NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7. Subhūti

[348] Trong Kinh Phật thứ bảy: Subhūti (Subhūti) là tên của vị trưởng lăo đó[1]. Do vị trưởng lăo này đă thực hiện được nguyện vọng[2] ngay dưới chân Đức Phật Padumuttara, là người đă tích lũy được nhiều nhân tố cần thiết trải qua một trăm ngàn đại kiếp (và) tiếp theo sau đó ngài đă tái sanh trong một gia đ́nh khả giả[3]có rất nhiều điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian một Đức Phật xuất hiện. Ngài đă bị động tâm (tâm phóng dật) vừa khi nghe lời diễn giải Phật Pháp của Đức Phật, ngài đă từ bỏ cuộc sống gia đ́nh và xuất gia, và rồi do thực chất là việc phục vụ của ngài đă đến thời điểm chu tất[4] đang khi ngài vẫn c̣n quyết tâm tu luyện khổ hạnh; chẳng bao lâu sau ngài đă chứng đắc sáu phép thần thông[5]; thông qua việc thành tựu ba la mật bờ cao thượng[6] trong việc tu luyện cuộc sống phạm hạnh, phù hợp với địa vị tối thượng Đức Phật ban tặng nơi trú xứ không c̣n bị xáo trộn[7], tức là “này các vị Tỳ khưu, vị trưởng lăo này là tối thượng trong các thinh văn của ta, là những người tâm không bị phóng dật, ư muốn nói đến ngài trưởng lăo Subhūti. (Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 24).

Một ngày kia, nhân cơ hội một dịp đặc biệt vào buổi tối kia, khi ngài vừa bước khỏi[8] nơi nghỉ ngơi ban ngày và đi vào khu vườn trong thiền viện, ngài đă đi vào sảnh đường thiền viện, ngài đă nh́n thấy Đức Phật (đang ngồi) diễn giải Phật Pháp giữa bốn hội chúng; chính v́ thế ngài cũng ngồi dưới gốc cây không xa Đức Phật là bao và ngài đă chứng đắc thiền quả tại đó, trước tiên sau khi đă thiết lập địa điểm thời gian[9] với ư định đến đảnh lễ Đức Phật sau khi ngài khởi xuất khỏi tột đỉnh diễn giải Phật Pháp, v́ lư do đó có lời nói rằng, “ và vào dịp đó, trưởng Lăo Subhūti…sau khi đă chứng đắc (định vô tầm); về điểm này thiền định về cơi sắc giới xuất phát từ thiền Jhanas bậc hai trở lên, cũng như toàn bộ thiền định thuộc cơi vô sắc giới lại là thiền định (vô tầm) trong đó tầm đă hoàn toàn biến mất; nhưng trong trường hợp này, đây chính là thiền định jhānas bậc bốn[10] liên kết với thánh quả A-la-hán được ám chỉ bằng cách “Thiền định trong đó tầm biến mất.” v́ tà tư duy, (cho dầu mới được tạm thời) diệt trừ do thiền bậc hai là thiền jhānas tiếp theo sau đó, đă không được diệt trừ một cách thích hợp, do bản chất không vĩnh viễn trong việc diệt trừ đó; hơn thế nữa, ta chỉ có thể diệt trừ được các tầm đó thông qua thánh đạo (đă được diệt trừ một cách thích hợp); chính v́ thế, do thực chất việc diệt trừ đó chỉ nổi lên vào giai đoạn cuối cùng nơi các tà tư duy đó, chính việc nhập định đó liên kết với thánh quả A-la-hán đă tạo thành thánh đạo tột đỉnh, đây là điều tuyệt đối, được gọi là “định vô tầm” điều này xuất hiện ngay từ lúc đầu nhập thiền Jhanas bậc bốn, v́ lư do đó có lời nói rằng, “nhưng trong trường hợp này chính thiền định Jhanas bậc bốn liên kết với thánh quả A-la-hán đó là điều ta muốn ám chỉ là, “định vô tầm.”[11]

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): vừa được biết dưới mọi khía cạnh, vấn đề này được coi là diệt trừ các tà tư duy và toàn bộ những phiền năo nơi phía trưởng lăo Subhūti, đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ vấn đề đó. Về điểm này:

Nhờ ngài ta đă thiêu rụi toàn bộ tầm.(yassa vitakkā vidhūpitā [12]): nhờ thánh nhân [349] hay đối với thánh nhân, toàn bộ tà tư duy, như các dục tầm v.v…[13] đă bị đốt sạch[14] (có nghĩa là) đă bị thiêu rụi, đă bị triệt phá tận gốc, thông qua trí liên kết với thánh đạo. Sau khi đă cắt đứt hoàn toàn (các tà tư duy) từ bên trong không dư sót bất kỳ điều ǵ [15](ajjhatta suvikappitā asesā): mặt khác những ǵ đă nổi lên[16] bên trong tương tục tính của chính chúng ta[17] được cho là đă bị cắt đứt hoàn toàn (suvikappitā = suṭṭhu vikappitā [18], thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) không dư sót bất kỳ điều ǵ (asesato, một dạng ngữ pháp khác), ư nghĩa ở đây là sau khi ta đă triệt phá tận gốc hoàn toàn (các tà tư duy) không c̣n dư sót lại bất kỳ điều ǵ. Chính do thoát khỏi (vượt qua) mọi kiết sử, chúng ta mới tầm được vô sắc (ta sagam aticca arūpasaññī): liên quan đến vấn đề này taṃ (không được dịch) chỉ là một tiểu từ  mà thôi. Hay nói cách khác từ taṃ có nghĩa là nhân duyên; v́ sau khi đă triệt phá đến tận gốc những tà tư duy không dư sót bất kỳ điều ǵ, chính v́ thế bằng cách vượt qua, bằng cách thắng vượt, là kết quả do việc thắng vượt đó đem lại, năm kiết sử bao gồm dục lạc v.v… hay nói khác đi toàn bộ ách phược phiền năo, chúng ta nhận thức được vô sắc  bằng những tưởng liên kết với thánh đạo và thánh quả được tiến hành bằng cách lấy níp bàn làm đối tượng (níp bàn) lúc này có tên gọi là “vô sắc” (arūpa) hoặc do trong đó không có những ǵ mang bản chất sắc pháp[19]  (rūpa) và do trong đó lại không có bất kỳ biến đổi nào[20] được cho là bị tiêu hoại[21](ruppana), bằng không do điều đó đă trở thành nhân duyên nơi pháp không thể diễn ra bất kỳ biến đổi[22] nào như vậy. Vượt qua bốn dục ách (catuyogātigato): bằng cách vượt qua[23], như đă được thực hiện, bằng toàn bộ tứ thánh đạo, tứ ách phược đó, tức là dục ách, hữu ách, kiến ách, và vô minh ách. Chắc chắn ngài sẽ không xuất hiện (na jātumeti): nguyên âm ma là một liên kết hai âm giữa các từ với nhau.[24] chắc chắn rằng hầu như ngài không xuất hiện thông qua tái sanh thêm một lần nữa, ư muốn nói ở đây là ngài sẽ không xuất hiện trở lại thông qua tái sanh một lần nữa bằng những lần tái sanh[25] thêm nữa trong tương lai. Họ cũng giải thích thêm là na jātimeti (ngài không xuất hiện thông qua tái sanh); ư nghĩa cũng giống hệt như vậy. Chính v́ thế Đức Phật đă khởi sanh tập Phật Tự Thuyết này được cử tới trong niềm vui to lớn dựa trên bản trụ pháp tính của trưởng lăo Subhūti trong phần chứng đắc thánh quả A-la-hán và do việc ngài chứng đắc Níp bàn không c̣n sót lại bất kỳ tàn dư  sanh y nào.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ bảy kết thúc tại đây.  


 

-ooOoo-

[1]. Những ǵ tiếp theo sau đó ta nên giải thích liên quan đến AA i 220tt trong đó có khẳng định rằng dưới thời Đức Phật tổ Padumuttara ngài đă chứng đắc năm phép thần thông và tám thiền chứng, nhưng không giống người bạn của ḿnh, ngài đă không đạt đến bậc A-la-hán.  Ngài đă cúng dường cho Đức Phật Padumuttara hoa quả để sửa soạn nơi cho vị Phật này ngồi thiền diệt, tiếp theo sau đó, sau khi nh́n thấy Padumuttara đă ban cho vị đồ đệ (sāvaka) được địa vị tối thượng như vậy chỉ dành cho những người không xao động và xứng đáng nhận công đức cúng dường, ngài đă thực hiện một lời ước được trở thành một Đức Phật trong tương lai.  

[2]. Katābhinīhāro; xin đọc chú giải Ud-a 244 ở trên.

[3].  Chú giải Be giải thích là gahapatikule c̣n bản văn Ce Se ghi là mahati kule; phù hợp với chú giải AA i 223, có nghĩa là trong ngôi nhà của thương gia Sumana giàu có (và theo Bretheren tr. 4, lại chính là người em trai của ngài Anāthapiṇḍika)

[4]. Katādhikārattā; xin đọc chú giải Ud-a 78 ở trên.

[5]. Xin đọc chú giải Ud-a 161.

[6]. Bản văn ghi thêm Ca; c̣n  chú giải Ce Be Se lại bỏ qua.

[7]. Araṇavihāre; raa thường có nghĩa là trận chiến, đánh nhau, cuộc xung đột, nhưng trong  chú giải AA i 220 lại giải thích là các phiền năo dục v.v… (raan ti rāgādayo kilesā vuccanti, BHS cũng sử dụng nghĩa này; về điểm này ngài Dhammapāla không lên tiếng rất có thể hàm ư việc ngài ngầm chấp nhận cách giải thích này, cho dù trong chú giải Pv-a 230 ngài đă giải thích từ này là người nào có ḷng từ tâm, những người thực hành tứ vô lượng tâm và cũng là cách ngài Subhūti đă dùng đến trong chuyến đi khất thực của ḿnh nhằm tạo thêm công đức cho thí chủ, chính v́ cách làm này mà ngài đă được ban tặng cho một vị trí tối thượng trong số những người xứng đáng nhận công đức cúng dường làm phần thưởng (AA i 221). Tôi chọn từ “xao động” ở đây cũng chính là v́ muốn chỉ rơ bao gồm cả những xao động tâm cần phải tránh trong suốt qui tŕnh thực hiện từ tâm, xin cũng đọc chú giải Ps i 96tt, trong đó ngài Ñāamoli đă giải thích là “nơi cư trú không c̣n xung đột.”

[8]. Rất có thể xuất phát từ kuṭi của ngài, rất có thể đây chỉ là phô trương.

[9]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kālapariccheda, c̣n bản văn ghi là kāle pariccheda.

[10]. Xin đọc Ud-a 188 để biết thêm chi tiết.

[11]. Ngay ở trên.

[12]. Chú giải Ce Be Se và Ud cũng giải thích giống như vậy, c̣n bản văn ghi là vidhupitā; có điều không mấy rơ ràng tại sao ngài Woodward lại bác bỏ cách giải thích này.

[13]. Xin đọc chú giải Ud-a 217 ở trên.

[14]. Vidhūpitā; có nghĩa là từ bỏ được việc hun khói để tẩy uế. Xin đọc chú giải EV i 196 giải thích về Thag 448 và Guide 38 n 128/1 giải thích một từ tương tự là dhūpayitā

[15]. Asesā h́nh như  bỏ qua bản dịch chú giải Sn 7 trong GD ii 1.

[16]. Chú giải Ce Be Se giải thích là uppajjanārahā c̣n bản văn lại ghi là ’ uppajjanārahā. CPD khẳng định rằng nghĩa của từ uppajjanārahā ở đây chính là “xứng phải tái sanh”, tuy nhiên đă có một cuộc thẩm tra nhiều đoạn văn từ này đă xuất hiện (td. Thag-a ii 178. It-a i 44, 71, ii 11,51. 88, Vv-a 118) rơ ràng cho thấy rằng điều này thật không thỏa đáng, nếu không muốn nói là hoàn toàn sai, ư nghĩa đích thực có nghĩa là những ǵ cho dù có thể khởi sanh, nhưng lại không xuất hiện, do một số hành vi can thiệp vào hay ngăn cản, tỷ dụ như, chú giải It-a i 44 h́nh như tham lam đă tác động khiến cho thánh đạo không thể chứng đắc thánh quả giống như một cây đă có quả, song không thể chín mùi trong cùng thời gian đó và đă bị đốn hạ; trên cơ sở này, chú giải Vv-a 118 ta không nên hiểu là đang mô tả một người phụ nữ sắp chết và người đó không có cách nào khác là tái sanh nơi khổ cảnh nếu như Đức Phật không thuyết giảng và ngài đă để cho nàng được thực hiện đủ công đức để được tái sanh, thay vào đó, trong cơi tam thập tam (tuy nhiên điểm này không lộ rơ trong bản dịch của tôi trong VS 175) xin cũng đọc chú giải Ud-a 39 ở trên. Trong trường hợp hiện nay, có điều không hoàn toàn rơ ràng không hiểu ajjhatta suvikappitā asesā có phải là một ân đức khác thuộc những tầm đă được đề cập đến trước đó đă bị thiêu rụi hết hay chăng, hay chỉ là một nhóm tầm tiếp theo đầy tiềm năng hay chăng, tôi dịch theo cách thứ nhất; nếu theo cách thứ hai, th́ đoạn kệ sẽ trở thành:  “người nào  có các tầm đă bị thiêu rụi, (điều c̣n lại) cũng đă bị  cắt đứt hoàn toàn không dư sót bất kỳ điều ǵ.” 

[17]. Xin đọc chú giải Ud-a 11. 189, 374.

[18]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy; c̣n bản văn lại bỏ qua.

[19]. Chú giải Ce Be Se giải thích là rūpasabhāvābhāvato c̣n bản văn ghi là rūpābhāvato.

[20]. Vikāra; hay là thay đổi, biến đổi, dao động v.v…

[21].  Xin đọc chú giải Ud-a 129 ở trên trong đó người ta cho rằng đây chính là những trạng thái của sắc pháp (rūpa).

[22]. Nibbikārabhāvahetuto; chú giải Be giải thích là nibbikārahetubhāvato.

[23]. Một từ nguyên tương đương; atigato< atikkamitvā gato.

[24].  Chú giải Ce Be Se giải thích là makāro padasandhikaro  c̣n bản văn ghi là ma-ākāro padasandhikāro.

[25]. Punabbhavābhinibbatti; trong chú giải SA ii 71 người ta giải thích là punabbhavasakhātā abhinibbatti.