NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7. TẠI PĀVĀ

Trong Kinh Phật thứ bảy[1] tại Pāvā2 (Pāvāya): Tại thành phố của nhà vua Malla có tên như vậy. Tại ngôi chùa Ajakalāpaka (Ajakalāpake cetiye): ở một địa phương người ta cho rằng có rất nhiều3 chúng sanh mang tên “Ajakalāpaka4 liên quan đến một thực tế là có một dạ xoa tên là Ajakalāpaka đă chiếm. [64] người ta nói rằng dạ xoa đó chỉ chấp nhận của cúng (với một điều kiện duy nhất) là của cúng đó phải đi kèm theo với một gói[2], với những con dê làm một phần đồ cúng đó. Sau khi dê (aje) đă được cột lại thành chùm (kalāpe katvā)2  và không thể khác được; kết quả là dạ xoa đó trở thành nổi tiếng với tên là “Ajakalāpaka”. Tuy nhiên một số người lại cho rằng3 dạ xoa đó có tên gọi là “Ajakalāpaka” v́ dạ xoa đó có khả năng khiến cho chúng sanh la be be (lāpeti) giống như những con dê non (ajake4) vậy; người ta kể lại rằng khi chúng sanh dâng cúng lễ cho dạ xoa, dạ xoa tỏ ra rất hài ḷng mỗi khi họ có thể thốt ra tiếng dê kêu khi họ dâng cúng5 của lễ đó; kết quả là dạ xoa có tên gọi là “Ajakalāpaka”. Hơn nữa, dạ xoa đó, lại có uy lực, rất dữ tợn, và thô bạo. Đă được chỉ định trấn giữ [3] tại đó, kết quả là bất kỳ chúng sanh nào đến kính lễ2 tại địa điểm đó, phải liên tục3 dâng cúng lễ vật, v́ lư do đó người ta nói rằng “Ngay tại ngôi chùa Ajakalāpaka”, nội bên trong cơi Dạ xoa Ajakalāpaka (Ajakalāpakassa yakkhassa bhavane): nội bên trong vimāna4 dạ xoa đó. Người ta kể lại rằng Bậc đạo sư, v́ muốn thuần hóa dạ xoa đó, vào một thời điểm thuận tiện đă ra đi một ḿnh, không có người[4] nào đi theo, vào một cơ hội thuận tiện trong suốt buổi tối. Ngài đă lấy bát khất thực và đắp y cà sa đi tới cơi của dạ xoa2 Ajakalāpaka, và đến đó ngài đă xin người giữ cổng để vào cơi đó; người này nói, “Thưa Đức Thế Tôn, dạ xoa Ajakalāpaka rất hung dữ; ông ta không kính nể bất kỳ ai kể cả vị sa môn 3 hay thầy Bà la môn đi nữa. Chính v́ thế, chính Ngài phải hết sức thận trọng (về điều này)4; nhưng tôi rất lấy làm tiếc và không thích hợp về phía tôi có thể có bất kỳ thông báo nào về dạ xoa cả.” và thế rồi thẳng đường Bậc đạo sư đă đi với sức mạnh của gió tiến vào trước sự hiện diện của Ajakalāpaka, nhưng dạ xoa lại đi tham dự một cuộc họp các dạ xoa. Bậc đạo sư đă đi vào nội bên trong5 cơi dạ xoa và ngồi xuống trên chiếc ghế 6 dành riêng trong pḥng đợi tại sảnh đường. Các nàng cung phi của dạ xoa tiến lại gần Bậc đạo sư, chào Ngài và đứng sang một bên, và sau đó tạn dụng cơ hội Bậc đạo sư đă thuyết Giáo Pháp cho họ, v́ lư do đó có lời nói rằng, “Ngài đang ngồi thiền tại Pāvā, trong ngôi chùa Ajakalāpaka bên trong cơi dạ xoa Ajakalāpaka. Vào lúc đó, Sātāgira và Hemavata, đang trên đường đi tham dự buổi họp các dạ xoa trên đỉnh cơi Ajakalāpaka, nhận ra lư do nào đă xảy ra khi hành tŕnh họ không tỏ ra thành công[5] nơi cơi dạ xoa, họ đă nhận ra Bậc đạo sư ngồi thiền trong cơi dạ xoa Ajakalāpaka; họ liền tới gần đó, cúi chào Bậc đạo sư (Đức Thế Tôn) và rồi van xin Ngài hăy rời khỏi nơi đây nói rằng, “ Thưa Đức Thế Tôn, chúng tôi đang trên đường đi dự phiên họp các dạ xoa.” Đi ṿng quanh Ngài về phía bên phải và rồi ra đi vừa khi nh́n thấy Ajakalāpaka ngay giữa cộng đoàn dạ xoa, họ đă tỏ ra rất hài ḷng nói rằng, “Thật là món lợi lớn cho ngươi, hỡi chư huynh Ajakalāpaka v́ lợi ích của chư huynh, Đức Thế Tôn, vị thống trị toàn cơi thế giới, cùng với các vị thần linh, đang ngồi thiền nơi cơi của chư huynh; [65] chư huynh nên đi đến gặp Ngài, ngồi quanh Đức Thế Tôn mà kính lễ Ngài, và lắng nghe Giáo Pháp “chế ngự được cơn tức giận khi nghe lời họ vừa nói, dạ xoa (dạ xoa) nghĩ rằng, “Những bài thuyết pháp của tên sa môn đầu trọc đó2 đang ngồi nơi cơi của ta” Thế rồi hắn nghĩ, “Hôm nay chiến tranh3 sẽ diễn ra giữa ta và tên sa môn đó.” Thoát khỏi cộng thể dạ xoa, đặt chân phải xuống đất và bước lên trên đỉnh núi [6] cao khoảng sáu mươi do tuần (do tuần (yojanas)), tách ngọn núi làm hai mảnh. Lời cảnh báo về điều đó phải được nhắc đến liên quan đến vấn đề này cần được hiểu theo cùng một cách như điều đă được truyền lại trong tập chú giải kinh Āavakasutta, (Sn-a 217- 240) v́ cuộc họp của dạ xoa Ajakalāpaka cũng giống hệt như cuộc họp của Āavaka, ngoại trừ 2 việc đặt câu hỏi và các câu trả lời của họ, và việc Đức Phật đi ra rồi lại đi vào cơi đó đến ba lần3. V́ Ajakalāpaka, không thể làm cách nào trục xuất4 Đức Thế Tôn  đến bảy lần bằng chín “trận ’5, lại bắt đầu dùng đến gió xoáy6 mà dạ xoa thường làm nổi lên, khi hắn c̣n đang trên đường đi tin rằng, “ chỉ với những cơn gió xoáy này ta sẽ làm cho tên sa môn chạy trốn.” Lại vẫn không thể[7] làm được tiếp theo sau đó là việc hắn tiến lại gần Đức Thế Tôn đi kèm với đạo quân ma quái mà hắn đă tụ tập được, dưới dạng khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi, với đủ thứ vũ khí2 trong tay, để trục xuất Đức Thế Tôn khỏi tư thế ngồi thiền; ngay cả đầu sợi tóc của Ngài cũng không hề lây chuyển, cho dù hắn tiếp tục thực hiện biết bao nhiêu điều không thích hợp3 dưới đủ mọi dạng trong suốt đêm như hắn đă la lối lang thang từ đầu này đến cuối kia, nhưng hơn thế nữa hắn phun lửa một cách tức giận với suy nghĩ rằng, “Tên sa môn này đă ngồi thiền sau khi đă đột nhập vào cơi của ta mà không hề xin phép.” Rồi sau khi Đức Thế Tôn biết được suy nghĩ của dạ xoa, nghĩ rằng, “Thật vậy giống như một người có thể làm nổ tung túi đựng mật trước mặt một con chó hung dữ, con người như vậy cũng mau nổi nóng như vậy.”4 (cp Vin ii 188; S ii 242) v́ vậy tên dạ xoa này cũng đă đầu độc chính tâm của ḿnh với việc ta tiếp tục ngồi thiền tại đây; rất có thể ta phải đi ra ngoài.” Thế rồi Ngài đă tự rời khỏi cơi dạ xoa đó hoàn toàn theo ư của Ngài và ngồi trên không trung. [66] V́ lư do đó có lời nói rằng, “ và vào dịp đó Đức Thế Tôn đă ngồi trên không trung; vào ban đêm, trong bóng tối lờ mờ, trong đêm tối” về vấn đề này.

Vào ban đêm, trong bóng tối lờ mờ, trong bóng đêm mù mịt (rattandhakāratimisāya): vào ban đêm, trong bóng tối lờ mờ, trong bóng đêm u ám[8], có nghĩa là trong bóng tối mù mịt1 không thể nào nhận thức có thể nh́n thấy được. Người ta kể lại rằng bóng tối u ám xuất hiện vào lúc đó là loại có tới bốn chi.2 Vị thần linh thiên đường (devo): một cơn mây dông tạo ra những điểm mưa nhỏ, những giọt nước rơi xuống từng giọt 3. Thế rồi nghĩ rằng, “ta sẽ khiến cho vị sa môn này phải trốn chạy sau khi làm cho Ngài khiếp sợ với những âm thanh này”.  dạ xoa liền tiến lại gần Đức Thế Tôn và tạo ra một tiếng động khủng khiếp 4 bằng cách “Akkula” v.v… v́ lư do đó người ta nói rằng. “Thế rồi dạ xoa Ajakalāpaka” v.v…về điểm này:

Sợ hăi (bhayaṃ): nỗi kinh hoàng trong ḷng, trạng thái khiếp đảm (chambhitattaṃ): một trạng thái sững sờ nơi thân dưới dạng làm tê liệt cẳng chân. Nổi da gà (lomahaṃsaṃ): một hiện trạng trong đó lông dựng đứng lên v́ bị kích thích. Đơn giản là việc xuất hiện nỗi khiếp sợ mà Ngài muốn ám chỉ ở đây bằng toàn[9] bộ ba từ này. Tiến lại gần (upasaṅkami): nhưng2 tại sao người này đă chú tâm đến như vậy lại tiến lại gần (Đức Phật)? Chắc chắn là người đó trước kia chưa thực hiện được những điều không thích hợp như vậy3 chính dạ xoa cũng không thể thực hiện được trước đó? Thật như vậy, hắn đă làm, nhưng chính trong suy nghĩ , “Đang khi Ngài c̣n lưu lại trong cơi của ta, điều này tượng trưng cho một nơi an toàn, tượng trưng cho một nền móng vững chắc, ta đă không thể làm được bất kỳ điều ǵ; nhưng giờ đây Ngài đang lưu lại bên ngoài cơi của ta rồi, liệu có thể làm cho Ngài sợ hăi khiến Ngài phải bỏ chạy được chăng?” Hắn tiến lại gần gặp Ngài v́ dạ xoa nghĩ trong tâm là cơi của hắn là “phần đất vững chắc” và rằng, “Chính v́ liên quan đến một thực tế là Ngài đang lưu lại trong đó, thế mà vị sa môn này vẫn không khiếp sợ.” Ba lần hắn đă thực hiện akkula-pakkula nói rằng “Akkula-pakkula!”(tikkhattu akkulo pakkulo ti akkulapakkulika akāsi): trong ba trường hợp hắn đă thốt lên tiếng kêu (sadda) đó là. Liên quan đến ước ao muốn làm cho Ngài khiếp sợ dưới dạng tiếng kêu “Akkula-pakkula” v́ đây là một từ (saddo) liên quan đến việc mô phỏng (imitation).[10] V́ vào lúc đó dạ xoa, nghĩ rằng, “Sau khi đă khiến cho vị sa môn này khiếp sợ với lời này, ta sẽ khiến cho Ngài bỏ chạy” hắn  đă cố gắng lớn như thể hắn đă nâng bổng ngọn núi Sineru lên hay như thể hắn đă khiến cho trái đất vĩ đại này quanh ṿng2 [67] ba lần liền hắn đă thổi lên tiếng kèn trumpet dạ xoa mà với những lời khó hiểu như vậy, tiếng động to lớn giống như tiếng gió rít3 được thốt lên từ cuối kappa4 khiến cho cơi ḷng của những người phàm dân phải sợ hăi; như thể liên quan đến chính độ sâu, thiên nhiên[11] nổ tung và nỗi khiếp sợ đó vừa thách thức2 vừa bao trùm hết cả mọi tiếng động khác; tức là, tiếng voi gầm, được hỗ trợ từ mọi phía3 là tiếng sư tử có bờm rống lên khủng khiếp; việc đồng thốt lên tiếng của các dạ xoa với từ him4. Tiếng cười5 rít lên của các yêu quái; tiếng vỗ tay vang rền của các A Tu La (asuras) và tiếng động6 của thần Indra, vua các thần linh, tiếng sấm chớp vang rền tứ phía. Sau khi đă dồn lại tại một điểm, giống như tiếng của một trăm tiếng sét liên tiếp7 nổi lên. Thông qua việc tiếng động phát ra8 như vậy vách núi lở xuống trông giống như lá, quả và hoa trên tất cả các cây, cây leo và rừng rậm đều rụng xuống[12], đang khi đó ngay cả vua núi đồi, là Himālaya2 trải dài3 cả ba ngàn do tuần (yojanas) cũng rung chuyển4 chuyển động và lắc lư khủng khiếp. Trong cùng ngày đó, sợ hăi, sững sờ, và rùng rợn nổi da gà 5 ngay cả đối với đa số các thần linh, bắt đầu với các thần linh trên trái đất, chính th́ thế chúng sanh phải sợ hăi biết nhường nào. Trong khi đó, đối với những loại thú khác, cho dù là loại thú không chân, hai chân hay bốn chân, đều rất sợ hăi khiếp đảm.6 Như thể vào thời điểm7 trái đất vĩ đại8 mở ra, làm náo động khủng khiếp nổi lên trên toàn bề mặt cơi diêm phù đề (Jambudīpa). Nhưng Đức Thế Tôn vẫn tiếp tục ngồi thiền không nao núng, Ngài không nhận ra cả tiếng động đó phải thực hiện với bất kỳ điều ǵ đặc biệt[13], sau khi đă nhất quyết rằng không có bất kỳ trở ngại nào từ đó đối với bất kỳ điều ǵ2 cả. Hơn thế nữa, v́ tiếng động đó cũng đạt đến tai chúng sanh theo cách đó, tức là. “Akkula-pakkula” chính v́ thế 3 gồm cả trong cách duyệt lại các từ  akkulo pakkulo4 bắt chước y hệt. Cũng như họ đă làm như vậy với các từ akkulapakkulika.5 akāsi (thực hiện tiếng kêu akkula pakkula) tưởng rằng đă được thực hiện tiếng kêu akkula-pakkula trong lúc tiếng của dạ xoa phát ra tiếng động đó6. Tuy nhiên một số lại cho rằng tiếng akkulo pakkulo lại là một từ thổ ngữ 7 được nói với ư nghĩa đồng nghĩa 8 với cặp từ ākulabyākula (lộn xộn và lẫn lộn) cũng như với từ ekaṃ ekakaṃ [14](cô độc một ḿnh). Những người khác2 lại có quan điểm cho rằng, căn cứ vào điều được sanh ra 3 vào một cơ hội duy nhất được coi là ākulo ( Khởi đầu thế hệ đầu tiên), liên quan đến việc chỉ xuất hiện ở lần khởi sanh đầu tiên trong từ này vần ā 4 có nghĩa là ādi 5(ban đầu, đầu tiên) [68] nhưng rút ngắn lại và thêm vào vần ka, so với từ kula là từ đồng nghĩa với jāti (sanh) như trong từ kolaṅkolo 6 (? Ngoại hạng/ thế hệ lớn hơn), và giả sử rằng đây chỉ là cách chơi chữ để khớp với ư nghĩa đă được khẳng định[15], sư tử và cọp v.v…được sanh từ ḷng mẹ thai sanh, ư muốn nói đến bằng từ thứ nhất, c̣n rắn rít và hắc xà v.v… tất cả đều sanh trứng noăn sanh, lại dùng từ thứ hai để ám chỉ, chính v́ thế ư nghĩa dạ xoa cho biết bằng cặp từ này, như với các từ là sư tử v.v…và cả những con khác như rắn v.v…cả câu, “ta sẽ lấy mạng các ngươi”. Sau khi đă khẳng định Kinh pāli phải được coi như là akkhulo bhakkhulo2, lại có những người khác khẳng định ư nghĩa ở đây là, “akkhulo v́ điều này có nghĩa là nắm lấy, bắt lấy (ulati), tiến hành3, kết thúc (akkhetuṃ 4), bỏ phí, triệt hạ (các chúng sanh), c̣n là bhakkhulo có nghĩa là nắm lấy, cho ăn (bhakkhituṃ 5) ăn thịt (xé xác) (chúng sanh). Nhưng đây là ai vậy? Bất kỳ ai đặc biệt là kẻ nào, trong số các dạ xoa, các la-sát (quỉ ăn thịt người), các yêu tinh, sư tử và cọp, là những ai gây thiệt hại cho con người”.  Cả trong trường hợp này nữa, ta nên hiểu ư nghĩa ở đây cần được giải thích chính xác theo cách đă được khẳng định trước đó. Con yêu tinh này dành cho Ngài, hỡi sa môn (eso te samaṇa pisāco): dạ xoa muốn ám chỉ chính ḿnh nói rằng, “Thưa sa môn, hăy coi đây con yêu tinh (pisāco) ăn thịt người (pisitāsano [16]) đă có mặt là v́ Ngài đó” sau khi đă tự xuất hiện trước Đức Thế Tôn dưới dạng một Bhairava2 vĩ đại con yêu tinh đó đă tạo h́nh dáng cho ḿnh.

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm định toàn bộ các trạng thái hành vi sai trái dạ xoa đă chủ mưu thực hiện cả bằng hành động lẫn lời nói và đó chính là điều cho thấy hắn không thể tạo ra bất kỳ trở ngại nào ở nơi nào liên quan đến các pháp3 hiệp thế tạo nên nguồn gốc bất lực của dạ xoa. Vào thời điểm đó (tāya velāya) : vào thời điểm dạ xoa thực hiện hành vi sai trái đó4. Udāna này (ima udāna): khởi sanh udāna này, sau khi đă coi thường hành vi sai trái này, giải thích vẻ oai nghi của Phật Pháp đă tạo thành nguồn gốc cho việc coi thường này về phía dạ xoa. Về điểm này:

Chính khi nào, liên quan đến các pháp của chính ta (yadā sakesu dhammesu): chính vào thời điểm lúc đó có liên quan đến các pháp dưới dạng ngủ thủ uẩn được coi như chính sự hiện hữu của ta[17].Môt người phải vượt tới bờ bên kia (pāragū): một người phải vượt biển tới bến bờ bên kia (pāragato2) bằng việc hoàn tất quán triệt kèm theo với thấu hiểu toàn bộ3, chỉ v́ điều đó, có liên quan đến khởi sanh ra nguồn gốc những điều này[18], liên quan đến diệt có trạng thái là không xuất hiện từ đó, một người phải đến bến bờ bên kia bằng cách hoàn tất quán triệt kèm theo với đoạn trừ, thực chứng và tu luyện thông qua tập luyện dẫn đến diệt. Người đó sẽ trở thành một vị Bà la môn (hoti brāhmao): người đó được biết đến như là một vị “Bà la môn” liên quan đến một thực tế đó là xa ĺa ác pháp dưới mọi h́nh thức. Người đó quán triệt được tứ chân đế cũng bằng cách lấy tỉnh giác 2 trở thành chính hiện hữu của ḿnh dưới mọi h́nh thức.3 [69] Về vấn đề này cũng như nhiều điều khác người ta nói rằng: “Chính trong thân dài một trượng đó, với tưởng, với tâm, ta có thể tuyên bố thế gian này, việc khởi sanh thế gian này, ( diệt thế gian, và việc tập luyện dẫn đến diệt thế gian) xuất hiện. (S I 62 =  Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 484. Hay nói cách khác liên quan đến các pháp thuộc người đó (sakesu dhammesu): liên quan đến chính các pháp (dhammesu) của chính chúng ta, là các pháp về giới v.v… về phía ước muốn cá nhân có lợi cho chúng sanh được gọi là “các pháp của chính chúng ta”. Do các pháp[19] giới thanh tịnh, định, tuệ và giải thoát v.v… được gọi là “các pháp” của một người có đặc tính đem lại kết thúc thành công lại chính là niềm sung sướng và hạnh phúc cho chính ḿnh, không giống như 2 các pháp tha hoá chỉ đem lại trở ngại cho người đó (không phải các pháp của chính người đó)3. Một người phải vượt sang bến bờ bên kia (pāragū): một người phải vượt sang bến bờ bên kia, vượt qua giới hạn, bằng cách chu toàn các giới đức v.v… Về vấn đề này4. Trước tiên giới lại gồm hai loại thuộc trạng thái trước đó là: hiệp thế và siêu thế. Liên quan đến vấn đề này, giới đó thuộc trước giai đoạn chứng đắc thánh đạo lại là hiệp thế. Ngắn gọn, ở đây có bốn loại bằng cách (tứ thanh tịnh giới như: thu thúc giới bổn v.v…5 nhưng theo chi tiết, giới lại được chia thành vô số loại6 khác nhau. Giới thuộc dạng siêu thế có hai loại qua thánh đạo và do thánh quả thánh đạo đó đem lại; c̣n về ư nghĩa ta có chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, và với những giới, cũng tương tự như định và tuệ có hai loại qua đó có loại là hiệp thế và loại kia là siêu thế. Về điểm này, định hiệp thế chính là tám thiền chứng cùng với cận hành định[20] (tạo thành căn bản thiền minh sát), định siêu thế lại thuộc2 thánh đạo, ngay cả tuệ cũng có thể là hiệp thế, tức gồm tuệ văn, tuệ tư và tuệ tu 3 thành cảnh phiền năo (asavas). Trong khi đó thuộc dạng siêu thế lại là những ǵ liên kết với thánh đạo và liên kết với thánh quả thuộc thánh đạo đó. Loại được gọi là “giải thoát” chính là giải thoát bao gồm thánh quả và níp bàn; chính v́ thế loại này chỉ mang đặc tính siêu thế mà thôi. Tri kiến giải thoát 4 hoàn toàn chỉ mang tính chất hiệp thế mà thôi, lại có đến mười chín loại phản khán trí khác nhau5. Chính v́ khi chúng ta phải vượt đến bến bờ bên kia, đến giới hạn, đang khi phải chu tất, không dư sót, các pháp về giới này v.v…và thể hiện chúng nơi chính liên tục tính của ḿnh thông qua chứng đắc thánh quả  A-la-hán.[21] Đó là điều người ta nói về Ngài, liên quan đến các pháp của chính người  nào phải vượt đến bến bờ bên kia (sakesu dhammesu pāragū). Hay nói cách khác, chính việc thông qua chứng đắc thánh quả Nhập Lưu mà những người phải vượt đến bến bờ bên kia là nơi những giới có liên quan, v́ có lời nói rằng, “Chính người này đă hoàn tất được những pháp có liên quan đến giới.” (cp Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 136. iv 380tt) – và, liên quan đến vấn đề này, qua việc gồm tóm các vị Nhập Lưu, th́ vị Nhất Lai cũng được gộp lại; do thông qua chứng đắc thánh quả Bất Lai, là người phải vượt đến bến bờ bên kia là pháp liên quan đến định, v́ người ta nói rằng người này2 đă khiến các pháp được hoàn tất liên quan đến định vậy.” (cp Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 136, iv 380ff); (trong khi đó) chính nhờ chứng đắc thánh quả A-la-hán, những người phải vượt đến bến bờ bên kia[22] là liên quan đến ba2 pháp khác nữa. V́ thế ta gọi A-la-hán (arahaṃ) chính là người phải vượt đến bến bờ bên kia là nơi tuệ, giải thoát và tri kiến giải thoát có liên quan3 thông qua phản khán trí đạt đến tột đỉnh liên quan đến việc người đó đă đạt đến giải thoát tâm bất động tạo thành điều tột đỉnh là nơi có liên quan đến chứng đắc tuệ viên măn. Chính v́ thế [70] vào thời điểm này thời điểm nọ khi người nào đó, liên quan đến các pháp đă trở thành những ǵ thuộc chính ḿnh như đă đề cập ở trên, lại đă hoàn toàn vượt đến tận bến bờ bên kia qua hoàn thành được mục tiêu, liên quan đến tứ thánh đế, liên quan đến bốn phận sự biến trí v.v…cả thảy gồm mười sáu loại thông qua bốn loại trí thánh đạo th́ vị đó trở thành một vị Bà la môn theo nghĩa tột đỉnh4, do đạt đến hiện trạng đă xa ĺa những ác pháp. Rồi người đó đă khuất phục được yêu tinh và pakkula này (atha eta pisācañ ca pakkulañ 5’ ātivattati): tiếp theo sau t́nh trạng vượt đến bờ bên kia như đă nói đến ở trên, thế rồi, sau đó, Ajakalāpaka, chính là người đă tiến lên phía trước, đă vượt qua, và chiến thắng. Ở đây có nghĩa là không c̣n khiếp sợ [23] con yêu tinh xuất hiện nữa. Với mục đích ăn thịt người2 và cả “akkulapakkulikaṃ3 đă xuất hiện trước họ với mục đích gieo sợ hăi. Hơn thế nữa, cũng chính v́ lời công bố 4 trở thành A-la-hán (arahaṃ) người ta đă kể lại đoạn kệ5 này6. Thế rồi Ajakalāpaka, với tâm ngưỡng mộ suy nghĩ rằng, “Ôi quả thực người này là một con người7 tuyệt vời!” Sau khi nhận ra t́nh trạng kiên định tu luyện nơi Đức Thế Tôn như đặc tính bất động 8 trước những nỗi sợ hăi9 khủng khiếp, ngay cả những điều khủng khiếp mà Dạ Xoa đă tạo ra, hắn liền tuyên bố trở thành cận sự nam trước sự hiện diện của Bậc đạo sư khi Ngài giải thích thực trạng niềm tin của những kẻ phàm phu như hắn đă chấp nhận[24].

Phần chú giải Kinh Phật thứ bảy kết thúc tại đây.

 

-ooOoo-

 

[1]. Điều tiếp theo sau đó cho rằng có sự tương đồng với các biến cố được ghi lại trong tập chú giải (Sn-a 217-240) về Kinh Āavakasutta (Sn tr. 31tt) là phiên bản súc tích cũng thấy xuất hiện trong R. Spence Hardy. Cẩm Nang về Phật Giáo.Varanasi. 1967, tr. 261-265, một số trong các điểm nổi bật cũng được lưu ư tới dưới đây. Một phần ấn bản tập chú giải hiện hành (không phải “toàn bộ chương này” như ta đă khẳng định trong Ud-a 63 n.5) cũng được t́m thấy trong JPTS. 1886. tr. 94tt (không phải “tr. 74” như Woodward đă khẳng định (VofU 6 n 3)

2. Là nơi người ta nói rằng Nigaṇṭha Nātaputta (có Mahāvīra, là vị cải cách Jainas, như đă được khẳng định như vậy) đă chết, chú giải Trung Bộ Kinh (M) ii 244tt. MA iii 99tt.

3. Cittīkataṭṭhāne; đây rơ ràng là một lời chú giải về điện thờ, chú giải MA i 119; cittīkataṭṭhena hi te cetiyānī ti vuccanti/pūjanīyaṭṭhenā ti vutta hoti, nhưng có lẽ đây cũng là một ư nghĩa được nhấn mạnh và một địa điểm chúng sanh phải hành động một cách thận trọng, v́ các dạ xoa thường giả dạng là các chúng sanh chính v́ thế mà ta phải hành động rất cẩn thận.

4. Tham khảo trong CPD, svv Ajakalāpaka, Ajakoṭṭhāsa, chú giải Ud-a 81 ḍng số 17-18 tương ưng cần phải sửa lại một chút.

[2]. Bandhanena; chú giải Se ghi là bandhena. Nghĩa đen là mối ràng buộc, dây trói, gông cùm, v.v… nhưng h́nh như cũng ám chỉ một số đồ cúng được cho các dạ xoa ư nghĩa này không thấy ghi lại trong Childers. PED hay SED. Tiếng Sri Lanka hiện đại bandhana biểu thị phương tiện nhờ đó các dạ xoa trói buộc khống chế tài sản của đối phương hay nhờ đó sức mah các dạ xoa bị tước đoạt.

2.  Chú giải Ce Be Se giải thích là kalāpe katvā, c̣n bản văn ghi là  kalāpetvā; như vậy từ này đă đưa ra nguyên từ đầu tiên về Ajakalāpaka < aje+kalāpe + katvā. 

3.  Chú giải Be giải thích là panāhu (Ce Be ghi là pana ahu) c̣n bản văn ghi là pana 

4.  Xin tham khảo Ud-a 82 ḍng 2 trong tự điển CPD sv ajaka cũng nên được sửa lại tương tự như vậy.

5.  Rất có thể xuất hiện sự khác biệt giữa từ upanetvā (dâng tặng) và upaharanti (dâng cúng) mặc dù ta không thấy rơ ràng sự khác biệt này, v́ hơn kém các từ này đều đồng nghĩa với nhau.  Chú giải nguyên từ y như thế về dạ xoa trong Vv-a 224; chúng là dạ xoa do (chúng sanh) dâng cúng (yajanti) do chúng sanh cúng đồ thực phẩm cho họ (yajanti tattha bali upaharantī ti yakkhā). Có điều quá rơ ràng  

là các lễ vật này gồm các hy tế đổ máu, ngay cả có kèm theo hoa trái như trong Ud-a 122.

1. Sannihito; nếu như chú giải Vv-a 332 có ghi bất kỳ điều ǵ phải làm theo, th́ các dạ xoa được chỉ định (ṭhapeti) tới chính vị trí đó do Đại Vương Vessavaṇa nhằm thực hiện nhiều mục tiêu khác nhau.

2. Cāyita; Be citti, rất có thể đây là cách sửa lại dựa trên chính sự hiện hữu tại các cittīkataṭṭhāne (tại nơi người ta liên tưởng đến rất nhiều) về điểm này xin đọc n 976, như vậy h́nh như Dhammapāla đă đưa ra hai cách giải thích riêng rẽ về Cetiya (điện thờ), một từ xuất phát từ cit ở trên, thứ hai ở đây lại xuất hiện từ cāy/ci - chú giải PED, sv cāyati, lại khẳng định rằng căn cāy được định nghĩa là pūjā (việc thừa tự);cũng xin đọc chú giải SED, sv caytya. Ta khẳng định đây là nguồn gốc xuất phát từ ci. Bản văn Ce lại ghi thêm ca ngay trong câu tiếp theo. Nhưng h́nh như câu đó nhằm diễn giải rộng nghĩa vấn đề này hơn là một lời khẳng định. 

 3. Kālena kāla; hay thỉnh thoảng. Nhưng trong chú giải Sn-a 218 dạ xoa yêu cầu hàng ngày (divase divase) phải dâng đồ cúng cho hắn.

 4. Xuất phát từ vấn đề này h́nh như lănh vực hay nơi ngài thường lui tới (bhavana) và vimāna (thiên cung trú xứ) của ngài chỉ là một, xin đọc chú giải Vv-a 7, 312, và VS  485 n. 5, ở đó ta thấy có khả năng nhận dạng được từ đó. Có nhiều chuyện kể về Thiên Cung Sự (Vimānavatthu) chứng minh rằng thường thường người ta cho rằng Thiên Cung Trú Xứ là một nơi trú ngụ thiên đường, tọa lạc trên phần đất vững chắc nơi cơi thế gian, bao gồm công viên, đầm sen v.v… đôi khi những thứ đó cũng tạo phương tiện giao thông nữa.

1. Adutiyo; trong trường hợp này ta nên hiểu, ngài không thể mang theo người thị giả của ḿnh là Ānanda. Xin đọc chú giải Ud-a 41.

2.  Ce Be Se giải thích là yakkhassa; c̣n bản văn lại bỏ sót.  

3. Chú giải Ce Be Se giải thích là samao ti vā c̣n bản văn ghi là samaṇo ti. 

4.  Chú giải Ce Be Se giải thích là eva c̣n bản văn ghi là evaṃ. 

5. Trong phần chú giải Sn-a 221 người ta kể rằng các cửa tự mở ra tuỳ ư.

6. Bản dịch tiếng Thái cho rằng đây chính là chỗ ngồi/ ngai ṭa của dạ xoa, quan điểm này được xác định lại trong chú giải Sn-a 221.

[5]. V́ các dạ xoa bị giới hạn trong hành lang trên không bay đến địa điểm  Đức Phật đang ngự, cũng là vùng cấm lui tới. (Sn-a 222)

2.  Chú giải Ce Be Se giải thích là tassa c̣n bản văn ghi là ekassa.   

3. Ce Be Se giải thích là sagāmo c̣n bản văn ghi là saṅgamo. 

[6]. Ce Be Se giải thích pabbatakūta c̣n bản văn ghi kūta.

2. Chú giải Ce Be giải thích là ’ eva veditabba/ Ajakalāpakassa samāgamo hi ’va hapetvā c̣n bản văn ghi là Ālavakasamāgamasadiso ’va Ta sadisa.

3. Ta t́m thấy toàn bộ những từ đó trong chú giải Sn tr. 31tt. Sau khi không nhiếp phục được Đức Phật bằng những lời doạ nạt,và thấy vũ khí bí mật của ḿnh đă trở thành vô dụng là do ḷng từ tâm của Đức Phật trải rộng, chính v́ thế dạ xoa đă tự động yêu cầu Đức Phật rời khỏi nơi đó, sau đó Đức Phật cũng đă làm như vậy; rồi Ngài tự quay trở lại nơi đó bằng cách riêng của ḿnh, t́nh tiết này đă được nhắc đến hai lần. Tiếp đó ta thấy xuất hiện một số câu hỏi trong chú giải Sn cho biết tiếp Āavaka trở thành vị Nhập Lưu.

4.  Calana; nghĩa đen là chấn động theo chú giải Sn-a 224, do ma vương không thể làm rung động ngay chỉ một góc y cà sa của Ngài.

5.  Bản văn chèn thêm ca; c̣n  chú giải Ce Be Se lại bỏ sót.

6. Được liệt kê trong phần chú giải Sn-a 224tt như một cơn lốc. Bảy cơn mưa bao gồm, một cơn mưa to, mưa đá cuội, mưa vũ khí, mưa than cháy hồng, mưa tro nóng, mưa cát, mưa bùn đất và mưa bóng tối mù mịt. Toàn bộ những t́nh tiết vừa nêu làm ta nhớ lại cuộc tấn công Ma-vương đă thực hiện chống lại Đức Phật kể lại trong J i 73.

[7]. Ce Be Se giải thích là nāsakkhi.C̣n bản văn ghi là na sakkhi. 

2. Paharaṇa; PED không liệt kê ư nghĩa của từ này nhưng lại thấy xuất hiện trong Childers và SED, xin tra từ sv praharaṇa

3. Vippakāra katvā; tiếp tục thừa nhận những biến đổi.

4. Seyyathā pi nāma caṇḍassa kukkurassa nāsāya pitta bhindeyya eva  so bhiyyosomattāya caṇḍataro assa;  cũng vậy chú giải Ce Be Se và bản văn cố gắng kiến tạo lại. Cách nói này đă tạo ra biết bao điều kinh hoàng. Trong B Discv 263, chúng ta thấy, “ H́nh như họ ném một bịch nước tiểu vào mũi con chó hung dữ.” Trong khi đó KS ii 164 Woodward lại giải thích “đây chính là điều họ đang bị đập bể (phơi khô) vào mũi một con chó hung dữ.” SA ii 212 giải thích nāsāya pitta bhindeyyuṃ giống như acchapitta vā macchapitta vā ’ssa nāsāpue pakkhipeyyu giống như họ phun mật gấu hay mật cá vào mũi con chó đó, vấn đề trục trặc h́nh như đă bắt đầu nơi ngài Morris (JPTS 1891-3 tr. 4tt), đang khi công kích các biên tập viên các bản văn Luật Tạng iii 237, đă chỉ ra nāsāya là định sở cách và v́ thế có nghĩa là trên mũi, chứ không phải trước mũi như đă được chấp nhận từ đó đến nay. Kết quả là pittaṃ không có nghĩa là “túi mật” hay “bọng đái” h́nh như không thể hiểu được chúng ta có thể làm bể một túi đựng mật vào mũi con chó để dung dịch trong túi bắn tung toé vào mũi con chó được, đây rơ ràng là SA đă hiểu điều này. Trong chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 60tt=Vibh-a 243tt= Thanh Tịnh Đạo 260, cũng cần lưu ư một điều là người ta nói rằng việc xáo trộn những ǵ chứa đựng trong túi mật là do kết quả chúng sanh đă trở thành ngu xuẩn và cuồng loạn; cũng như chú giải Vibh-a 65 = Thanh Tịnh Đạo 359, chính v́ thế chất mật ở đây h́nh như là một chất lư tưởng khiến cho những con chó điên nổi khùng lên, cũng giống như bên phương tây lá lách lâu nay vẫn thường được coi như là phản ứng của tức giận vậy ta không thấy tự điển PED hay CPD liệt kê từ Acchapittaṃ. Bản dịch tiếng Thái giải thích điều này một cách đơn giản là thụi vào mũi con chó mà thôi.

1. Chú giải Be Se giải thích andhakaraṇatamasi chính trong bóng tối u ám đă dẫn đến u tối mờ ảo. C̣n bản văn Ce ghi là andhakāre tamasi; tuy nhiên hơn kém đây là cách thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài. Xin đọc chú giải Ud-a 354 dưới đây để có được cách giải thích chi tiết hơn. 

1. Bahalandhakāre;  chú giải Ud-a giải thích là “đêm đen dầy đặc”.

2. Về điểm này, Woodward ám chỉ đến Sn-a 224, trong đó thay v́ đề cập đến bóng tối u ám do dạ xoa tạo ra làm thành “cơn mưa” thứ chín, vấn đề này Sn-a đă cho biết thêm, cho dù tương tự như một người có được tứ chi, tan biến đi ngay sau khi đă gặp được Đức Phật, giống như bị ánh sáng mặt trời làm tan biến hết. Tuy nhiên t́nh tiết này lại tách biệt khỏi chi tiết cho hay Đức Phật đă ngồi thiền trong bóng tối tự nhiên, bốn chi phần chính là đêm thứ mười bốn trong hai tuần lễ đen tối. Vào nửa đêm, một cánh rừng tối đen dầy đặc phía trên những đám mây giông tố che phủ cả góc trời đó. DA 228 tt = MA ii 130 = AA ii 106. cũng xin đọc chú giải Ud-a 286 dưới đây.

3. Trong phần chú giải Ud-a 354. Dhammapāla qui vấn đề thiếu ánh sáng là do chư thiên thiên đ́nh đă che phủ bầu trời bằng những cơn mây giông, trong khi đó ở đây ngài lại đánh đồng các chư thiên với đám mây kiểu đó, thực chất rất có thể người ta đă ám chỉ Indra chính là “vị trời” này. Xin đọc chú giải E Washburn Hopkins. Epic Mythology. Delhi 1974, tr. 127. 

 4.  Be Se giải thích là taṃ, trong khi đó bản văn lại ghi là ca.

[9]. Ce Be Se giải thích là tīhi pi, c̣n bản văn lại ghi là tīhi. 

2. Từ đây xuống cho tới cước chú tiếp theo, tôi tuân thủ cách chấm câu trong chú giải Be xem ra lại rất khác biệt với cách chấm câu Woodward đang sử dụng.  

3. Attanā kātabba vippakāra akāsi; hay ta thừa nhận rằng chính ngài cũng có khả năng thừa nhận các biến  đổi đó. Xin đọc chú giải ở trên.

[10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anukaraṇasaddo; tự điển CPD sv anukāraṇasadda, lại đưa ra ư nghĩa “một từ tượng thanh” theo Morris (JPTS) từ lâu đă chỉ ra từ này kéo dài sự việc ra một chút. V́ đây chỉ đơn giản là cách bắt chước tiếng động do dạ xoa phát ra, cũng xin đọc chú giải Ud-a 67 dưới đây, ta cũng cần lưu ư rằng “được tạo ra/ thành lập” và âm thanh/ từ”, trong mọi trường hợp đều chỉ là một từ duy nhất có nguồn gốc trong tiếng Pāli mà thôi. 

2. Như trong chú giải Ud-a, các từ này được sử dụng như là biểu thị một khó khăn hay điều khó có thể thực hiện nổi.

3. Vinigghosaṃ; không được ghi lại trong tự điển Childers hay PED.

4. Xin đọc Chú giải Thanh Tịnh Đạo 420tt, cho dù chú giải này không đề cập ǵ đến tiếng động; Spence Hardy (op cit. tr. 320tt) cũng đưa ra một bài tường thuật dài, cũng đề cập đến “tiếng động ghê rợn” và khẳng định cơn gió đó là Prachanda (? = tiếng phạn là pracaṇḍa. rất mạnh.) 

[11]. Vipphāritāya; xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 3 ở trên về từ vipphāra

2. Chú giải Be Se giải thích là avahasantam iva, c̣n bản văn lại bỏ sót. 

3. Disāgajāna; không thấy ghi trong tự điển PED.Thần thoại Ấn độ cho rằng có bốn, hay tám con voi đang nâng đỡ thế giới.

4. Chú giải Be giải thích là hikārasadda, c̣n bản văn Ce Se ghi là  hukārasadda.

5. Chú giải Be Ce giải thích là aṭṭahāsa, đối với bản văn là aṭṭasaraṃ, một tiếng kêu hấp hối (chú giải Pv-a 285). Se lại giải thích là mahāsadda, một tiếng kêu lớn. Aṭṭahāsa cũng là một tính ngữ của Siva là chúa các ma quái.

6. Nighāta; chú giải Be giải thích là nigghāta (?Tiếng phạn nirghāta cuồng phong, giông sấm sét v.v…)

7. Saṅghāṭa; nghĩa đen liên kết lại với nhau, đoàn kết lại v.v… nhưng trong aṭṭhisaghāa, là một nhúm xương, bộ xương, ở đây h́nh như từ này có nghĩa là một chùm những tiếng sấm vang dội. 

8. Chú giải Be giải thích là yaṃ yaṃ niccharati/ tena tena,c̣n bản văn ghi là yassa niccharaṇena. Chú giải Ce Se ghi là yassa nicchāraena; xin đọc chú giải dưới đây.

1. Chú giải Ce Be Se giải thích là sīdayisu, c̣n bản văn ghi là sīdīyiṃsu.

2.  Himavant.

3.  Chú giải Be bỏ sót.

4. Chú giải Be Se giải thích là saṅkampi (Ce ca saṅkampi) c̣n bản văn ghi là ca kampi; như trong chú giải Ud-a 149 dưới đây.

5. Chú giải Be Se giải thích là lomahaṃso, c̣n bản văn Ce ghi là lomahaṃsaṃ 

6. Vibhisikā, chú giải Ce giải thích là vibhiṃsanā, Be giải thích là vibhisanakā, Se giải thích là vibhisakā, không thấy có từ nào được ghi lại trong Childers hay PED.

7.  Chú giải Ce Be Se giải thích là okālo, c̣n bản văn ghi là okāle.    

8. Mahāpahaviyā udrīyanakālo; xin đọc chú giải S i 113; cũng xin đọc J i 72, 74 (trong đó ư nghĩa tương tự cũng được ghi lại bằng từ Jayawickrama, Chuyện kể về Đức Phật Cồ Đàm, tr. 95, 98 là một trận động đất.)  

[13]. Chú giải Ce Se giải thích là kismiñci, chú giải Be giải thích là ’kimī’ ti. c̣n bản văn ghi là ’ ti.

2.  Kassaci; hay là với bất kỳ ai.

3. Bản văn chèn thêm từ taṃ; chú giải Ce Be Se lại bỏ sót.

4. Chú giải Be giải thích là akkulo pakkulo (chú giải Se giải thích là akkulo bakkulo) c̣n bản văn Ce ghi là akkulo. 

5. Bản văn lại ghi sai là akulao; Se giải thích akkulabakkulikaṃ.

6. Ce Be Ce giải thích là tassa nigghosanicchāraāya c̣n bản văn ghi là tassa ’ āyam; từ này phải là giống cái định sở cách số ít. Cho dù rơ ràng ở đây ghi là giống đực/vô tính của từ nicchāraena ở trên hầu như lại không mấy rơ ràng cách chấm câu Woodward thực hiện muốn truyền tải ư nghĩa ǵ; tôi không để ư đến cả hai khía cạnh này ở đây và trong toàn bộ đoạn văn này. 

7. Chú giải Se giải thích là bhāsāsaddo, c̣n bản văn Ce Be ghi là ayaṃ  saddho; h́nh như điều này cũng tường tŕnh trong bản văn là vll. abhisāsaddo và āsāsa saddo.

8. Pariyāyābhidhānavasena; abhidhāna không thấy ghi trong tự điển PED.

[14]. Cũng như trong chú giải Ce Be Se, c̣n bản văn ghi là ekaṃ ekaṅganaṃ; rất có thể đây là điều được đưa ra như là một ví dụ đối với cùng hiện tượng ngôn ngữ đó.

2. Nguyên do chính của cách giải thích phức tạp này đó là kẻ nào chỉ tái sanh có một lần (như thể các sinh vật được sanh ra từ ḷng mẹ như sư tử. v.v…) có thể được chỉ rơ bằng từ ākula, trong trường hợp này đă trở thành akkula với kết quả là vần bắt đầu là ā được viết gọn lại bằng cách gấp đôi lên, chúng ta không được biết lư do tại sao, v́ phụ âm k, với từ kula lại thế cho từ jāti (sanh), cũng theo cùng dấu hiệu đó, những kẻ nào được sanh ra hai lần (như thể các chúng sanh sanh từ trứng giống như rắn, v.v…) có thể được biểu thị bằng từ bakkula trong đó chúng ta phải đoán rằng phụ âm k cũng được tăng gấp đôi  với tiếp đầu ngữ ba thế cho pa. Trong trường hợp thứ hai này đây là cách hiểu theo nghĩa tăng cường hơn b́nh thường vậy.

3. Be Se giải thích là jāto, c̣n bản văn Ce ghi là jātako. 

4. Bản văn ghi là ākāro không c̣n nghi ngờ ǵ nữa đó chính là ā-kāro.

 5. Chú giải Be Se giải thích là ādi-attho, c̣n bản văn Ce ghi là ādi-atthe.    

6. Một số đông các vị Nhập Lưu đ̣i hỏi phải trải qua hai hay ba lần tái sanh (nhưng theo như các tập chú giải lên tới sáu lần) trước khi có thể kết thúc đau khổ.

[15]. Chú giải Be Se giải thích là vutta-adhippāyānuvidhāyī ca saddappayogo ti, c̣n bản văn Ce lại ghi là vutta-adhippāyam anuvidhāya ca saddappayogavigame. 

2.  Chú giải Ce ghi là pakkhulo.

3. Pavattati; chú giải Ce Be ở đây giải thích là pavatteti. H́nh như bản văn cũng giống như vậy, chú giải Thanh Tịnh Đạo 60 cũng giải thích là ulati ( một từ chú giải tạo ra nhằm vào những mục tiêu này) lại là gacchati.

4. Việc tham khảo trong tự điển CPD sv trong Ud-a 86 ḍng 18, cũng là điều không xác thực.

5.  Chú giải Ce giải thích là pakkhituṃ

[16]. Cũng như vậy trong chú giải Be (chú giải Se ghi là pīsitāsano; chú giải Ce lại bỏ sót tất cả. PED không có bất kỳ mục từ dành cho từ pisita, có nghĩa là thịt v.v… nhưng chú giải SED sv pisita.

2. Bheravarūpa; cp Pv-a 152. Bherava là một dạng pāli của Bhairava, một cách biểu thị khủng khiếp của Siva, và thực chất rất có thể là điều này, thay v́ chỉ có một h́nh thức đáng sợ, hay một dáng vẻ, đó là ư nghĩa ở đây.  Chú giải Ud-a 325 dưới đây, trong đó Ma vương đă tự tạo ra cho ḿnh một h́nh thái khủng khiếp, Bherava rūpārammaa, cũng có thể tương tự như Bhairava nơi gương mặt.

3. Số tám thường được liệt kê là: lợi lộc và mất lợi lộc, danh vọng và mất danh vọng, chê trách và khen thưởng, hạnh phúc và đau khổ, chú giải D iii 260; Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 156tt. v 53; Thanh Tịnh Đạo 683 v.v…

 4. Chú giải Be giải thích là tassaṃ c̣n bản văn Ce Se ghi là tassa, trong trường hợp này ta nên hiểu tassaṃ là lời chú thích về từ  tāya, tức là: vào thời điểm thực hiện điều bất thiện đó (điều không thích hợp).

1.  Attabhāva; hay là cá tính riêng.

2. Cũng như vậy chú giải Be Se ghi là pāragato, Ce ghi là pāragato, toàn bộ đây chỉ là những dạng ngữ pháp khác mà thôi, những khác biệt tương tự như vậy lại xảy ra tiếp theo sau đây, nhưng tôi lại không thích phân biệt chúng.

3. Pariññābhisamaya; cũng giống như trong chú giải Ud-a dưới đây. Theo chú giải Thanh Tịnh Đạo 689tt, trong suốt quá tŕnh quán triệt (abhisamaya) về tứ chân đế mỗi trí trong số bốn trí chân đế đó lại đồng thời thực hiện bốn nhiệm vụ biến tri (pariññā), đoạn trừ (pahāna), thực chứng (sacchikiriyā) và tu luyện (bhāvanā) trong đó các trí quán triệt đau khổ bằng biến tri, nổi lên bằng cách đoạn trừ;