NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7. SĀPIPUTTA

Trong Kinh Phật thứ mười: Chính an tịnh của ngài (attano upasamaṃ): chính việc làm lắng dịu các phiền năo bằng cách tận dụng thánh đạo tột đỉnh không bỏ qua bất kỳ điều ǵ đă tạo ra những nhân duyên để đạt đến tột đỉnh toàn hảo (cần thiết cho tái sanh) cho một đồ đệ.[1] Trước tiên đối với Trưởng lăo Sāriputta vừa khi nhận ra rằng không những đau khổ[2] bao gồm cả những dằn vặt, tâm trạng căng thẳng và những bồn chồn lo lắng do các phiền năo tham dục tạo ra v.v…về phía chúng sanh một khi đă an tịnh được hết các phiền năo, song vẫn chưa được an tịnh nhưng cũng chính đau khổ đó bao gồm sanh, lăo, bệnh, tử, sầu khổ và than văn v.v… được cho là do các phiền năo và những việc tích luỹ (các phiền năo) [271] đă ước định được rằng chu kỳ nhân duyên đau khổ của họ có liên quan đến quá khứ và tương lai và rồi ḷng từ tâm (trước những đau khổ đó) cũng tưởng niệm lại cả những đau khổ không đáng kể Ngài đă cảm nghiệm được vào thời điểm ngài c̣n là một người phàm tục, hoặc được qui cho các phiền năo là nguyên nhân, sau khi ngài đă liên tục quán xét việc làm lắng dịu các phiền năo của ngài nghĩ rằng, “Các phiền năo đă tạo ra  nhân duyên cho đau khổ tầm cỡ đó giờ đây ta đă diệt trừ được hoàn toàn”, và đang khi quán xét như vậy, ngài cũng quán xét lại một cách đặc biệt pháp an tịnh[3] các phiền năo đó (được diễn ra) nhờ trí liên kết với các thánh đạo, tức là “Có quá nhiều[4] phiền năo đă được an tịnh qua thánh đạo nhập lưu, qua thánh đạo Nhất Lai và thánh đạo Bất lai và qua thánh đạo A-la-hán.” V́ lư do đó có lời nói rằng “Đó chính là quán xét lại chính an tịnh của ḿnh” . Có một số người c̣n khẳng định rằng sau khi đă chứng đắc thiền chứng bao gồm thánh quả A-la-hán. Trưởng Lăo đă quán xét lại thánh quả này và rồi c̣n liên tục quán xét lại an tịnh [5] đó như vậy “Thực vậy pháp an tịnh này quả là điều tuyệt vời nhất do đối tượng của nó lại liên tục [6]chính là an tịnh,[7] tức là vô vi giới, và do cách làm lắng dịu[8] các phiền năo phù hợp với chính sở thích của các chúng sanh đó.” Cũng c̣n một số người vẫn cho rằng chính thánh quả tột đỉnh đó khởi sanh khi việc làm dịu các phiền năo bước vào thánh quả tột đỉnh không dư sót bất kỳ điều ǵ, trong trường hợp này lại chính là “an tịnh”[9] và  chính v́ điểm này Ngài đă kiên tŕ quán xét lại.

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm định vấn đề này dưới mọi góc độ từ đó được coi như là việc quán xét lại vậy ư muốn nói là, việc diệt trừ phiền năo nơi vị Trưởng lăo Sāriputta, không chia sẻ được với bất kỳ đồ đệ nào, đă tạo thành nhân duyên pháp am hiểu (tuệ giác) vĩ đại của Ngài v.v…[10] hay nói cách khác đó chính là thánh quả tột đỉnh (hoặc hiện hữu ở đây chăng nữa) ta cũng có thể đề cập đến bằng một từ đồng nghĩa đó là “an tịnh”[11]  vấn đề này đă khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích vẻ oai nghiêm phát sanh trong đó mà ra, về điểm này:

Người nào có tâm an tịnh, được b́nh tâm (upasantasantacittassa): người nào có tâm an tịnh lại được b́nh tâm” điều này chỉ xảy ra một khi người đó có tâm an tịnh, sau khi tâm đó đă được b́nh ổn.  V́ một tâm như vậy là do thực chất là ta đă b́nh ổn[12] được các phiền năo mà ra do trấn áp các phiền năo đó trong suốt thời gian thiền chứng không kể lúc nào[13] cũng được nhắc tới là người nào đă trở nên “an tịnh th́ cũng được b́nh tâm” đâu. Liên quan đến bản chất không liên tục nơi an tịnh đó.[14] Cũng chẳng phải là (điều chứng đắc được) do thánh đạo tột đỉnh đem lại, ngược lại, do thực chất là các phiền năo đă được diệt trừ khỏi tâm đó[15]  thế nên tâm vị A-la-hán không cần thiết đến an tịnh thêm nữa, nói một cách nào đó, sau khi (vị A-la-hán)  đă trở thành người có tâm với mọi phiền năo đă được an tịnh qua thánh đạo thấp thông qua chỉ tịnh và thiền minh sát, là người có  “tâm an tịnh, chính là b́nh tâm” do bản chất vĩnh hằng nơi b́nh tâm đó. Chính v́ lư do đó có lời [16] nói rằng, “Người nào có tâm an tịnh cũng là người được b́nh tâm vậy, v́ người nào có tâm như vậy chính là người đă được b́nh tâm sau khi người đó có tâm an tịnh vậy.” Bằng không, chính an tịnh (upasamo)[17]cũng có nghĩa là upasantaṃ, trong trường hợp như vậy ư nghĩa của từ upasantasantacittassa [18] chính là người có “tâm đă được b́nh tâm do chính an tịnh lại mang đặc tính vĩnh cửu vậy.” Hay nói cách khác, ngay cả khi ta đă làm lắng dịu các phiền năo không bỏ qua bất kỳ điều ǵ, những ai đă diệt trừ được hết các phiền năo trong tâm, tuy nhiên để có thể giải thích rơ[19] việc làm lắng dịu các phiền năo về phần tướng quân chánh pháp được rơ ràng, Đạo sư của chúng ta, người không chia sẻ được với bất kỳ đồ đệ nào, và cũng là người đă tạo nhân duyên chứng đắc ba la mật tột đỉnh cùng với những trí cần thiết để trở thành một vị đồ đệ. [272] Thốt lên upasantasantacittassa (tâm những ai được an tịnh tột đỉnh đă khiến Ngài nổi bật bằng cách dùng từ upasanta, (an tịnh tuyệt đối (super-calmly).  Đây chính là ư nghĩa trong trường hợp này đó là (tâm) người nào đă trở thành mănh liệt, tráng kiện, an tịnh (santaṃ) lại chính là an tịnh tuyệt đối (upasantaṃ), tâm của người nào có được an tịnh tuyệt đối (upasantasantaṃ) chính là người có tâm an tịnh (santaṃ) sau khi đă đạt được an tịnh tuyệt đối (upasantaṃ), thông qua việc làm dịu đi (vūpasantena), lại phản khán[20]; v́ tâm của một con người như vậy (v.v…) tất cả đều chính xác giống như  trước[21] đó. V́ cũng như vậy Đức Phật khen ngợi, tán dương hạng người này bằng vô vàn vô số cách[22] , tức là “Hỡi các vị Tỳ khưu, Sāriputta là người có tuệ giác uyên bác, một người có trí tuệ[23] bao la, một người có tuệ giác vui tươi, một người có tuệ giác[24] thần tốc, nhạy bén và tuệ giác thấu triệt.” (Trung Bộ Kinh (M) iii 25; S i 63) v.v…Đối với người đó mọi chỉ dẫn như đă kết thúc (netticchinnassa): Đó chính là hữu ái mà ta gọi là việc “chỉ dẫn” (netti), liên quan đến việc chỉ dẫn đến ṿng luân hồi, tức là “đối với một ai việc dẫn dắt đến ṿng luân hồi như đă kết thúc” theo cách đó do việc dẫn dắt đă kết thúc đối với hạng người này. Có nghĩa là đối với người này ái dục đă bị diệt trừ. Được giải thoát khỏi ṿng kiềm toả Ma Vương (mutto so Mārabandhanā): người đó đă thoát khỏi, một dạng người thuộc loại đó là hạng người mà hữu kiết sử đă được diệt trừ hoàn toàn, cũng như đă được thoát khỏi mọi triền phược ma vương. Người đó chẳng cần thiết phải thực hiện[25] điều ǵ nữa, nhằm thoát khỏi triền phược ma vương -  chính v́ vấn đề này [26] Tướng quân chánh pháp đă quán xét lại chính an tịnh của ḿnh[27]những ǵ c̣n lại đều giống như cách đă được khẳng định ở trên.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ mười kết thúc tại đây.

Và cũng kết thúc luôn cách diễn giải chương thứ tư [28].


 

-ooOoo-

[1].  Chú giải Ud-a 244 ở trên.

[2].  Chú giải Ce Be Se giải thích là odukkhañ ’ eva c̣n bản văn ghi là odukkhassa hetubhūta.

[3]. Upasamita. Quá khứ phân từ của động từ upasameti, cả hai từ nầy đều không thấy liệt kê trong tự điển PED, nhưng xin đọc chú giải CPD về hai mục từ này.  Chú giải Ce giải thích là vūpasamita.

[4].  Chú giải Ce Be Se giải thích là ettakā c̣n bản văn ghi là me.

[5].  Chú giải Be Se giải thích là upasama c̣n bản văn Ce ghi là vūpasama.

[6]. Accantao; hay là tuyệt đối.

[7]. Ce Be Se giải thích accantasantāya c̣n bản văn ghi là accantasantatāya.

[8]. Ce Be Se giải thích là ovūpasamato  c̣n bản văn ghi là ovūpasamā. 

[9]. Chú giải Be Se giải thích là upasamapariyosāne… upasamo nāma c̣n bản văn ghi là vūpasamā pariyosāne…vūpasamo nāma, Ce ghi là vūpasamapariyosāne…vūpasamo nāma. Nhưng dựa vào từ anavasesakilesa vūpasama trong câu mở đầu, h́nh như đây là cách điều chỉnh quá mức, và cách giải thích nguyên thủy chính là cách đă được đề cập đến trong Ud đó là an tịnh (upasama) ở đây được sánh ngang với điều đă được đề cập đến trước đó là lắng dịu xuống (vūpasama). Cũng xin đọc chú giải dưới đây trong đó người ta cho rằng upasama là từ đồng nghĩa với từ bỏ các phiền năo. Chính v́ thế tôi đă giải thích  vūpasamapariyosāne… upasamo nāma, cho dù đây là điều chẳng có bản văn nào ủng hộ cả.  Chú giải Be Se h́nh như đă coi như đoạn này có nghĩa là: ngay tột đỉnh an tịnh (về các phiền năo, có nghĩa là liên quan đến vấn đề này) được coi như là an tịnh.

[10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là mahāpaññatādio c̣n bản văn ghi là hāsupaññatādio; đây rơ ràng là một tham khảo về sáu loại tuệ giác được đề cập đến dưới đây. Chú thích của ngài Woodward cho chúng ta thấy DA 412 quả thật không xác thực – đặc biệt liên quan đến một thực chất là ấn bản Ud của ông đă được in vào năm 1926, năm trước khi tác phẩm DA được đưa ra in ấn – hay là S v 412 rơ ràng là có sai sót.

[11]. Chú giải Be Se giải thích là vā upasamapariyāyena (chú giải Ce giải thích là vā vūpasamapariyāyena)  c̣n bản văn ghi là va vūpasama pariyāyena.

[12]. Ce Be Se giải thích upasantakilesattā c̣n bản văn ghi là santakilesattā.

[13]. Sabbathā; hay là ở mức độ tột đỉnh. Tự điển SED đă chứng thực cả hai ư nghĩa này ở mục từ sv sarvathā.

[14]. Ce Be Se giải thích là upasamassa c̣n bản văn ghi là upasantassa.

[15]. Thông qua thánh đạo tột đỉnh đó vừa mới được đề cập đến.

[16]. Ngay mở đầu đoạn văn hiện hành.

[17]. Chú giải Be Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn Ce ghi là vūpasamo.

[18]. Chú giải Be Se giải thích là tasmā upasantasantacittassā ti  (chú giải Ce giải thích là vūpasantao; c̣n bản văn th́ bỏ qua.

[19].  Be Se giải thích là dassetu c̣n bản văn Ce ghi là dassento.

[20]. Chú giải Be Se giải thích là upasantena upasantam eva hutvā c̣n bản văn ghi là vūpasamena sayamena vūpasantam eva hutvā vā. Ce ghi upasamena sayamena upasantam eva hutvā vā. Rất có thể đây quả là một cách điều chỉnh quá mức, v́ từ vūpasamena  ở đây ta giải thích là sayamena, thế nên chắc chắn  ám chỉ trở lại việc sa sút thường thấy ở toàn bộ những người nào đă diệt trừ được hết các phiền năo, kết quả là họ trở nên an tịnh, nhưng đối với Sāriputta lại là an tịnh tuyệt đối. Chính v́ thế tôi đă giải thích là vūpasamena sayamena upasantam eva hutvā, cho dù cách giải thích này chẳng có bất kỳ bản văn nào hỗ trợ cả. Thay vào đó cách giải thích Be Se đưa ra: tâm đó được an tịnh tuyệt đối (upasantasanta.) chính là tâm được an tịnh (santa) sau khi đă trở nên an tịnh tuyệt đối (upasanta) nhờ mối an tịnh tuyệt đối đó (upasantena). 

[21]. H́nh như ngoại trừ sự khác biệt này th́ ư nghĩa điều c̣n lại được tiến hành giải thích vẫn giống nhau.

[22]. Xin đọc MA iv 83tt, SA i 119tt và Ps ii 190tt để có cách giải thích các từ này; cũng xin đọc chú giải trong MLS iii 77 và KS ii 88. “ V́ vô số các lư do” (anekapariyāyena) được định nghĩa trong tập chú giải Ud-a 361 dưới đây.

[23]. Ce Be Se Trung Bộ Kinh (M) S giải thích puthupañño; bản văn bỏ qua. 

[24]. Javanapañño chú giải bản tóm tắt (Compendium) 245tt về javana đem lại một ư nghĩa căn bản về tưởng.

[25]. Karaīya; rất có thể đây là một cách ám chỉ chủ ư về vị A-la-hán là một katakaraīya, là người đă chu toàn được toàn bộ những ǵ phải thực hiện như đă đề cập đến trong Ud-a 268 ở trên.

[26]. Tasmā; hay rất có thể đây là Tướng quân chánh pháp được quán xét chính an tịnh của người đó.

[27].  Ce Be Se giải thích là upasama c̣n bản văn ghi là vūpasama.

[28]. Catuttha; Be ghi Meghiya.