|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
8. SUNDARI Trong Kinh Phật thứ tám: ư nghĩa các từ bắt đầu với “được kính trọng” ta đă b́nh luận ở trên[1]. Không thể cam chịu (asahamānā): không thể chịu đựng nổi (na sahamānā), ư nghĩa ở đây là ghen tương đố kỵ “và không thể chịu đựng được sự kính trọng đối với Tăng đoàn các vị Tỳ khưu” chính là mối tương quan[2]. Sundari (Sundarī) chính là tên của nàng[3]. Người ta kể lại rằng[4] xuất phát nơi tất cả các nữ du sĩ vào thời đó, nàng là người có h́nh dáng mỹ miều nhất, rất dễ coi, là người luôn gây cảm hứng thanh thản,(và) được thành tựu với dáng vẻ[5] bề ngoài mỹ miều trông giống như hoa sen kiêu kỳ nhất. Chính v́ lư do đó nàng được biết đến với tên gọi là Sundari[6] và nàng c̣n là người chưa từ bỏ khỏi tuổi trẻ hồn nhiên, và là người luôn biết thu thúc được hành vi của ḿnh; chính v́ thế đây là nữ du sĩ Sundari mà họ đă phái đi liên quan đến việc muốn biện minh cho hành vi bất thiện của họ. Bởi v́ những du sĩ thuộc các giáo phái khác, mà lợi nhuận và tiếng tăm của chính họ[7] đă tổn hại nghiêm trọng kể từ khi Đức Phật xuất hiện, do ganh tỵ[8] lôi cuốn khi phát hiện ra lợi nhuận khổng lồ và ḷng kính trọng hiện nay dành cho Đức Phật và Tăng đoàn các vị Tỳ khưu theo cách đă được truyền lại trong tập chú giải Akkosasutta,[9] họ đă liên kết sức mạnh và rồi bàn bạc ư kiến lẫn nhau nói rằng, “ Kể từ thời điểm vị sa môn Cồ Đàm xuất hiện, chúng ta đang bị tiêu diệt, những lợi nhuận và ḷng kính lễ đối với chúng ta đă bị triệt tiêu hết. Chẳng c̣n ai biết đến sự tồn vong của chúng ta nữa. Dựa trên phương diện nào mà thế gian này lại tỏ ḷng kính lễ hoàn toàn đối với vị sa môn Cồ Đàm này đến vậy? tại sao chúng sanh đă kính trọng Ngài và đem lại vinh dự to lớn cho Ngài đến vậy?” Một trong bọn họ lên tiếng nói rằng: “ V́ Ngài đă xuất thân từ một ḍng dơi có địa vị cao, (bởi v́) Ngài đă được sanh ra trong một bộ tộc có ḍng dơi Mahāsammata[10] tiếp nối liên tục”, người khác lại nói [257] (v́ có quá nhiều điều kỳ diệu đă xuất hiện vào lúc Ngài đản sanh[11]”, người khác lại nói “(v́) khi Ngài được đưa đến tŕnh diện[12] với Kāladevala[13] để cho vị Cồ Đàm có thể kính lễ ngài, hai chân của ngài đă vặn lên và đă đạp lên mái tóc rối.” Có người khác lại cho rằng, “khi Ngài nằm ngủ dưới bóng gốc cây táo hồng vào thời điểm diễn ra lễ hội cầy ruộng[14] th́ bóng mát của cây đó đă không thay đổi ngay cả thời điểm giữa ngọ đă qua đi[15], người khác lại cho là “(v́ ngài) quá đẹp, để chiêm ngắm, là người tạo cảm giác thanh thản. Liên quan đến h́nh dáng thân quá yêu kiều của Ngài”. Một người khác lại lên tiếng cho rằng “v́ Ngài đă bị động tâm khi nh́n thấy bốn điềm báo, đó là một người già yếu, một người bệnh hoạn, một người chết và một người xuất gia, thế nên chính Ngài đă xuất gia bỏ lại toàn bộ ngai vàng sắp được diễn ra[16] trước mặt với tư cách là một Chuyển Luân Vương. (cakkavatti). Bằng cách đưa ra tuyên bố hết lư do này đến lư do nọ như vậy về việc kính lễ Đức Phật [17] do họ đă nhận thấy, đă nghe đựơc, song họ không ư thức được rằng Đức Phật đă viên măn được những thành tố công đức cần thiết cũng như trí[18] không thể nào chia sẻ với người khác được, Ngài đă củng cố[19] trong suốt thời gian vô biên, trong việc tu luyện của Ngài bao gồm việc khổ hạnh, không ǵ sánh nổi, Ngài đă đạt đến ba la mật bờ cao thượng. Và vẻ oai nghiêm không ǵ sánh bằng nơi Đức Phật bao gồm trí tuyệt vời và đoạn tận v.v…[20]Họ muốn biết, nhưng lại không thể nhận ra bất kỳ lư do nào liên quan đến những thiếu sót ḷng kính trọng đối với Đức Phật, sau khi đă t́m cách làm thế nào họ có thể khiến cho sự nổi tiếng[21] phải giảm sút và làm thể nào huỷ hoại được những lợi lộc và danh tiếng đối với vị Sa môn Cồ Đàm. Một người trong số họ có trí thông minh sắc xảo[22] nói rằng: “Xin nh́n ḱa, trên thế gian này có rất nhiều chúng sanh (satta) và cũng có những ǵ không phải chúng sanh (sattā) lại có những hạng người không ham thích (asattā)[23] hạnh phúc tuyệt vời liên quan đến phụ nữ; và vị sa môn Cồ Đàm này quả thật rất đẹp trai, sánh ngang bằng với chư thiên, Ngài tỏ ra nhân hậu ; chắc chắn Ngài sẽ không thể cưỡng lại với một sắc đẹp ngang bằng với chính sắc đẹp của Ngài vậy. Hơn thế nữa, ngay cả nếu như Ngài không cưỡng lại được ḷng quyến luyến (sajjeyya) muốn chiếm đoạt được phụ nữ, chắc chắn Ngài sẽ bị quần chúng cho là người đáng nghi ngờ, thế th́ tốt, chúng ta hăy sai đến một nữ du sĩ là Sundari, đến với Ngài, t́m cách làm mất uy tín tiếng tăm[24] đối với vị Sa môn Cồ Đàm và rồi đồn thổi sự việc ra khắp nơi trên thế gian này.” Vừa nghe thấy điều này, số người c̣n lại, sau khi tất cả đều đồng ḷng nhất trí sẳn sàng nói rằng “Đây[25] quả là cao kiến các ngươi đă nghĩ ra; v́ khi thực hiện điều này, vị sa môn Cồ Đàm sẽ gặp rắc rối liên quan đến tiếng tăm bỉ ổi này,[26] Ngài sẽ không thể ngẩng cao đầu lên, và chỉ c̣n có cách tẩu thoát là tốt nhất.” Họ đă đến gặp nàng Sundari để sai nàng thực hiện âm mưu thâm độc này. Vừa nh́n thấy họ Sundari lên tiếng “Tại sao các huynh lại tụ hội đến đây đông thế?” Những người du sĩ thuộc các giáo phái khác sau đó đă ngồi lại với nhau tại một địa điểm kín[27] ngay bên ngoài chỗ nghỉ ngơi[28] của họ, không nói với nàng nửa lời. Nàng đă rảo qua hết chỗ này chỗ nọ, mà không nhận được bất kỳ câu trả lời nào từ phía họ khi nàng liên tục hỏi họ rằng, “Tôi đă súc phạm[29] đến các huynh chăng? Tại sao các vị chẳng trả lời tôi lời nào vậy?”. “Thế tại sao[30] [258] các vị lại ra vẻ dửng dưng khi chúng ta đang phản đối[31] điều ǵ đó?” “Ai đang phản kháng các ngươi vậy?” Sau khi nàng đă lên tiếng rằng, “Tôi có thể làm ǵ được cho các người liên quan đến vấn đề này?” Sau đó họ lên tiếng, “Nhưng liệu nàng không thấy sao vị sa môn Cồ Đàm đang lang thang khắp nơi phản kháng lại chúng ta hay sao, và lại đánh mất hết lợi lộc và tiếng tăm của chúng ta đó?” Họ nói tiếp, “Được rồi, trong trường hợp này, nàng phải kiên tŕ đi đến gần khu rừng Jeta và rồi nói với dân chúng bằng cách này cách khác.” Và nàng đă đồng ư nói rằng “Thôi được rồi.” V́ lư do đó có lời nói rằng, “Thế rồi các vị du sĩ thuộc các giáo phái khác không thể nào chịu nổi ḷng kính trọng (của dân chúng) đối với Đức Phật.” Về điểm này: Liệu nhà ngươi có thể thu xếp (ussahasi) nhà ngươi có thể. Một ân huệ cho (atthaṃ): đó chính v́ hạnh phúc hay một số trách nhiệm liên quan đến[32] hạnh phúc đó. Ta có thể làm ǵ: kyāhaṃ= kiṃ ahaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). V́ các vị du sĩ này thuộc những giáo phái khác, cho dù không phải là họ hàng với nàng, nàng nói. “Thưa chị, chị có thể xoay sở thực hiện một ân huệ cho các người anh em của nàng chăng?” Họ hành động như thể họ là những người họ hàng ruột thịt của nàng để có thể gộp nàng vào số những người du sĩ, chính v́ thế, giống như con hươu chân đă vướng phải những cây leo[33] làm bẫy, nàng nói “Toàn bộ cuộc đời của ta đều hy sinh cho những người họ hàng của ta.” Tốt rồi, trong trường hợp này (tena hi): sau khi nói vậy nàng nói rằng, “V́ nàng đă khẳng định: toàn bộ cuộc đời nàng đă hy sinh nhằm phục vụ cho các ngươi, và v́ nàng c̣n mới trong giai đoạn đầu cuộc sống, lại rất xinh đẹp và đă đạt đến t́nh trạng duyên dáng nhất, thế nên nhà người phải hành xử theo cách làm sao nàng có thể khiến cho vị Sa môn Cồ Đàm phải mang tai tiếng bỉ ổi nhất trên đời này.” Họ yêu cầu nàng đi nói rằng, “Nhà người phải thường xuyên lui tới Khu Rừng Jeta”. Hơn thế nữa, đứa trẻ ngu xuẩn đó, như [34] muốn chơi tṛ chơi các ṿng hoa giăng lên một mảnh lưỡi cưa,[35] hay như thể giật mạnh một con voi hay nổi khùng, bị kích động t́nh dục và động đực[36], bằng chiếc ṿi, hay như thể túm lấy Thần Chết khoác vào cổ, cứ mỗi lần được hỏi nàng đang đi đâu đó, khi nàng đang tiến về phía Khu Rừng Jeta theo như lời các vị du sĩ thuộc giáo phái khác đă nói với nàng, mang theo ṿng hoa, hương nhang, dầu xức, trầu và khăn lau miệng[37] vào thời điểm dân chúng đang quay trở lại thành phố sau khi đă nghe Đức Phật thuyết pháp, nói rằng, “Ta đang quay trở lại để gặp vị Sa môn Cồ Đàm, v́ ta muốn lưu lại với Ngài trong hương pḥng” và rồi lưu lại (qua đêm) tại một số nơi nghỉ ngơi dành riêng cho các vị du sĩ thuộc các giáo phái khác; và khi được hỏi nàng đă qua đêm tại đâu, khi nàng đang trên đường quay trở về thành phố rất sớm (liên tiếp trong nhiều ngày) sau khi đă quay trở lại từ hướng dẫn tới Khu Rừng Jeta [259] nàng trả lời, “Ta sẽ tới sau khi đă lưu lại với vị sa môn Cồ Đàm trong hương pḥng của Ngài tạo cho ngài cảm khoái nhục dục bằng hành vi t́nh dục đồi trụy”[38] v́ lư do đó có lời nói rằng, “Có nữ du sĩ tên là Sundari đă đồng ư nghe theo những vị du sĩ thuộc các giáo phái khác[39] nói rằng, ‘hăy thực hiện như vậy, con người xứng đáng của ta đă kiên tŕ lui tới cánh Rừng Jeta.” Thế rồi, một vài ngày sau đó, các vị du sĩ thuộc các giáo phái khác đó đă đưa một vài đồng bạc kahapannas cho một số cá nhân trác táng nói rằng, “Hăy ra đi, giết chết nàng Sundari, rồi vứt [40] xác nàng vào giữa các ṿng hoa và các đống rác gần hương pḥng của vị sa môn Cồ Đàm, sau đó quay lại đây.” Bọn họ đă ra đi và thực hiện y như lời họ dặn, sau đó các vị du sĩ thuộc các giáo phái khác đă tung ra lời đồn đại nói rằng, “Chúng tôi không nh́n thấy nữ du sĩ Sundari đâu cả họ tŕnh báo cho nhà vua và khi nhà vua[41] nói với họ rằng, “Các ngươi thử đoán xem nàng đang ở đâu?” Họ nói, “Trong những ngày này[42]nàng thường hay lui tới cánh Rừng Jeta; chúng tôi không biết điều ǵ đă xảy ra với nàng.”[43] (Như vậy) được nhà vua cho phép nói rằng, “Được rồi, vậy các ngươi hăy đi kiểm tra xem nàng có ở đó hay không,” họ chọn những người ủng hộ họ[44] trong việc này và chạy lại Khu Rừng Jeta bới tung sang một bên các ṿng hoa (đă khô) và đống rác gần đó, như thể họ đang t́m kiếm nàng trong đó, và họ đă phát hiện xác nàng, họ đặt xác nàng lên một chiếc cáng, và rồi truyền cho khiêng vào thành phố, báo cho nhà vua nói rằng “Các đồ đệ của vị Sa môn Cồ Đàm đă giết chết nàng Sundari, nghĩ rằng, “Chúng ta phải che dấu hành vi bất thiện vị sa môn Cồ Đàm đă thực hiện và rồi quẳng xác nàng ra chỗ những ṿng hoa khô trên băi rác.” Hơn thế nữa, đức vua không cứu xét vấn đề ǵ cả, ra lệnh nói rằng, “Được rồi, trong trường hợp này, hăy đi quanh thành phố” đang khi đi quanh thành phố nói rằng, “Hăy nh́n xem hành vi của vị sa môn và các đồ đệ của người con trai ḍng họ Thích Ca” v.v… họ lại đi [45] một ṿng nữa đến[46] cửa thành nơi nhà vua cư trú. Nhà vua truyền để xác Sundari trên một giàn thiêu rồi đặt vào nghĩa trang và truyền lệnh canh xác đó kỹ càng.[47] Các cư dân thành Sāvatthi chỉ trừ một số thánh đệ tử, đa số dân chúng đều nói, “Hăy nh́n xem hành động của vị sa môn và những đồ đệ của người con trai ḍng họ Thích Ca.” v.v… và rồi đi khắp thành phố họ xúc phạm đến các vị Tỳ khưu cả bên trong lẫn bên ngoài thành phố. V́ lư do đó có lời nói rằng, “Khi các vị du sĩ thuộc các giáo phái khác biết được nữ du sĩ Sundari đă được phát hiện chết như vậy” v.v…về điểm này: Trở nên thông thạo (aññiṃsu): biết rơ. Đă nh́n thấy tỏ tường (voditṭha = vyapadiṭṭhā [48] (một dạng ngữ pháp khác[49]) đă được nh́n thấy (diṭṭhā) rơ ràng (visesato) phải tới đó, và đến từ đó, cánh Rừng Jeta. Có nghĩa là nhiều người đă nh́n thấy[50] rơ ràng. Trong một cái hang, trong một tuyến hào (parikhākūpe): [260] trong một cái hang trong một cái hồ h́nh vuông[51]. Ôi vị đại vương, người đó chính là Sundari (yā sā mahārāja Sundarī): ôi đại vương, người phụ nữ trong thành phố này chính là nữ du sĩ nổi tiếng[52], được biết với tên là “Sundari”, nàng có diện mạo với vẻ đẹp mỹ miều. Đối với chúng ta, nàng là người chưa được nh́n thấy (sā no na dissati): đối với chúng ta, nàng như là con mắt, như là (chính) cuộc sống vậy, điều ǵ đó rất quí hóa, hiện giờ vẫn chưa phát hiện ra. Đúng như đă được đặt xuống (yathānikkhittaṃ): giống hệt như cách họ đă đặt (xác nàng) xuống, tại vị trí họ đă được lệnh thực hiện như vạy, (xác được đặt) ở giữa ṿng hoa khô và đống rác khác. Yathānikhātaṃ (giống y như đă chôn (xác đó) trong ḷng đất. Từ chánh lộ[53] này đến chánh lộ kia (rathiyāya rathiyaṃ): từ khu phố này đến khu phố kia; đối với một khu phố (vīthi[54]) là một lộ chánh (racchā) tạo thành con đường lớn[55]. Tới các giao lộ (siṅghāṭakaṃ): Đến các đường có ngă ba[56] . Vô tội (alajjino): không mắc cỡ, ư nghĩa ở đây là những người nào không biết sợ làm điều bất thiện.[57] Những người nào có ác giới (dussīlā): những người nào thiếu giới (ḷng đạo đức). Bản chất bất thiện (pāpadhammā): những người nào có bản chất nội tâm thuộc dạng ti tiện, có ân đức ti tiện (hạ cấp). Những người nào hay nói dối (musāvādino): những người nào nói láo (musāvādino) liên quan đến một thực chất là, (mặc dù) là những người có ác giới, họ đều khẳng định (vāditāya) điều ngược lại[58], nói rằng, “ Chúng ta có thiện giới”. Sống cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) giả tạo (abrahmacārino): là những người không tu luyện những điều thiện do họ tỏ ra quá đam mê thú vui nhục dục (tham dục- giao cấu[59]) bằng cách tỏ rơ cho thấy tính thù địch trong tâm mà họ nói rằng, “Đối với những hạng người này, họ thường tự cho ḿnh là hạng người như vậy”[60] Những người thực thi Phật Pháp (Dhammacārino): những người tu luyện thực hiện các điều thiện[61]. Những người Samacārins (samācarino): những người thuộc hạng người Samacārins[62] do nơi họ có những hành vi thân v.v… liên quan. Có ngoại h́nh xinh đẹp (kalyāṇadhammā): những người nào với bản chất nội tại thuộc dạng xinh đẹp. “là chính họ đă công bố như vậy” (paṭijānissanti nāma) đó là điều liên quan. Đối với paṭijānissanti (công nhận là như vậy) có liên quan đến từ nāma (danh) (tiếng tăm)[63]. Cuộc sống sa môn (sāmaññaṃ): pháp sa môn, là pháp những người nào đă diệt trừ được những điều bất thiện (samitapāpatā[64]). Bậc Phạm thiên (brahmaññaṃ): nổi tiếng tột đỉnh[65], là t́nh trạng những ai đă đoạn tận[66] được hết các phiền năo. Từ đó (kuto) : v́ lư do đó. Đă từ giă (apagatā): đă đi khỏi, đă vĩnh viễn rời khỏi [67]. Một người có trách nhiệm (purisakiccaṃ): họ nói đến những ǵ liên quan đến t́nh trạng đam mê giao cấu. Thế rồi các vị Tỳ khưu đă bạch cho Đức Phật về sự việc đó. Sau đó Đạo sư đă nói rằng, “Chính v́ thế cả các ngươi nữa, hỡi các vị Tỳ khưu thân mến, các ngươi nên khiển trách những hạng người đó với đoạn kệ này” thế rồi họ cùng nhau tụng chung lên đoạn kệ như sau, “Người nào đề cập đến điều ǵ không diễn ra” (v.v…) liên quan đến vấn đề đó “Thế rồi một số đông các vị Tỳ khưu… ‘thuộc ḍng họ Manu lại thực hiện những việc hèn hạ (sau khi đă trải qua) sau này (lại trở thành như ’ ”. Về điểm này: Hỡi các vị Tỳ khưu, tiếng (đồn đại) này sẽ chẳng tồn tại lâu đâu (’eso bhikkhave saddo ciraṃ bhavissati): Thông qua trí toàn tri của ngài, vừa biết được hậu quả sự việc về tiếng đồn bỉ ổi đó,[68] Đạo sư đă lên tiếng để các vị Tỳ khưu hiểu rơ vụ việc hơn. Trong đoạn kệ[69]: người nào nói những ǵ không thể diễn ra (abhūtavādī): người nào vu khống người khác về những điều ǵ không thực sự xảy ra, những điều tưởng tượng[70] bằng cách nói dối, (về người đó) nhưng không phát hiện ra bất kỳ lỗi lầm nào nơi người đó. Hay người nào chỉ nghĩ rằng đă làm điều đó (yo vā pi katvā): hay ngược lại, người nào đó đă thực hiện một hành vi bất thiện, lại khẳng định rằng, “Chẳng phải ta đă làm điều này”. Sau khi đi tiếp, đă trở thành như vậy (pecca samā bhavanti): sau khi đă rời khỏi cơi đời này và tái sanh cơi đời sau, [261] họ sẽ kết thúc sanh thú trong hỏa ngục,[71]cả hai hạng người này đă trở thành cùng một hạng người theo cách họ kết thúc kiếp sống (destiny) của ḿnh trong (hỏa ngục). Cho dù sanh thú của họ rất có thể đă được định rơ, dù sao đi nữa tuổi thọ của họ cũng không được xác định,[72]v́ sau khi đă thực hiện vô vàn vô số các hành vi bất thiện người đó sẽ bị thiêu đốt[73] trong hỏa ngục trong một thời gian dài, (ngược lại) sau khi đă thực hiện một số điều bất thiện có giới hạn người đó cũng sẽ bị thiêu đốt chỉ trong một giai đoạn ngắn ngủi mà thôi. Nhưng do những hành vi bất thiện của cả hai hạng người này đều ti tiện giống nhau, chính v́ thế có lời nói rằng, “Những người nào thuộc ḍng dơi Maru lại dám thực hiện những điều ti tiện hèn hạ…sau này”[74] Hơn thế nữa[75], liên quan đến từ parattha (sau này) với từ trước đó là pecca (sau khi trải qua, sau đó) ư nghĩa ở đây là: người nào thực hiện những hành vi ti tiện hạ cấp đó pecca parattha (sau khi đă trải qua, sau này) sau khi đă rời khỏi cơi đời này, và tái sanh cơi đời sau cũng trở nên giống như vậy. Sau khi đă học thuộc ḷng (pariyāpuṇitvā): sau khi đă thu hồi lại được. Thiếu trách nhiệm (akārakā[76]): không chịu trách nhiệm (na kārakā) về phạm lỗi này. Họ đă không thực hiện việc này. (na-y-imehi kataṃ): người ta nói rằng điều tiếp theo sau đây diễn ra với họ, tức là. “Hành vi bất thiện này, các vị du sĩ thuộc các giáo phái khác đă rảo quanh khắp thành phố để rêu rao, chắc chắn các vị sa môn, là những đồ đệ của con trai ḍng họ Thích Ca này, đă không thực hiện điều bất thiện ti tiện đó, v́ khi bị họ tố cáo bằng những lời khiếm nhă và cọc cằn như vậy họ đă tỏ ra không chút áy náy lo lắng, cũng như chính họ đâu có ư định từ bỏ ḷng khoan dung và khiêm tốn – trái lại tất cả họ đă đơn giản không nguyền rủa và chỉ một mực khẳng định Phật Pháp, nói rằng, “Những người nào nói những điều không xảy ra…sẽ phải xuống hỏa ngục” Những vị sa môn là đồ đệ của con trai ḍng dơi Thích Ca đă thực hiện lời nguyền rủa, nói những lời như thể đă thực hiện[77] cùng một hành vi đó trên chúng ta như thể chúng ta vu cáo họ mà không thể đưa ra được điều chứng minh cụ thể nào.” Hay nói cách khác, họ đă thực hiện những lời nguyền rủa khẳng định rằng, ‘Hay người nào, cho dù đă làm điều đó(như vậy) lại khẳng định, ‘Ta không làm điều đó” ư nghĩa ở đây là những người này đă nguyền rủa ta, để thức tỉnh ta trước pháp thiếu trách nhiệm (về vấn đề này). Do kết quả của đoạn kệ này, Đức Phật đă công bố, chính nơi những người này đă thiếu tự tin, ngay sau khi nghe cùng một điều nguyền rủa như vậy, do vẻ oai nghi của Đức Phật; động tâm nổi lên đă gây ảnh hưởng đến nỗi, trước tiên họ đă không nhận ra mặc sự những sự việc diễn ra khác với cách thức họ đă được nghe về những điều đó và những vị du sĩ thuộc các giáo phái khác chỉ ước ao những điều bất lợi, những điều gây thiệt hại cho những đồ đệ của người con trai ḍng họ Thích Ca mà thôi, và chính v́ thế những điều như vậy không được khẳng định có liên quan đến những người đồ đệ này, v́ khó ḷng có thể biết được các vị sa môn đó[78] có ước muốn làm những điều đó chăng. Hơn thế nữa nhà vua[79] đă ra lệnh cho những cận thần t́m cho ra mục tiêu của những người giết hại Sundari. Giờ đây, vào lúc đó những đương sự trác táng trụy lạc đang bận rộn tranh căi với nhau trong bữa nhậu[80] với những đồng tiền kahapanas đă nhận được từ phía các vị thuộc các giáo phái khác và một trong số họ đă nói với những tên khác[81]mà rằng, “Sau khi hắn đă giết chết Sundari chỉ bằng một cú thoi và đă giấu xác nàng vào giữa đống ṿng hoa khô và đống rác gần đó, giờ đây chúng ta đang nhậu với những đồng tiền kiếm được từ hành động đó hay sao? – Hăy nghiêm túc[82]!” Vừa nghe thấy điều này, các cận thần của nhà vua liền bắt hết bọn người trác táng đó và đem đến nộp cho nhà vua. [262] Nhà vua đă tra hỏi những con người trụy lạc trác táng đó mà rằng, “Có phải các ngươi đă giết hại nàng chăng?” “Vâng, tâu bệ hạ” “Người nào đă sai khiến các ngươi giết nàng?” “Những vị du sĩ thuộc các giáo phái khác, tâu bệ hạ.” Nhà vua đă cho điều các vị du sĩ thuộc các giáo phái khác tới và bắt bọn họ phải thú nhận[83] sự thật, họ thú nhận rằng, “Chính chúng tôi đă sai bọn người này giết hại Sundari, chỉ muốn hạ uy tín (chê bai) vị sa môn Cồ Đàm; chẳng phải lỗi tại Ngài sa môn Cồ Đàm, cũng chẳng do lỗi các đồ đệ của Ngài đâu, đây chỉ là lỗi của chúng tôi mà thôi.” Thế rồi đức vua ra lệnh cho bọn họ phải rảo quanh khắp thành phố khẳng định lại như vậy. Họ đă thực hiện giống hệt lời đức vua đă truyền. Dân chúng dứt khoát tin lời họ hoàn toàn. Dân chúng đă la ó[84] những vị du sĩ thuộc các giáo phái khác, họ đă phải nhận h́nh phạt giết người. Thế rồi kể từ đó ḷng kính trọng và vinh dự dành cho Đức Phật và Tăng đoàn các vị Tỳ khưu ngày càng gia tăng thêm hơn trước. Các vị Tỳ khưu, ḷng tràn đầy vui sướng với điều kỳ diệu chưa từng được chứng kiến bao giờ[85], đă đi đến gặp Đức Phật và tỏ vẻ vui mừng ra mặt[86]. V́ lư do đó có lời nói rằng. “Thế rồi một số đông các du sĩ… nhằm khiến cho Đức Phật biến đi nên đă tạo ra tiếng đồn thổi đó.[87]” Nhưng v́ sao Đức Phật đă không thông báo cho các vị Tỳ khưu biết đó là hành vi của các vị du sĩ thuộc các giáo phái khác? Trước tiên, v́ không có điểm nào để thông báo những người nào trong bọn họ là những bậc thánh nhân. Trong khi đó liên quan đến những người phàm tục th́ Ngài không thông báo điều này làm ǵ có thể dẫn đến thiệt hại lâu dài và gây đau khổ cho những người nào chưa đặt niềm tin vào Ngài[88] và hơn thế nữa, đây không phải là cách Chư Phật[89] thường quen thực hiện. Ư muốn nói ở đây, thuật lại vấn đề đại loại như vậy đă xảy ra. V́ Đức Phật thường giải thích những tha hoá mà không nêu tên[90] bất kỳ ai. Đang khi Đức Phật b́nh thản ngồi thiền rất thanh tịnh trước những lời cáo buộc và điều đó cho thấy khó ḷng có thể đảo ngược được hành vi chỉ bằng cách tận dụng cơ hội mà có. Về điểm này có lời nói rằng[91]: “Chẳng phải trên không, không phải giữa đại dương, cũng chẳng phải người nào đó có khả năng lao được vào khe núi, khiến ta có thể khẳng định được điều này: đó là ta có thể vô can nơi những hậu quả do hành vi bất thiện đem lại.” (Dhp 127) Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm định lại toàn bộ vấn đề này, tức là ngay cả khi một lời nói[92] đầy ác ư các chúng sanh b́nh thường thốt lên có khả năng gây tổn thương đến sức mạnh giới (đạo đức) của ngài[93] là như thế nào. Quả thực đối với người quyết tâm được thành tựu với sức mạnh chịu đựng ghê gớm với ḷng khoan dung. Đối với Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānam) khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích sức mạnh chịu đựng với sức mạnh nhằm xua tan những sự việc này. Về vấn đề này: Chúng sanh quả thực giống như cây gậy thúc không thu thúc được (người khác) với lời nói giống như con voi xung trận với đầy đủ cung nỏ (tudanti vācāya [94] janā asaññatā [95] sarehi saṅgāmagataṃ va kuñjaraṃ): [263] chúng sanh dại khờ không tự thu thúc, vô kỷ luật, do không thu thúc được bất kỳ sự ǵ như thân v.v…kích thích, (châm chọc người khác) bằng gươm giáo dưới dạng lời nói, được coi như là trận chiến, chiến tranh. Voi, chính là sức mạnh đối kháng với Long Tượng, bằng cung tên. Với vũ khí[96]. Đây chính là bản chất tự nhiên của chúng sanh. Các vị Tỳ khưu với tâm hoàn toàn trong sạch, vừa khi nghe thấy điều đó, liền từ bỏ không thốt lên lời nhẫn tâm (sutvāna vākyaṃ pharusaṃ udīritaṃ adhivāsaye bhikkhu aduṭṭhacitto) : hơn thế nữa, các vị Tỳ khưu (bhikkhu) sẵn có bản chất nhận ra sợ hăi (bhayaṃ ikkhaṇa [97]) liên kết với ṿng luân hồi, cũng nhận ra rằng đây chính là bản chất của chính ṿng luân hồi vậy. Sau khi đă trở thành người với tâm không vấy bẩn ngay cả chỉ nhẹ nhàng chút ít, khi thu lượm được những lời khích lệ nơi ẩn dụ Lưỡi Cưa[98](M i 129) để làm sáng tỏ những ǵ không diễn ra đối với điều đă diễn ra[99], thế nên (khi vừa nghe được điều đó), ngài chịu đựng lời nói thô bỉ đó, lời tuyên bố, được thốt ra, công bố, khởi động như sức mạnh cú đấm sống c̣n [100] do chúng sanh khờ dại đó. Ư nghĩa ở đây là ngài đă chịu đựng điều đó bằng sức mạnh chịu đựng khoan dung vậy. Mặt khác người ta có thể đặt câu hỏi, liên quan đến vấn đề này như sau, “Nhưng đâu là hành vi của Đức Phật trong khi Đạo sư đă tích lũy được biết bao nhiêu thành tố công đức lại bận tâm đúng mức (tuy nhiên) vẫn gặp phải lời cáo buộc tàn nhẫn liên quan đến vụ việc không thực sự đă diễn ra?” V́ lư do đó có lời nói như sau - Chính cùng vị Thiện Thệ này, là một con người trác táng có tên là Munāli[101] trong kiếp trước khi vẫn c̣n là một bị Bồ Tát, ngài đă rảo quanh khắp nơi phụng vụ cho các phường gian ác, với không khéo tác ư. Một ngày nọ, ngài nh́n thấy một vị Độc Giác Phật (Paccekasambuddha) tên là Surabhi khoác trên ḿnh chiếc y cà sa để có thể vào thành phố khất thực. Và vào dịp đó có một người phụ nữ nọ đi theo ngài không xa.[102] Người phụ nữ trác táng này liền cáo buộc ngài nói rằng, “Đây là vị sa môn đội lốt Phạm Thiên (Phạm thiên trá h́nh)!” Sau khi đă bị thiêu đốt trong hỏa ngục trong nhiều (trăm ngàn[103] năm do hành vi đó, giờ đây đă trở thành Đức Phật, song di thục tàn dư sót lại do hành vi đó, lời cáo buộc đó liên quan đến những ǵ đă không diễn ra[104] thông qua tác nhân Sundari. Và với lời cáo buộc trong trường hợp này, cũng giống như những đau khổ gặp phải[105] dưới dạng những cáo buộc v.v… chống lại Đức Phật về phía những phụ nữ chuyên gây phiền toái[106] cho ngài, như Ciñcamāṇavikā[107] v.v… toàn bộ những dị thục tàn dư c̣n sót lại của những hành vi (này nọ) thực hiện trước đó, cũng đă được đề cập đến[108] là những “tàn dư nghiệp chướng”[109] (karmicremnants). V́ vậy có lời nói trong Apadāna[110] như sau: [A] “Trên một phiến đá rất thú vị, trong vùng phụ cận hồ Anotatta, với muôn vàn châu báu tỏa sáng, (nằm sâu) trong cánh rừng rậm tỏa hương thơm, vị lănh tụ thế gian này đă ngồi thiền ngay tại đó vây quanh[111] là một Tăng đoàn đông đảo các vị Tỳ khưu, ngài giải thích cho họ nghe về những hành vi tiền kiếp của ḿnh nói rằng: ‘Hỡi các vị Tỳ khưu, hăy mở tai lắng nghe những hành vi ta đă thực hiện trong quá khứ. (kết quả của những tàn dư nghiệp chướng đó giờ đây chính là dị thục c̣n tồn tại ngay cả khi ta đă đạt đến Như Lai tính vậy:[112] [B] [264] là một con người ăn chơi trác táng tên Munāli[113], trong một số lần tái sanh[114] trước đó chính vị đó đă cáo buộc Vị Độc Giác Phật Surabhi. Do dị thục hành vi đó, ta đă phải rơi xuống hoả ngục;[115] ta đă phải cảm nghiệm[116] những cảm giác đau đớn[117] trong nhiều[118] ngàn năm tại đó. Do dư sót những hành vi c̣n tồn lại đó thế nên hiện nay, trong lần tái sanh cuối cùng này, ta đă phải nhận lời cáo buộc qua tác nhân đó là Sundarikā[119] (Ap-a 119tt). [C] Đối với Đức Phật đă che khuất[120] lại có một đồ đệ tên là Nanda; sau khi đă cáo buộc ngài[121] ta đă phải chịu h́nh phạt trong hỏa ngục. Trong ṿng mười ngàn năm ta đă phải giam cầm trong hỏa ngục; sau khi đă được tái sanh trở lại h́nh hài con người[122] ta đă nhận được biết bao nhiều lời tố cáo. Thông qua dư sót của những hành vi quá khứ, Ciñcamāṇavikā đă tố cáo[123] ta[124] với những điều không hề diễn ra trước mặt[125] một đám đông dân chúng[126] (Ap-a 115-119). [D] Ta chính là một Bà la môn (Brahmam) được kính trọng và tôn thờ, được đề cập đến trong đoạn kệ sruti; trong cánh rừng vĩ đại ta có năm trăm Bà la môn trẻ (Brahmam) đang nhắc lại[127] những câu thần chú. Đă có thầy Roshi xuất hiện[128], với vẻ mặt kinh hoàng[129] vị này được thành tựu với năm phép thần thông. Là người có uy lực[130] rất lớn và[131] vừa nh́n thấy người đó xuất hiện, ta đă nhận ra người đó chính là người vô tội mà ta đă tố cáo. Sau đó ta đă nói với các đồ đệ mà rằng, “Vị Rishi này là người đă dễ duôi theo ước muốn dục lạc”; và ngay cả khi ta nói[132] th́ các Bà la môn trẻ tuổi này đă chấp thuận. Sau đó các vị Bà la môn (brahman) trẻ tuổi đó, khi họ c̣n đang khất thực [133] trong bộ tộc này bộ tộc nọ[134], tất cả họ đều công bố cho dân chúng rằng. “Vị Rishi này chính là người đă tỏ ra quá dễ duôi với những ước muốn dục lạc.” Thông Quả dị thục các hành vi đó năm trăm vị Tỳ khưu này[135] tất cả đều đă nhận được lời vu cáo này qua tác nhân là Sundarikā (Ap-a 121). [E] Trước đó, với tài sản giàu có làm nguyên nhân. Ta đă giết chết người anh em cùng cha khác mẹ[136] với ta; [137] và ta đă ném người anh em của ta xuống một nơi rất khó tới giữa hai ngọn núi[138] và đập chết hắn bằng một cục đá. Quả dị thục của hành vi đó Devadatta đă ném ḥn đá; (trúng ngay) ngón chân của ta, một mảnh đá vụn đă làm nát ngay chính ngón chân cái[139] của ta. (Ap-a 121tt). [F] Trước đó, khi c̣n là một đứa trẻ, vừa nh́n thấy Độc Giác Phật ( Độc Giác Ngộ) trên đường đi ta đang chơi giỡn ở đó, ta đă lấy một cục đá ném[140] ngài. [265] quả dị thục hành vi đó mà giờ đây lần tái sanh cuối cùng này, Devadatta đă tham gia vào một vụ giết người[141] nhằm mục đích giết hại[142] ta[143](Ap-a 122tt) [G] Trước kia, khi ta cưỡi trên lưng một chú voi, là vị Độc Giác Phật (Paccekamuni) tột đỉnh. Đang đi lang thang[144] khắp nơi kiếm đồ khất thực, ta đă dùng con voi xông vào ngài. Quả dị thục của hành vi đó chính tại thành phố Giribbaja[145] là thành phố[146] tuyệt vời nhất nơi những thành phố được pḥng thủ cẩn mật, một chú voi Nāḷāgirī dữ tợn chuyên nghiệp[147] đă xông tới tấn công ta[148]. (Ap-a 123tt) [H] Ta là một vị vua đang trên đường tản bộ[149] đă giết chết nhiều người[150] với thanh kiếm của ta. Quả dị thục của hành vi đó ta đă bị thiêu đốt [151] một cách tàn nhẫn trong hỏa ngục. Quả dị thục c̣n lại của hành vi đó, giờ đây[152] toàn bộ làn da chân[153] của ta đă bị tiêu huỷ hết, v́ hành vi nghiệp chướng chẳng bao giờ bị tiêu diệt cả[154](Ap-a 124) [I] Ta đă là[155] một đứa con của một ngư dân trong một làng[156] chài nọ; vừa mới nh́n thấy một con cá nhỏ bị giết[157]; ta đă khởi sanh |