NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6. SOṆA

[307] Trong Kinh Phật thứ sáu: Trong số những người Avantis (Avantīsu): trong vương quốc Avanti[1]. Trong thành Kuraraghara (Kuraraghare) trong thành phố có tên như vậy. Trên đỉnh ngọn núi Pavatta (Pavatte pabbate [2]): trên ngọn núi có tên là “Pavatta”[3]; người ta cũng giải thích là Papāte pabbate[4] (Trên ngọn núi có vách đá thẳng đứng). Soṇa Kuṭikaṇṇa, cận sự nam (Soo upāsako kuikaṇṇo): là người có tên là “Soṇa[5], đó là một cận sự nam nhờ vào hạnh nguyện theo đuổi bậc thánh nhân bằng thọ tŕ tam qui, và người này, do đeo một đôi bông tai (kaṇṇa) giá khoảng một koi[6] nên đă trở nên nổi tiếng với tên gọi là “Kuṭikaṇṇa -  đang khi đó lẽ ra ta phải gọi ngài là Koṭikaṇṇa[7] - ư muốn ám chỉ ở đây là ngài không phải là “Soṇa thanh tú[8]”. Đối với người này, v́ là một người hết ḷng kính trọng giáo lư vừa nghe giáo Pháp trước sự hiện diện của ngài Trưởng lăo Mahākaccāna[9], với tư cách là một người đă qui y nơi tam quy và thọ giới, người ta đă xây cho ngài một thiền viện trên đỉnh núi Pavatta[10] ngay một địa điểm chỉ có nước và bóng cây mát, và mời vị trưởng lăo đến cư trú trong đó và rồi hỗ trợ ngài với đủ bốn điều thiết yếu cho cuộc sống (upaṭṭhāti) v́ lư do đó có lời nói rằng, “ngài là một người đệ tử đắc lực cho Trưởng lăo Mahākaccāna. V́ thỉnh thoảng ngài cũng đến hầu hạ (upaṭṭhāna) trưởng lăo. Và rồi trưởng lăo cũng diễn giải Phật Pháp cho cận sự nam. Hoàn toàn kinh ngạc về điều này, với ḷng tràn ngập phấn khởi đối với việc tu luyện Phật Pháp trong tương lai.[11]

Thế rồi một ngày kia, cận sự nam đó đến thành Ujjeni, cùng với một đoàn thương buôn, nhằm mục đích buôn bán. Đêm hôm đó – sau khi đoàn thương buôn đă lên đường, cận sự nam đó liền đi vào rừng - bước sang một bên, v́ sợ lạc vào với đám đông và rồi cận sự nam bắt đầu ngủ thiếp đi. Đoàn thương buôn thức dậy vào lúc b́nh minh và lên đường không có bất kỳ người nào đánh thức Soṇa, tất cả mọi người đă lên đường mà không nhớ đến[12] cận sự nam. Không thấy một ai cả khi người đó thức dậy vào lúc màn đêm đă nhường chỗ cho b́nh minh ló rạng, cận sự nam đă đi theo con đường đoàn thương buôn đă đi, càng ngày càng đi nhanh hơn, rồi đến một gốc cây chuối[13].Và tại đó cận sự nam đă nh́n thấy một người có thân h́nh rất lớn, dáng vẻ biến dạng đang đi theo, chính người đó đang ăn ngấu nhiến từng miếng thịt của ḿnh được róc ra khỏi xương[14]. Vừa nh́n thấy con người đó, cận sự nam liền hỏi người đó là ai mà rằng, “ta là một ngạ quỷ, thưa ngài,” “Tại sao nhà ngươi lại hành động như vậy?” “do chính nghiệp chướng trước đây của ta”. “Nhưng là nghiệp chướng nào vậy?”[15] “Trước đó ta là một cư dân trong thành Bhārukaccha, là một lái buôn bất lương ta đă nuốt trọng,[16] lừa dối những ǵ thuộc về người khác; trong khi đó có một vị sa môn đến gặp ta để kiếm đồ khất thực, ta đă nguyền rủa ngài nói rằng, “Hăy cắn xé chính thịt nhà ngươi mà ăn! Chính do nghiệp chướng đó mà giờ đây ta phải chịu đau khổ như thế này.” [308] Vừa nghe thấy như vậy Soṇa trở nên vô cùng căm phẫn.

Sau đó, đang trên đường đi Soṇa nh́n thấy hai ngạ quỷ[17] dưới dạng hai đứa trẻ, máu đen[18] đang rỉ ra từ miệng và Soṇa đă hỏi chúng như thế; và cả hai ngạ quỷ này cũng đă nói cho cận sự nam Soṇa biết về chính nghiệp chướng chúng đang mắc phải. Người ta kể lại rằng khi hai đứa trẻ đang kiếm sống trong thành Bhārukaccha bằng cách bán nước thơm[19] trong suốt thời gian chúng c̣n nhỏ, chúng về nhà đang khi mẹ chúng thỉnh và cúng dường các vị trưởng lăo đă đoạn tận được hết các phiền năo và chúng đă nguyền rủa mẹ mà rằng: “Tại sao mẹ lại đem của cải chúng ta kiếm được thiết đăi các vị sa môn này? Mong rằng thức ăn mẹ cho họ ăn sẽ rỉ thành máu đen khỏi miệng các vị sa môn kia!”[20] Sau khi đă bị thiêu đốt trong hoả ngục do kết quả của hành vi đó, hai đứa đă tái sanh, do dị thục c̣n sót lại trong bọn ngạ quỷ và phải chịu cùng thứ đau khổ như vậy. Vừa khi nghe thấy như vậy Soṇa vô cùng động tâm.

Đang khi quay trở về gia đ́nh sau khi đă đến buôn bán trong thành Ujjeni và kết thúc chuyến buôn bán (thực hiện tại đó), Soṇa đi lại gặp vị trưởng lăo, sau khi đă đảnh lễ ngài và thuật lại cho vị trưởng lăo biết về sự việc đó. Thế rồi vị trưởng lăo đă diễn giải Phật Pháp cho cận sự nam, giải thích kỹ lưỡng về mối hiểm nguy pravtti và những lợi điểm nivrtti[21] Soṇa quay trở về nhà, sau khi đă đảnh lễ trưởng lăo, ăn bữa cơm tối; và rồi lên giường ngủ; nhưng ông ta đă thức giấc sau khi mới ngủ được một chút. Cận sự nam Soṇa đă ngồi ngay trong pḥng ngủ của ḿnh[22] và bắt đầu quán xét lại Phật Pháp vừa mới nghe. Ngay khi đang c̣n quán xét lại Phật Pháp đó và nhớ lại những cách tái sanh[23] hai ngạ quỷ đó đă phải chịu, những đau khổ nơi ṿng luân hồi hiện ra trước mắt ông với những nỗi khiếp sợ tột độ. Tâm Soṇa hướng tới việc xuất gia, Soṇa tắm rửa sạch sẽ và ngay khi b́nh minh vừa ló rạng ông đă đi đến gặp trưởng lăo, xin với ngài biết mọi ư nguyện của ḿnh và năn nỉ ngài cho phép được xuất gia. V́ lư do đó có lời nói rằng. “Thế rồi (nẩy ra ư định này trong đầu) Soṇa Kuikaṇṇa, người cận sự nam đă chọn sống cuộc đời sa môn… ‘Thưa ngài, mong rằng ngài Mahākaccāna đáng kính[24] cho phép con được xuất gia.” Về điểm này:

Đây là ư nghĩa ngắn gọn[25] các từ bắt đầu với “Bằng bất kỳ cách nào”:  bằng bất kỳ cách nào ngài Mahākaccāna đáng kính[26] đă diễn giải, kể lại, cho biết, thiết lập, tỏ lộ, phân loại, làm rơ và thể hiện Phật Pháp, chính v́ lư do đó h́nh như đối với ta sau khi đă quán xét kỹ lưỡng điều đó, thấy rằng cuộc sống phạm hạnh này bao gồm tam học[27]điều ta phải theo đuổi đến cùng, không thể gián đoạn cho dù chỉ trong một ngày. Liên quan đến việc cần thiết phải duy tŕ (cuộc sống sa môn) này cho đến hơi thở (suy nghĩ) cuối cùng, là điều phải được theo đuổi và phải thanh tịnh tuyệt đối,  cho dù cuộc sống đó có thể bị hoen ố do những vẩn đục phiền năo[28] chỉ trong một ngày, liên quan đến nhu cầu cần thiết phải duy tŕ cho đến hơi thở (suy nghĩ) cuối cùng của ta, chính là điều ta phải theo đuổi một cách nhuần nhuyễn (conch-smooth), giống như ốc xà cừ đă được tinh chế mịn màng,[29] đă được đánh bóng kỹ càng.[30];  (Ấy vậy) công việc đó [309] không dễ ǵ thực hiện đối với người nào c̣n cư trú tại gia đ́nh, bởi những ai vẫn c̣n duy tŕ cuộc sống gia đ́nh[31] (cụ thể là) để theo đuổi cuộc sống phạm hạnh sung măn tuyệt đối, được thanh tịnh tuyệt đối, được nhuần nhuyễn tuyệt đối; làm sao có thể thực hiện điều đó nếu như ta không xuống tóc cắt râu, sau khi chỉ quấn thân ḿnh với loại vải thích hợp để chỉ đủ che phủ thân ḿnh[32] đối với những người theo đuổi cuộc sống phạm hạnh đó là màu vàng, sau khi đă đắp cho ḿnh chỉ một màu vàng[33] ngài đă xuất gia, khởi xuất khỏi cuộc sống gia đ́nh  đi vào cuộc sống vô gia cư, ngài đă xuất gia, đă gia nhập vào bắt tay vào – ư nghĩa là phải tu tập - cuộc sống vô gia cư đó[34], việc xuất gia đó  chính là “cuộc sống vô gia cư”[35] v́ trong cuộc sống xuất gia đó không có bất kỳ sinh hoạt nào nhằm đem lại hạnh phúc cho gia đ́nh, như trồng tỉa, buôn bán v.v… như đă được đề cập đến trong cuộc sống gia đ́nh.”[36]

Khi cận sự nam Soṇa đă bạch cho vị trưởng lăo như vậy về việc ông đă nhập thiền đang khi thực hiện sống độc cư[37] ngài đă cố nài nỉ như sau, “Hỡi trưởng lăo Mahākaccāna đáng kính, mong rằng ngài cho phép con được xuất gia[38] và thực hiện ước muốn tu tập Phật Pháp”. Nhưng sau khi đă suy xét xem Soṇa có trí trưởng thành được đến mức độ nào đang khi chờ đợi cho trí đó được trưởng thành thêm, vị trưởng lăo đă khiến cho Soṇa gặp chán nản trước ao ước xuất gia bằng cách nói rằng, “Đây là điều rất khó thực hiện” v.v… Về điểm này”.

Chỉ dùng một bữa ăn duy nhất trong ngày (ekabhatta): ngài đề cập đến việc kiêng cữ ăn uống ngoài những thời gian đă ấn định như sau: “Người xuất gia chỉ dùng một bữa trong ngày, lại phải kiêng cữ không ăn vào ban đêm, họ phải kiêng cữ không ăn phi thời với giới bổn.” (D i 64[39]). Chỉ ngủ một ḿnh (ekaseyya) : không ngủ với bạn t́nh; và liên quan đến vấn đề này, ngài đă giải thích rơ, dưới tiêu đề về “ngủ”, biệt ly quan hệ thân liên kết với bốn oai nghi thân, như đă đề cập đến theo phương pháp “đứng một ḿnh, đi một ḿnh, ngồi một ḿnh” ( [40] ) v.v…không phải chỉ có ngủ trong đơn độc một ḿnh mà thôi. Cuộc sống phạm hạnh (brahmaccariya): cuộc sống phạm hạnh chính là kiêng cữ không được giao cấu t́nh dục[41]; hay nói cách khác cuộc sống phạm hạnh chính là giáo lư dạy tự nguyện theo đuổi tam học. Giờ đây xin hăy đến (igha) đây là một tiểu từ nhằm thúc đẩy động viên. Trong khi đó vẫn c̣n ’ eva) vẫn c̣n sống trong gia đ́nh. Tự hiến ḿnh theo giáo lư của các Chư Phật (Buddhāna sāsana [42] anuyuñja): tự nguyện thọ tŕ ngũ giới, bát giới hay thập giới cùng với những cách phân loại nơi các giới luật đó đă được vĩnh viễn ràng buộc và những loại liên kết với  trai giới v.v…[43], cộng với những việc tu tập thiền định và tuệ giác phù hợp với từng giới luật. Như vậy cận sự nam phải tự nguyện gia nhập thực hiện giai đoạn sơ đạo trước khi chứng đắc thánh đạo được biết đến với tên gọi là “Giáo lư các Đức Phật” v́ lư do đó ngài nói rằng “Đối với cuộc sống phạm hạnh chỉ dùng một bữa ăn duy nhất trong ngày, cùng với việc ngủ nghỉ một ḿnh, vào những thời gian thích hợp được ấn định.” Về điểm này:

Vào những thời gian đă ấn định (kālayutta): như đă ấn định (uttham) liên quan đến thời điểm thích hợp (kālena) (giống như vậy), đó là vào giờ thứ tư, thứ năm và thứ tám v.v… nhiều ngày trong một tuần, hay nói cách khác vào thời điểm đă được ấn định (yuttaṃ), h́nh như, có thể[44] đối với ai đă tự nguyện theo đuổi cuộc sống phạm hạnh vào những thời điểm đă được ấn định như đă nói đến ở trên (kāle), điều này không ám chỉ việc xuất gia. Trưởng lăo đă nói lên toàn bộ những ǵ để cho Soṇa tự sẵn sàng[45] trước những việc tu luyện đúng đắn đó, và nêu lên những khó khăn khi phải từ bỏ những dục lạc do nhận thức của Soṇa chưa đạt đến trưởng thành, [310]  chứ không phải khiến cho Soṇa phải nản ḷng với khao khát xuất gia. Việc thôi thúc thực hiện xuất gia (pabbajjābhisakhāro): nỗ lực tạo ra ư nguyện xuất gia. Trở nên thanh thản (paippassambhi): lắng dịu xuống do khả năng của Soṇa đă trưởng thành và do tâm phóng dật không c̣n sắc bén nữa. Cho dù pháp đó đă lắng dịu, dù sao Soṇa vẫn tiếp tục lắng nghe Phật Pháp đang khi ngồi thiền quanh vị trưởng lăo tỏ ḷng kính lễ với ngài sau khi đă đi đến gặp ngài đang khi vị trưởng lăo đưa ra rất nhiều điều kiện dành cho Soṇa. Cũng trong lần thứ hai, trong tâm Soṇa lại nổi lên ư tưởng xuất gia theo cùng một cách như đă khẳng định ở trên. Nhưng ngay trong cơ hội thứ ba, biết rằng trí của Soṇa đă trưởng thành, vị trưởng lăo đă nhận ra rằng giờ đây đă đến lúc cho phép Soṇa[46] xuất gia, và được thọ cụ túc giới, sau khi ngài đă t́m ra được một nhóm[47] các vị Tỳ khưu. Ba năm đă trôi qua, liên quan đến vấn đề này có lời nói rằng, “Thế rồi, lần thứ hai, Soṇa…đă cho (trưởng lăo Soṇa) thọ cụ túc giới.” Về điểm này:

Rất ít các vị Tỳ khưu (appabhikkhuko): đang thiếu vắng v́ có rất ít các vị Tỳ khưu; người ta kể lại rằng vào thời đó các vị Tỳ khưu đang cư trú, phần lớn trong vùng[48] trung tâm thành phố mà thôi. Chính v́ thế chỉ có[49] một ít các vị Tỳ khưu trụ tŕ tại đó; trong khi đó có các vị cư trú tách biệt theo cách sau đây, tức là. Có vị cư trú nơi chợ búa thị trấn[50], có vài vị lại cư trú ở nơi khác. Sau nhiều khó khăn (kicchena): sau biết bao khổ cực.[51] Sau nhiều phiền toái (kasirena): sau khi đă phải trải qua nhiều đau đớn. Từ nơi này đến nơi khác (tato tato): di chuyển từ làng này sang làng khác và đến các khu thị trấn chợ búa v.v… V́ đối với các vị Tỳ khưu khác do vị trưởng lăo chỉ qui tụ sau khi họ đă sẵn sàng chấp nhận một số ít trong số họ, những vị Tỳ khưu được chọn trước đó lại ra đi với lư do bận công việc này nọ, trong khi đó các vị khác (các vị mới tới), sau khi phải chờ đợi trong một thời gian dài, đă bỏ đi v́ họ không được chấp nhận thêm một lần nữa (những người trước đó đă được chọn). Chỉ sau một thời gian dài, vị trưởng lăo đă qui tụ lại theo cùng một cách nêu trên từ một Tăng đoàn mới xuất hiện, vào thời điểm vị trưởng lăo đang ở một ḿnh. Ngài đă tụ họp lại thành một Tăng đoàn các vị Tỳ khưu gồm một tăng hội mười người (dasavagga bhikkhusagha sannipātetvā): vào thời điểm đó, Đức Phật đă cho phép thọ cụ túc giới, ngay cả trong các vùng biên giới nếu có một Tăng đoàn gồm mười vị Tỳ khưu; v́ đây là điều trưởng lăo đă khẩn khoản yêu cầu, kết quả là ngài đă cho phép thành lập Tăng đoàn ở các vùng biên giới và cho phép thọ cụ túc giới, thành lập một Tăng đoàn chỉ gồm có năm vị Tỳ khưu mà thôi.[52] V́ lư do đó có lời nói rằng, “Sau khi đă trải qua ba năm…đă tụ tập tại đó”. Sau khi đă trải qua An-cư Kiết Hạ (vassaṃvutthassa): sau khi đă lưu lại đó một thời gian,[53] sau khi đă tham gia an cư kiết hạ lần đầu tiên sau khi đă thọ cụ túc giới. Cho dù là người này người nọ (īdiso ca īdiso ca): theo cách này vị trưởng lăo Soṇa, do đức tin của ngài chỉ thuộc một người cận sự nam phàm phu (puthujjana)[54], như vậy ngài đă[55] ước ao muốn gặp Đức Phật , tức là. Mới chỉ lắng nghe Phật Pháp thôi mà cận sự nam đă thực hiện như vậy dưới dạng như vậy.[56] Được thành tựu cho những ân đức đặc biệt cả về thân lẫn tâm và về thân[57] được trang bị[58] với ân đức tuyệt vời thuộc pháp thân như vậy – Tôi[59]phải đến gặp Đức Phật trực diện, nhưng ngược lại, sau khi ngài đă nhập thiền định do kết quả niềm hỷ lạc đem lại v.v…liên quan đến Phật Pháp [60] ngay khi vừa yêu cầu như vậy, vào một buổi sáng nọ, sau khi đă lưu lại với vị Đạo sư trong hương pḥng, ngài đang tụng kinh, đối diện với Đạo sư, mười sáu kinh thuộc về phẩm tám, do cảm nghiệm được cả ư nghĩa và Phật Pháp sau khi đă có chung một mục đích, tập trung chú ư toàn tâm[61]. [311] Thế rồi, sau khi đă đạt đến tột đỉnh với lời tụng du dương đó, ngài đă thiết lập thiền minh sát và khi đă quán các hành. Đến đúng thời điểm chín mùi ngài đă chứng đắc A-la-hán. Chính v́ thế họ cho rằng v́ mục tiêu này việc lưu lại cùng với Đức Phật trong hương pḥng là điều mà Đức Phật đă truyền giới[62] cho Soṇa.

Tuy nhiên, có một số người lại cho rằng, lời công bố này, tức là “Chính ta phải trực diện gặp[63]. Đức Phật ở đây chỉ liên quan đến việc nh́n thấy thân của ngài là đủ. V́ chính lúc trưởng lăo Soṇa đang thực hành và áp dụng Phật Pháp, sau khi có được đề mục thiền trước sự hiện diện của vị trưởng lăo ngay sau khi ngài đă xuất gia và khi ngài là người đă thọ cụ túc giới, Soṇa đă trở thành vị Nhập Lưu. Trong khi đó, sau khi đă thọ cụ túc giới ngài chú tâm đến thiền minh sát nhằm chứng đắc thánh đạo cao hơn, nghĩ rằng, “Ngay cả các cận sự nam cũng có thể trở thành các vị Nhập Lưu. Ta cũng đă trở thành một vị Nhập Lưu. Làm sao tâm ta lại gắn chặt với điểm này? Trở thành người chứng đắc sáu phép thần thông[64] đang khi vẫn c̣n trong mùa an cư kiết hạ; và rồi cử hành nghi lễ Pavāraā là thanh tịnh Pavāraā[65] V́ sau khi đă nhận ra được thánh đế, chính Phật Pháp của Đức Phật đă được chỉ dạy rơ ràng; v́ thế đây là điều đă được nhắc tới. “Người nào thấu triệt Phật Pháp này Vakkali, đă nh́n thấy ḿnh, người nào nh́n thấy ḿnh, th́ cũng nhận ra Phật Pháp vậy” (S iii 120) Chính v́ thế, khi nhận ra tướng Phật Pháp đă được thực hiện[66] quá sớm đến như vậy, hơn nữa sau khi đă cử hành Parāvaā ngài đă trở thành vị nhập lưu, là người có ḷng ước ao được nh́n thấy thân của ngài.

Sace ma upajjhāyo anujānāt i[67] (nếu đạo sư của ta cho phép) cũng là một cách giải thích. Hơn thế nữa, một số lại ghi là bhante (Đức Phật). Tương tự như vậy, sādhu sādhu āvuso Soṇa, gaccha tvam avuso Soṇa [68] (“Tốt lắm, hỡi chư huynh Soṇa, tốt lắm!”  Hỡi chư huynh Soṇa, mong rằng  nhà ngươi hăy lên đường…”) cũng lại là cách giải thích khác nữa, cho dù (mā) āvuso không xuất hiện trong một số Kinh Phật.[69] Tương tự như vậy, evaṃ [70]āvuso ti kho āyasmā Soṇo (“Hỡi chư huynh Soṇa, chính v́ thế hăy thực hiện như vậy.” vị trưởng lăo Soṇa cho biết như vậy) cũng là một cách giải thích[71]; v́ khi Đức Phật c̣n hiện diện, hàng ngày các vị Tỳ khưu thường gọi nhau là āvusa (pháp đệ). Ư nghĩa các từ “Đức Phật chính là người tạo nên ḷng sùng kính” v.v… đă được khẳng định ở trên[72].

Hỡi vị Tỳ khưu, ta tin tưởng nhà ngươi đang được mạnh khỏe (kacci bhikkhu khamanīya): hỡi vị Tỳ khưu, thân gồm tứ đại, cửu môn[73] của nhà người, ta tin chắc nhà ngươi đang được mạnh khỏe. Liệu nhà ngươi có chịu đựng được để tự tồn tại chăng? Liệu nhà ngươi có thể vượt qua được gánh nặng đau khổ chăng? Ta tin tưởng là nhà ngươi sẽ t́m được trợ giúp (kacci yāpanīya): ngài giải thích: “Liệu nhà ngươi có thể tự duy tŕ, tự tiếp tục tiến lên, với biết bao nhiêu nhiệm vụ đến như vậy chăng? có vượt qua được bất kỳ trở ngại nào hay chăng?” Ta tin tưởng rằng nhà ngươi …chẳng bị phiền năo (kacci ’si appakilamathena): ta tin tưởng rằng, nhà ngươi chẳng phải chịu nhiều đau khổ to lớn đến thế sau khi đă vượt qua được một khoảng cách xa đến như vậy.

Sự việc diễn ra là (etad ahosi): khi ngài c̣n đang tùy niệm công việc thường ngày đối với các Chư Phật; [312] việc tu luyện thường nhật này, giờ đây được đề cập đến bằng cách “( Đức Phật muốn lưu trú trong cùng một thiền viện với vị Tỳ khưu đó) do vị Đạo sư đă thỉnh cầu ngài như vậy.” v.v…[74] đây là điều trưởng lăo Ānanda đă ghi nhớ trong tâm. Trong cùng một thiền viện (ekavihāre): trong cùng hương pḥng, v́ trong trường hợp này hương pḥng đó ám chỉ [75]“thiền viện” vậy. Lưu lại: vatthuṃ = vasituṃ (một dạng ngữ pháp khác). Đang trải qua (phần lớn trong đêm) trong một phiên họp (nisajjāya vītināmetvā): liên quan đến vấn đề này một số người cho rằng, do kéo dài thời gian do đạt đến nhiều chứng đắc[76]  Đức Phật[77] đă tán thán trưởng lăo Soṇa, theo thứ tự trực tiếp và gián tiếp hay ngược lại, toàn bộ chứng đắc được dành cho các đồ đệ của ngài, trải qua thời điểm tốt nhất trong đêm trong cuộc đàm đạo ngoài trời, họ đă rửa chân cho ngài và rồi ngài đi vào thiền viện, chính v́ thế khi vừa nhận ra ư của Đức Phật, Trưởng lăo Soṇa cũng đạt được toàn bộ các chứng đắc phù hợp với câu, đă trải qua phần tốt nhất trong đêm trong cuộc đàm đạo ngoài trời ngài đă rửa chân và rồi vào trong thiền viện. Và khi đă vào thiền viện được phép của  Đức Phật[78]  ngài đắp ḿnh với y cà sa treo trên màn gió[79] và rồi tham dự buổi thuyết pháp ngồi ngay dưới chân Đức Phật. Được yêu cầu (ajjhesi): ra lệnh.  Hỡi vị Tỳ khưu, mong rằng Phật Pháp truyền cảm hứng cho nhà ngươi nói lên (điều đó) (paṭibhātu ta bhikkhu dhammo bhāsitu): hỡi vị Tỳ khưu, mong rằng Phật Pháp tỏ rỏ cho nhà ngươi để có thể nói lên được, mong rằng Phật Pháp xuất hiện trước trí ngươi[80], có nghĩa là tụng kinh như đă nghe được, như đă chế ngự được. (Họ đă tụng) Mười sáu kinh trong chương Tám (soḷasa-aṭṭhakathavaggikāni): mười sáu kinh, bắt đầu với Kinh Kāmasutta, đă tạo thành một chương tám Kinh[81] Đă tụng lên một cách du dương (sārena abhai): cất tiếng tụng lên cách du dương bằng cách bắt giọng các Kinh Phật, ư nghĩa ở đây là thốt lên lời bằng kệ tiếng tụng du dương. Trưởng lăo Soṇa đă đạt đến tột đỉnh bài Kinh tụng (sarabhaññapariyosāne): Khi trưởng lăo Soṇa dừng bài tụng kinh. Đă hiểu rơ (suggahitāni)[82]: đứng lên (uggahitāni) một cách thích hợp (sammā). Tác ư thấu đáo (sumanasikatāni): tác ư một cách thích đáng (suṭṭhu manasikatāni). Cho dù họ có chọn lựa một cách đúng đắn, ngay sau khi đă lựa chọn đúng đắn như vậy, một số vị Tỳ khưu vẫn phạm phải sai lầm nơi cách tŕnh bày rơ ràng vào chính thời điểm như vậy khi tác ư bằng cách nhắc lại chính các kinh đó[83]v.v…bằng không đă dùng những từ sai khi tụng các kinh đó[84] v.v… không phải vậy – nhưng nhờ đó họ đă tác ư (manasikatāni) thích hợp (samma-d-eva), chính xác như họ đă lựa chọn, v́ lư do đó có lời nói rằng, “sumanasikatāni (được tác ư cẩn thận) là suṭṭhu manasikatāni[85]) được tác ư một cách tốt nhất). Nghiên cứu kỹ lưỡng (suṭṭhu upadhāritāni) cũng được coi như là ư nghĩa, v́ chỉ khi nào ư nghĩa đă được nghiên cứu thích hợp mới có thể ngâm (hay phát ngôn với ngữ điệu) Kinh pāli một cách thích hợp[86]. Nhà ngươi đă được ban cho cách phát âm rơ ràng thật đáng yêu (kaly’ si vācaya samannāgato): nhà ngươi[87] được thành tựu cho một giọng nói với ngữ điệu tao nhă[88] đến nỗi chỉ  thốt lên những âm thanh thoải mái v.v…ăn khớp với những cách giàn xếp[89], chúng ta có thể hoan hỷ[90] với cách làm tṛn các từ đó. Phổ biến (vissaṭṭhāya): phát ra[91]; bằng cách này [313] ngài muốn làm rơ ngài đă làm phát sanh[92] những điệu nhạc. Không một giọt nước miếng (aneagalāya)[93]: điều ta đề cập đến là eā [94] (nước miếng) bao gồm những thiếu sót, vết nhơ (doso); v́ điều này không chảy ra (trong lúc ngài ngâm), không có cho dù chỉ một giọt (gaā) nước miếng, ư nghĩa ở đây là (với điệu ngâm) không có bất kỳ nhược điểm nào. Hay nói cách khác[95]: hoàn hảo(aneḷāya), chẳng có bất kỳ giọt (nước miếng) nào rơi xuống (agaāya), không có bất kỳ nhược điểm nào, không có bất kỳ từ nào hay h́nh thức nào rớt ra. Ư nghĩa ở đây là chẳng thiếu bất kỳ từ hay h́nh thức nào; v́ đây là điều phù hợp với những ǵ Đức Phật ban cho ngài một địa vị chính yếu, tức là. “Hỡi các vị Tỳ khưu, người này là người khéo nói, đó chính là Soṇa Kuṭikaṇṇa” (A. i 24). Một người có khả năng giải thích ư nghĩa khá rơ ràng (atthassaviññāpaniyā): là người có khả năng giải thích ư nghĩa tiềm ẩn khá rơ ràng. Có biết bao nhiêu tuổi hạ (kativasso): người ta nói rằng, đang khi c̣n lưu lại trong giai đoạn thứ ba cuộc sống[96] được đầy đủ với phẩm hạnh tốt,[97] ngài đă tỏ ra ḿnh là người đă xuất gia từ lâu hơn bất kỳ người nào khác. Một số tin rằng Đức Phật đă thấy,[98]liên quan đến vấn đề này – đây quả là điều vô lư (mặt khác) vị Đạo sư c̣n hỏi[99] ngài, nói rằng, “Nhà ngươi có bao nhiêu hạ lạp?” Để có thể suy xét tiếp dựa trên hạ lạp đó, nếu trường hợp này xảy ra, tại sao nhà người có trạng thái rất thích hợp với hạnh phúc thiền định, lại tự cho ḿnh dễ duôi trong một thời gian dài như vậy?” Chính v́ lư do đó, ngài đă nói rằng, “Hỡi vị Tỳ khưu, nhưng[100] tại sao nhà ngươi đă dễ duôi quá lâu đến như vậy?” Về điểm này:

Tại sao (kissa): v́ lư do ǵ. Nhà ngươi đă dễ duôi lâu đến như vậy (evaṃ cira akāsi): phải chăng nhà ngươi đă tŕ hoăn vấn đề[101] như vậy sao, ư nghĩa ở đây là, v́ lư do ǵ nhà ngươi lại lưu lại trong cuộc sống gia đ́nh mà không đi vào cuộc sống xuất gia trong khoảng thời gian lâu đến thế. Ta đă nh́n thấy nhà ngươi từ lâu (cira diṭṭho me): quá lâu, một thời gian lâu, ta đă nh́n thấy. Nơi dục lạc (kāmesu): nơi những phiền năo dục và những cảnh dục. Nỗi nguy hiểm (hiểm hoạ) (ādīnavo): lỗi lầm. Ngay cả khi (api ca): ngay cả khi nỗi hiểm họa nơi các dục lạc đă được nh́n thấy rơ theo cách thức nào đó. Trước tiên ta vẫn không thể xuất khởi khỏi cuộc sống trong gia đ́nh. Tại sao vậy? Lưu lại trong cuộc sống gia đ́nh đă bị thối chuyển (sambādho gharāvāso): hiện hữu như cận sự nam phàm phu[102] đă bị bận rộn với những trách nhiệm và bổn phận cuộc sống.[103] Chính v́ lư do đó, ngài nói rằng: “Với rất nhiều bổn phận, với quá nhiều trách nhiệm.”[104]

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm định vấn đề này dưới mọi khía cạnh, tức là tâm của người nào thực sự đang nhận ra nỗi hiểm nguy nơi ngũ dục, ngay cả khi những điều đó có bị chậm trễ sẽ không được thiết lập trong đó; trái lại, điều này chỉ đơn giản từ đó dội lại như một giọt nước trên chiếc lá sen. Tập Phật Tự Thuyết này được khởi sanh (ima udāna): làm khởi sanh Phật tự thuyết này nhằm làm sáng tỏ vấn đề này, tức là khi  ta biết được điều đó một cách chính xác, cả về Pravtti lẫn nivtti, th́ chẳng khi nào những dục lạc đó có thể diễn ra[105] nơi ta hay nơi những ǵ có thể qui vào được[106]. Về điểm này.

Vừa nh́n thấy nỗi hiểm nguy trên thế gian này (disvā ādīnava loke): vừa nh́n thấy qua tuệ nhăn [107]mối hiểm nguy, lỗi lầm, nơi trong toàn cơi thế gian này, các hành [108] bằng cách nhận ra “tính vô thường” trong đó. Đau khổ có bản chất là thay đổi” v.v… - theo cách này đây là giai đoạn được đề cập đến liên quan đến thiền minh sát. [314] Vừa khi biết được rằng Pháp chẳng có  sanh y (ñatvā dhamma nirūpadhi): vừa biết được quả thật Phật Pháp đó bao gồm Níp bàn lại không có bất kỳ sanh y nào, do thực chất là toàn bộ sanh y[109] đă được diệt trừ hết, đă được thấu triệt giống như chính bản chất của nó, bằng trí liên kết với thánh đạo, vô vi (bất tử) viễn ly thân[110] ư nghĩa nhân quả[111] nơi các từ này ditvā (vừa nh́n thấy) ñatvā (vừa biết được) cả hai đều giống như trong câu “vừa được uống bơ lỏng”[112], người đó trở nên mạnh mẽ hẳn lên”(    ),  “Vừa nh́n thấy con sư tử, người đó run lên v́ khiếp sợ (    ), và “Vừa nhận ra do tuệ giác, các phiền năo đă bị đoạn tận hoàn toàn.” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 418) v.v…bậc thánh nhân không hoan hỷ ác pháp (ariyo na ramatī pāpe): bậc thánh nhân, là người do đă đoạn tận các phiền năo,[113]người sappurisa, không làm những điều bất thiện, ngay cả chỉ ở mức độ nhỏ nhất. Tại sao vậy? Người đức hạnh không hoan hỷ nơi những điều bất thiện (pāpe na ramatī suci): người thanh tịnh như vậy là do thân thiện hạnh của họ đem lại v.v…[114] hoàn toàn được thanh tịnh, giống như con chim thiên nga trong hoàng cung tại một nơi trong sáng[115], không thích thú, không vui sướng, nơi những điều bất thiện, nơi những điều ô nhiễm. Pāpo na ramatī suci (người bất thiện không thấy hoan hỷ nơi điều thanh tịnh) cũng là cách giải thích; đây chính là ư nghĩa ta muốn giải thích vậy. – ngài đă thế chổ giáo lư với điều ngược lại, tức là người ác, người bất thiện không thích thú nơi những ǵ là thiện, nơi những ǵ là vô tội, nơi pháp thanh tịnh[116]; ngược lại, giống như những con heo thả rông trong làng v.v… cho dù có ở nơi trong lành, chúng chỉ thích thú nơi những ǵ là ô uế và những điều dục lạc thối rữa mà thôi.

Khi Đức Phật đă khởi sự cho Phật tự Thuyết này nổi lên, trưởng lăo Soṇa đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Ngài và rồi thỉnh cầu, nhân danh vị thầy tế độ cho được năm điều bắt đầu với cụ túc giới nơi vùng biên giới bằng cách có một Tăng đoàn chỉ gồm[117] một nhóm năm người v.v… và Đức Phật đă cho phép người thực hiện điều này. – ta nên hiểu toàn bộ những điều trên theo cách đă được truyền lại trong Khandhaka[118](Kiền Độ Bộ)

Việc diễn giải Kinh Phật thứ sáu đến đây là kết thúc.


 

-ooOoo-


[1]. Đây là điều chú giải SA ii 258 đă xác định là vùng miền nam Avanti; xin đọc  chú giải Ud 58.

[2]. Chú giải Ce Be Se và Ud cũng giải thích tương tự như vậy, c̣n bản văn th́ ghi là Papāte pabbate, cách giải thích này cũng được t́m thấy trong Vin i 194, Vin-a 1087; xin đọc S iii 9, 12 và iv 115, toàn bộ những chú giải này đều giải thích là Pavatte pabbate, tuy nhiên như đă vạch rơ trong chú giải B Disc iv 260 n 7. SA ii 258 ta nên chấp nhận cả hai cách giải thích.

[3]. Ce Be Se giải thích là Pavattanāmake c̣n bản văn ghi là papāte nāmake.

[4]. Chú giải Be cũng giải thích tương tự như vậy (chú giải Se ghi là Papāte) c̣n bản văn lại ghi là Pavatte,  chú giải Ce ghi là Pāte

[5]. Nāmena Soo nāma; h́nh như đối lại bằng tộc tánh (gotra)

[6].  Mười triệu; h́nh như là kahāpanas.

[7]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vattabbe c̣n bản văn ghi là vattabbo. Toàn bộ các tập chú giải đều thống nhất rằng đây là điều liên quan đến những đồ trang sức như bông đeo tai mà ngài được gọi với tên là Kuṭikaṇṇa, nhưng lại có khác biệt đôi chút sau đó. Chú giải Vin-a 1087, AA i 237 khẳng định đơn giản là Kuṭikaṇṇa có nghĩa là Koṭikaṇṇa, chú giải Thag-a ii 154 (cũng do Dhammapāla) thay v́ đồng ư với cách giải thích hiện hành. Đó là tên Kuṭikaṇṇa phải được thay với tên Kotikanna trong tất cả mọi trường hợp. Như  B Disc iv 260 n 6 đă vạch ra rằng Koṭikaṇṇa cũng có nghĩa là “người có tai đục lỗ” với cách giải thích t́m thấy nơi bản dịch của ngài Woodward là “đục lỗ tai” như đă được đề nghị trong tập chú giải Brethren 202 n 2. có thể hiểu là “một chấm nhỏ hay đuôi nhọn ở tai”. Theo như tôi được hiểu đây không phải là một tên giễu v́ tên của ngài Soa, thường được hiểu là “chó” hoặc giả ngài được gọi với tên là Kuṭikaṇṇa do có liên quan đến một thực chất là ngài đă lắng nghe Phật Pháp của Đức Phật trong hương pḥng. (kuṭi)

[8].  Chú giải Be giải thích là na Sukhumālasoṇo c̣n  bản văn Ce Se giải thích là Sukumāro Soo. cũng chính Soa Koivisa (chú giải Vin i 179tt;  Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 374tt; v.v…) cũng c̣n có tên là “Soa thanh nhă” (Sukhumālasoa), giống như  chú giải AA iii 388 đă khẳng định xin cũng đọc chú giải Ap-a 479.