|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
8. SUPPAVĀSĀ Trong Kinh Phật thứ tám: tại Kuṇḍiyā[1](Kuṇḍiyāyaṃ): trong thành phố của người dân Koliyans có tên gọi như vậy. Trong khu rừng Kuṇḍadhāna (kuṇḍadhānavane): trong khu rừng ở vùng phụ cận thành phố đó, tên là “Kuṇḍadhāna”. Người ta kể lại rằng trước đây có một Dạ-xoa (yakkha) tên là Kuṇḍa đă trú ngụ trong cánh rừng đó; (và dân chúng), tin rằng Dạ Xoa Kuṇḍa chỉ hài ḷng với đồ ăn[2] dâng cúng, làm bằng cám gạo trộn với [3] bột lúa mạch chiên[4], đó là thức ăn hợp với khẩu vị của Dạ Xoa ngay tại nơi ấn định, lư do người ta biết đến cánh rừng rậm đó, cách đơn giản là v́ “khu rừng Kuṇḍadhāna” [5] đó có vợ người đao phủ[6] trong làng đang sinh sống trong vùng phụ cận khu rừng đó; thực tế là chính nàng đă cư trú tại nơi Dạ Xoa đang thi thố quyền lực[7]và c̣n một thực tế khác nữa là chính nàng đang được Dạ Xoa bảo vệ. Nàng cũng có tên là “Kuṇḍiyā”[8]. Sau này vua Koliyan đă xây một thành phố ngay tại địa điểm này; liên quan đến danh hiệu trước kia, thành phố này cũng được gọi là “Kuṇḍiyā”; và trong cánh rừng đó nhiều đời các vị vua đă hạ chiếu chỉ xây dựng một thiền viện dùng tạo nơi cư trú cho Đức Thế Tôn và Tăng đoàn các vị Tỳ khưu, đơn giản ngay cả thiền viện này cũng có tên là “ Khu rừng Kuṇḍadhāna”. Giờ đây đang thực hiện chuyến du hành về vùng quê theo thời gian ấn định, Đức Thế Tôn đă đi đến thiền viện và trú ngụ tại đó, do đó người ta nói rằng, “Đức Thế Tôn đă lưu lại thiền viện Kuṇḍiyā, trong cánh rừng Kuṇḍadhāna. Suppavāsā là tên của cận sự nữ đó[9]. Con Gái Koliyan (Koliyadhītā) : là con gái của vị vua Koliyan[10], v́ nàng là thánh đệ tử (ariyasāvaka), một vị Nhập Lưu (Sotāpanna), đă trở thành người nữ phục vụ tối thượng cho Đức Thế Tôn[11] và Đức Phật đă trao cho[12] nàng địa vị tối thượng trong số các đồ đệ nữ, những người nữ thí chủ cao quí nhất[13], nàng hộ độ với thực phẩm cả cứng lẫn mềm, cả thuốc như phù hợp với Đức Thế Tôn không ai trong bọn họ được thu xếp[14] cho Ngài cả; nàng chỉ muốn một ḿnh thực hiện toàn bộ những thứ đó[15] và dâng lên cho Đức Phật sau khi chính nàng đă đem đến những thứ đó; nàng hộ độ Đức Phật chu toàn như vậy chỉ nhằm đem lại cho ḿnh kết quả thành tựu. Sau khi Đức Phật đă nhận ra bằng chính tuệ giác của ḿnh. [123] Hàng ngày nàng đă thực hiện tám trăm[16] phần vật thực cho Tăng đoàn và cho từng cá nhân; (trong khi đó) chẳng có vị Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào đi đến nơi này khất thực lại phải đi về bát không; như vậy nàng đă trở thành đại thí chủ[17], một người chẳng bao giờ rảnh tay để trang điểm,[18]một người chỉ đi t́m niềm vui trong bố thí, một con ngươi rất dễ mến đối với những vị đi khất thực, một con người lấy việc bố thí[19] làm niềm vui cho chính ḿnh và chia sẻ với người khác. Trong bào thai của nàng một người đă hoàn tất việc phục vụ Chư Phật tiền kiếp, là người đă tham gia việc tái sanh, một người gan kết giác ngộ như một thánh đệ tử vậy.[20] Bào thai đó, do một số nghiệp bất thiện, nàng đă mang bào thai (duy tŕ) trong ṿng bảy năm; trong khi đó chỉ trong ṿng bảy ngày nàng đă trở thành người xẩy thai (foetus awry). Chính v́ lư do đó người ta nói rằng, “Nàng đă mang thai trong ṿng bảy năm, chỉ trong bảy ngày đă trở thành một người xẩy thai”. Về điểm này: Trong ṿng bảy năm: sattavassāni = satta saṃvaccharāni (từ đồng nghĩa); và đây là đối cách hiểu (theo nghĩa) một khoảng thời gian liên tục. Nàng đă mang thai (gabbhaṃ dhāreti): nàng đă mang trong ḿnh bào thai đó, ở đây có nghĩa là có bầu. Lại chỉ trong ṿng bảy ngày đă là người xẩy thai (sattāhaṃ mūḷhagabbhā): chỉ trong ṿng bảy ngày (satta ahāni), (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới dạng ngữ pháp khác) là người có bầu rối loạn. Đối với bào thai[21], khi đă trưởng thành[22] đầy đủ, nếu b́nh thường nó sẽ quay tṛn do gió rung động[23] do gió nghiệp chướng sanh (điều đó diễn ra) vào lúc người mẹ lâm bồn, sau khi chân quay về phía trên, đầu quay xuống hướng về phía cửa tử cung[24] khi đó bào thai có thể thoát ra ngoài không vướng vào đâu cả; trong khi đó, nếu không thành công, do bào thai quay quanh không đúng hướng[25], nó có thể ở tư thế nằm ngang, vướng vào dải dây chằng cửa tử cung, hay do các dây chằng tử cung gây trở ngại[26] tuỳ trường hợp. Trong khi đó nếu bào thai xoay trong bụng mẹ không b́nh thường do gió nghiệp chướng sanh (winds bor n kamma) bào thai trở thành nổi lúng túng (flummoxed) (và) ta cho là “xẩy thai”(awry) là v́ vậy. Chính v́ thế, chỉ trong ṿng có bảy ngày[27] người ta nói rằng nàng đă bị xảy thai (foetus awry), và bào thai này chính là Trưởng lăo Sīvali[28] Nhưng làm thế nào đau khổ này của ngài dưới dạng một bào thai đă phải trải qua một cuộc hành tŕnh kéo dài suốt bảy năm và chỉ trong ṿng bảy ngày đă bị xẩy thai (foetus awry) là do những nhân duyên ǵ mà ra, và như vậy, người mẹ phải cảm nghiệm đau khổ này, cho dù là một thánh đệ tử, một vị Nhập Lưu toàn hảo, điều này đă xảy ra như thế nào? Đây là điều người ta nói đến. Trong quá khứ khi vua Kāsis đang trị v́ tại thành phố Bārāṇasi, một vị vua Kosalan đă có một đạo quân hùng mạnh, và chiếm thành Bārāṇasi [29], giết hại[30] vị vua này và cướp hoàng hậu nhiếp chính của nhà vua làm hoàng hậu nhiếp chính của ḿnh. Tuy nhiên hoàng tử của nhà vua Bārāṇasi đă trốn thoát vào lúc vua cha bị giết, qua cửa cống mà thoát ra khỏi thành. Hoàng tử đă tụ tập họ hàng bạn bè và những người cùng bộ tộc. Vào thời điểm thuận tiện khi đă qui tụ được lực lượng hùng mạnh, hoàng tử đă tiến đến thành Bārāṇasi thiết lập một doanh trại vĩ đại trong vùng phụ cận và rồi gửi một tối hậu thư cho nhà vua, nói rằng, “Hăy nhường ngôi lại cho ta, hay phải chuốc lấy một trận chiến khốc liệt!” [124] Khi mẹ hoàng tử [31]nghe biết về tối hậu thư đó[32]của con ḿnh, hoàng hậu liền gửi một thư cho hoàng tử nói rằng, “Chiến tranh sẽ chẳng đi đến đâu cả; chỉ cần bao vây thành Bārāṇasi chặn tất cả ngả giao thông các phương tiện giao thông, cắt đứt toàn bộ mọi phương hướng dẫn vào thành phố. Thế rồi dân chúng trong thành sẽ mỏi mệt [33]do kiệt quệ củi, nước và lương thực, họ sẽ bắt nhà vua[34] (và) giao nộp cho con,[35] không cần phải thực hiện bất kỳ trận chiến nào cả.” Khi biết được lá thư của mẹ ḿnh, hoàng tử đă cắt đặt lính canh cẩn mật bốn cổng chính dẫn vào thành và bao vây thành trong ṿng bảy năm. (Nhưng) dân trong thành vẫn có thể qua những lối nhỏ mà thoát ra ngoài và họ đă cố gắng kiếm được củi và nước v.v… và thực hiện mọi nghĩa vụ của họ. Giờ đây khi hoàng hậu nghe biết điều ǵ đang diễn ra, bà đă gửi cho hoàng tử một lá thư bí mật, nói rằng, “Con trai ta thật là ngốc, con ta đă không phát hiện ra tṛ bịp bợm,[36] hăy tức tốc đi báo cho binh lính, truyền cho họ phải bao vây thành bằng cách chận toàn bộ các lối đi nhỏ trong ṿng bảy ngày[37]. Khi hoàng tử biết được tối hậu thư hoàng hậu gửi, chàng đă hành động y như lời mẹ nói trong ṿng bảy ngày. Những cư dân trong thành không thể thoát ra ngoài được nữa, và vào ngày thứ bảy dân chúng đă chặt đầu nhà vua và giao nộp cho vị hoàng tử. Thế rồi vị hoàng tử đi vào thành và chiếm lại ngai vàng của cha ḿnh. Chính do việc nghiệp chướng chảy dần, bao gồm việc bao vây thành phố trong suốt bảy năm, mà giờ đây ngài đă cư trú trong b́nh máu, chính là ḷng mẹ của ḿnh, trong ṿng bảy năm. Trong khi đó do kết quả việc lưu lại đó[38] thể hiện ở việc bao vây thành trong bảy ngày, hoàng tử khiến cho thành rối loạn trong ṿng bảy ngày và đó là điều kiện phôi thai bị xẩy (awry) là v́ vậy. Tuy nhiên[39] trong tập chú giải Kinh Bản Sinh người ta nói rằng chính do ḍng chảy nghiệp chướng đó được chiếm đoạt do việc bao vây thành (cắt đứt mọi giao thông[40]) trong ṿng bảy ngày[41] mà hoàng tử (lần đầu tiên) trú ngụ trong cái b́nh máu đó trong ṿng bảy năm và rồi gia nhập trong ṿng bảy ngày vào điều kiện một phôi thai (awry)[42] Nhưng[43] v́ ngay dưới chân vị Chánh Đẳng Giác Padumuttara[44]ngài đă thực hiện một nguyện vọng đó là: sau khi đă thực hiện một cuộc bố thí lớn, hoàng tử sẽ trở thành tối thượng của những người nhận được (các của thiết yếu) và v́ vào thời Đức Thiện Thệ Vipassi ngài cũng đă thực hiện cùng một nguyện vọng đó. Sau khi đă bố thí với sữa đông và đường thốt nốt đáng giá cả ngàn[45] đồng tiền. Do vẻ oai lực từ việc bố thí đó đem lại, hoàng tử đă trở thành tối thượng nơi những người nhận được (các Tứ vật dụng); c̣n hoàng hậu Suppavāsā cũng vậy, nàng đă trở thành người phụ nữ có thai hư (awry) trong bảy ngày sau khi đă duy tŕ (mang bào thai đó) trong suốt bảy năm, thực tế là nàng đă ra lệnh cho con trai chiếm thành phố bằng cách vây thành. Như vậy chính người mẹ và con trai[46] của bà đă cảm nghiệm được đau khổ phù hợp với chính nghiệp chướng của ḿnh vậy. [125] Với ba tầm (tīhi vitakkehi): với ba thiện tầm liên quan đến tùy niệm về những ân đức nơi Tam Bảo. Kiên nhẫn chịu đựng (adhivāseti): chịu đựng đau khổ nổi lên do nàng phải bị xảy thai (foetus awry). V́ khi tuỳ niệm về sự thật chính Đức Thế Tôn, Bậc Chánh Đẳng Giác, về thiện hạnh thánh Tăng đoàn và về sự thật Níp Bàn là giải thoát khỏi đau khổ. Nàng có thể chịu đựng nỗi đau khổ khi nó nổi lên. Thắng vượt được chính đau khổ đó đơn giản bằng cách không để ư đến đau khổ đó; v́ lư do đó người ta nói rằng: “Kiên nhẫn chịu đựng với ba tư niệm”. “Thực sự đây là Bậc Chánh Đẳng Giác” v.v…là ám chỉ t́nh trạng các tư duy đó diễn ra, đây là ư nghĩa: vị nào[47] trở |