lư do đó Ngài đă toát ra luồng sáng thanh thản, hoàn toàn thanh tịnh và toả sáng chói chan khắp nơi. V́[132] liên quan đến đoạn kệ “có sự so sánh”(tulaṃ) v́ được so sánh với (tulitaṃ), được ghi chép lại, do trước tiên điều đó đă được thể hiện cho toàn bộ chúng sanh[133], ngay cả[134] thể hiện cho đồ khuyển và chó rừng v.v… chính do nghiệp chướng đó liên kết với cơi dục giới. Chính do thiếu “so sánh”(atulaṃ); v́ đó chẳng phải là điều “đă được so sánh” (na tulaṃ); hay nói cách khác, chính do “thiếu so sánh”(atulaṃ) v́ chẳng có nghiệp chướng hiệp thế nào có thể sánh được (tulaṃ) với điều đó cả, tương tự như vậy[135], đó là nghiệp chướng liên kết với đáo đại[136]. Nếu không,“điều được so sánh”(tulaṃ) chính là cơi dục giới[137]và cơi sắc giới, là những ǵ “không thể so sánh được”(atulaṃ) với cơi vô sắc giới. Hay c̣n nữa, những ǵ “được so sánh”(tulaṃ) chính là điều mang ít dị thục, những ǵ “thiếu so sánh” (atulaṃ) chính là những ǵ mang dị thục dồi dào. Việc tạo thành (sambhavaṃ): việc tạo ra nhân duyên cho việc tạo thành, có nghĩa là tạo khởi sanh. Các hữu hành (bhavasaṅkhāraṃ): điều tạo hữu hành tiếp theo. Được diệt trừ (avassaji): bị triệt tiêu. Vị hiền triết (muni): chính là Mâu-ni Phật[138]. Sung sướng phấn khởi trong tâm (ajjhattarato): hạnh phúc phỉ lạc nội bên trong những ǵ thuộc sở hữu của ta[139]. Nhập định (samāhito). Nhập định thông qua cận hành định hay an chỉ định [140]. Ngài xé nát ra, giống như chiếc giáp bào: abhindi kavacam iva = kavacaṃ viya bhindī [141] (một dạng ngữ pháp khác). Tự phát sanh (attasambhavaṃ): phiền năo tự xuất hiện bên trong chính ḿnh; đây là điều được đề cập đến: ngài đă bác bỏ những ǵ so sánh được và những ǵ không thể, được gọi là nghiệp chướng thế gian, và đă được gán cho tên gọi là “tự phát sanh” hiểu theo nghĩa mang dị thục và “các hữu hành” hiểu theo nghĩa tạo ra các hành giúp tái sanh[142] xuất hiện; sau khi đă trở nên khoái cảm trong tâm, đă nhập định, ngài đă phá tan ra thành từng mảnh việc tự tạo thành và các phiền năo, giống như một chiến binh vĩ đại vào đỉnh điểm cuộc chiến phải mang chiến bào vậy. Hay nói cách khác, khi ngài so sánh: tulaṃ = tūlento (một dạng ngữ pháp khác), khi ngài phân xử. Điều thiếu so sánh và phát sanh (atulañ ca sambhavaṃ [143]): cả níp bàn lẫn tái sanh. Các hữu hành (bhavasaṅkhāraṃ |