|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
7. SĀPIPUTTA Trong Kinh Phật thứ bảy không có ǵ mới mẻ. Trong đoạn kệ[1], đối với người có tăng thượng tâm (adhicetaso): đối với người nào có tăng thượng tâm,[2] (higher consciousness) có nghĩa là đối với người nào được thành tựu tâm liên kết với thánh quả A-la-hán vượt hơn hẳn (toàn bộ các loại tâm) khác. Đối với những người tinh tấn (appamajjato): đối với người nào không dễ duôi (na pamajjato), đối với người nào được thành tựu tính không dễ duôi, với những hành vi kiên tŕ liên quan[3] đến pháp vô tàm, đó là những ǵ muốn đề cập tới. Đối với vị hiền triết Mâu ni (munino): đó[4] chính là trí đang được nói đến như là tính hiền triết “sage-hood[5]” (monaṃ). Liên quan đến thực chất là điều này biến con người ta trở nên minh mẫn (munino) thuộc cả hai cơi, tức là “Bất kỳ người nào hiền triết minh mẫn thuộc cả hai cơi ta gọi người đó là vị“hiền triết” (Dhp 269) hoặc giả[6] đó chính là người nơi họ mọi phiền năo đă bị diệt trừ hết, ta gọi người đó là vị “hiền triết” (muni), liên quan đến vấn đề người đó được thành tựu với trí được gọi là tuệ giác[7] liên kết với thánh quả A-la-hán đó chính là hiền triết. Đang khi c̣n tu luyện nơi thánh đạo hiền triết (monapathesu[8] sikkhato): đang khi c̣n tu luyện nơi thánh đạo, nơi ba mươi bảy pháp bồ đề phần. Đối với tính hiền triết[9] (sage-hood) được cho là trí liên kết với A-la-hán, hay nói cách khác trong tam học. Và điều này lại bao gồm cả việc tu luyện thuộc giai đoạn tiền chứng đắc thánh đạo.) Đối với vị A-la-hán ngài là người đă hoàn tất[10] được toàn bộ các tam học. Chính v́ thế liên quan đến vấn đề này ta nên coi như sau, tức là đối với vị hiền triết, đang khi tu luyện[11] như vậy, do kết quả việc tu luyện đó đă đạt đến được “pháp [12] thuộc vị hiền triết.” Và một khi cùng công việc cũng giống hệt vậy, chính v́ thế ta chỉ nên giải thích ư nghĩa của ba từ này như sau, tức là Đối với người tăng thượng tâm (có được tăng thượng tâm như vậy) là nhờ người đó chứng đắc nhiều loại tâm đa dạng liên kết với thánh đạo thấp và thánh quả[13] đem lại. Đối với người không dễ duôi (có được như vậy là do) không dễ duôi tu luyện liên quan đến việc tu luyện liên kết với Giác Ngộ Tứ Diệu Đế. Đối với vị hiền triết (có được như vậy) là do người đó được thành tựu với trí liên kết với thánh đạo tột đỉnh.[14] Hay nói cách khác các từ[15] appamajjato sikkhato cần được coi như mang ư nghĩa nguyên nhân,[16] tức là đối với người có tăng thượng tâm (vị hiền triết có tăng thượng tâm) lại lấy không dễ duôi làm nguyên nhân, cũng lấy việc tu luyện làm nguyên nhân nữa. Những điều đau buồn không tồn tại nơi người đó (sokā na bhavanti tādino): những đau buồn, những khổ tâm, có căn trên chính viễn ly khỏi những ǵ ḿnh ước ao v.v… không tồn tại (honti, một dạng ngữ pháp khác) nọi bên trong con người thuộc hạng như vậy (tādisassa), v́ đối với người hiền triết toàn bộ các phiền năo trong họ đă bị đoạn tận hết, hay[17] nói cách khác điều này, tức là. Đối với hạng người như vậy (tādino): th́ buồn khổ không thể tồn tại nơi họ được (evarūpassa) do họ được trang bị với tính kiên định (tādi[18]), [256] chính là ư nghĩa liên quan đến vấn đề này. Đối với người nào có an b́nh (upasantassa): v́ người nào có an b́nh trong tâm theo kiểu an tịnh tuyệt đối[19] khỏi mọi tham dục v.v…Đối với người nào chánh niệm liên tục (sadā satīmato): đối với người nào liên tục không bỏ qua chánh niệm do đạt đến tột đỉnh chánh niệm. Và liên quan đến vấn đề này nhờ vậy “đối với người nào có tăng thượng tâm”[20] được tu luyện với tăng thượng tâm học (higher consciousness) là điều ta nên hiểu ở đây, nhờ đó “đối với người không dễ duôi” tu luyện tăng thượng giới học (higher morality), bằng cách này, “đối với vị hiền triết đang tu luyện trên đường dẫn tới hiền triết, th́ đồng thời cũng tu luyện chính tăng thượng tuệ học vậy, hay nói cách khác nhờ cách này “đối với vị hiền triết” tu luyện tăng thượng tuệ học (là điều ta nên hiểu ở đây) theo cách này “đang khi người đó tu luyện nơi thánh đạo dẫn tới hiền triết[21] th́ cũng tu luyện ở giai đoạn trước đó đối với những việc tu luyện siêu thế vậy (đang khi đó) do sầu khổ “không c̣n tồn tại”v.v…(ta nên hiểu rằng) lợi ích do hoàn tất toàn bộ việc tu luyện cũng đă được chứng tỏ rơ ràng vậy. Điều c̣n lại[22]cũng y hệt như những ǵ đă được khẳng định ở trên. Việc diễn giải Kinh Phật thứ bảy kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Những ǵ diễn ra tiếp theo sau đây có thể được so sánh với Vin-a 801 và Thag-a i 164 tt. [2]. Adhicittavato; chú giải Vin-a giải thích là adhicittavaso. [3]. Anavajjadhammesu; chú giải Vin-a giải thích là kusalānaṃ dhammānaṃ. [4]. Chú giải Ud-a 98 ở trên; cũng xin đọc Vv-a 114. 231, v.v… [5]. H́nh như việc liên kết giữa tính hiền triết/ trí và “liên quan đến Bậc hiền triết (mâu ni)” (munino) nơi đoạn kệ này dựa trên Nd1 57 và tập chú giải Thag-a căn cứ vào Thag 1251 (được trích trong EV i 139 (trong đó người ta đă ghi sai từ anavesañeyyāvabodho thành anavasesao). [6]. Chú giải Ce Be SeVin- a giải thích là samannāgatattā vā (Thag-a giải thích là samannāgatāya vā) c̣n bản văn ghi là samannāgatattā. [7]. Chú giải Be giải thích là arahattaphalañāṇasaṅkhātena ñāṇena, với trí đó được coi như là trí liên kết với thánh quả A-la-hán, chú giải Thag-a giải thích là arahattaphalapaññāsaṅkhātena monena, trong đó hiền triết được coi như là tuệ giác liên kết với thánh quả A-la-hán, c̣n bản văn Ce Se giải thích là arahattaphalapaññāsaṅkhātena ñāṇena. Có lẽ ư nghĩa kiến thức và tuệ giác th́ giống nhau, cho quy tŕnh trong câu sau đây bậc hiền triết (mona) bằng kiến thức liên quan đến bậc thánh A La Hán (arahatta nāna) và phương tŕnh th́ giống nhau, ở Ud-a 98 ở trên, bằng kiến thức gồm có thấm nhuần (pativedhanāna). Vin –a đọc đơn giản tena nānena. [8]. Chú giải Sn-a 435 về Sn 540, đă đơn giản giải thích là ñāṇapathesu. Với “SnA 450 (về Sn 435)” trong chú giải EV i 138 rất có thể chỉ có nghĩa là “SnA 435 (về Sn 540)”. [9]. Thag-a ở đây chú thích là upāyamaggesu, dựa trên sơ sở Ap-a 513. có thể được coi như có nghĩa là “liên quan đến các thánh đạo (thiền chứng Níp-bàn)” (nibbānādhigamupāya-bhūtamagga). [10]. Chú giải Vin-a đă bỏ qua. [11]. Chú giải Vin-a đă chèn thêm pubbabhāge, ngay tại giai đoạn trước (liên quan đến chứng đắc thánh đạo). [12]. Như vậy Dhammapāla đă giải quyết vấn đề nơi một đoạn kệ đă khẳng định rơ ràng là một số người đang khi vẫn c̣n tu luyện (sikkhato, hiện tại phân từ của động từ sikkati, có nghĩa là tập luyện) có thể hưởng được những lợi ích dồn về cho vị A-la-hán. Trong rất nhiều cách giải thích đoạn kệ này, Woodward (VofU 51) và Ireland (p. 63) cũng như Co Horner (B Disc ii 273) và C.A.F. Bà Rhys Davids (trong cuốn Chư Huynh (Brethren, tr. 69) tất cả đều chọn sử dụng, quá khứ phân từ “được tu luyện” (trained), Chỉ một ḿnh ngài Norman (EV i 9) lại duy tŕ (chính xác hơn) hiện tại phân từ. [13]. Heṭṭhimamaggaphalacittānaṃ; hay với nhiều loại tâm đa dạng liên kết với thánh quả thuộc các thánh đạo thấp. [14]. Chú giải Thag-a giải thích là aggamaggañāṇasamannāgamena c̣n tất cả các bản văn đều ghi là maggañāṇasamannāgamena, dựa trên cơ sở chú giải Ud-a 27 ở trên, h́nh như có nghĩa là “nhờ được trang bị những trí liên kết với (tứ) thánh đạo”; chú giải Vin-a đă bỏ xót toàn bộ. Chú giải Thaga-a rơ ràng đă được chuộng hơn. [15]. Chú giải Be Se giải thích là padānaṃ hetuo c̣n bản văn Ce Thag-a ghi là padhānahetuo. [16]. Có nghĩa là, giờ đây họ được coi như là thuộc xuất xứ cách, tức là do chuyên tâm do tu luyện, khi đoạn kệ trở thành: “ Đối với người hiền triết tăng thượng tâm (có tăng thượng tâm) lấy chuyên tâm làm nhân duyên, đă tu luyện nơi những con đường dẫn tới tính hiền triết làm nhân duyên….” [17]. Những ǵ diễn ra tiếp theo sau đó, xin đọc chú giải Ud-a 202 ở trên. [18]. Xin đọc chú giải Ud-a 167 ở trên; có điều không rơ ràng là chúng ta nên hiểu là tādilakkhaṇasamannāgatassa hay evarūpassa (hay cả hai) v́ chú thích từ tādino ở đây và, nhờ vào chính cùng biểu hiện, không hiểu chúng ta có nên thay thế “đối với một người như vậy” trong đoạn kệ với “đối với một người luôn kiên định”. Cũng xin đọc chú giải Dhp-a ii 181tt về Dhp 95 trong đó có giải thích tādino như evarūpassa cũng chú giải là tathārūpassa và những lời b́nh luận trong tự điển Childers mục từ sv tādi. Cách này cách khác có điều thật lạ lùng đó là Dhammapāla laị không đồng ư dành ưu tiên cho cách giải thích này, cũng chính là cách giải thích trong chú giải Ud-a 202 ở trên, trong đó một câu (tādino upasantassa sadā satīmato) đă tái xuất hiện. Không hiểu ngài có cảm thấy bối rối do cách giải thích hiện có của vị tiền nhiệm của ngài trong tập chú giải Vin-a hay không? Thay vào đó chú giải Thag-a đă giải thích là: tādilakkhaṇappattassa asekhamunino sokā na bhavanti, sầu khổ không tồn tại nơi các vị vô học hiền triết, nhờ vào những sầu khổ này họ đă trở thành những người đă đạt đến đặc tính kiên định. [19]. Accanta, chú giải Vin-a lại bỏ qua [20]. Bản văn chèn thêm munino, Ce Be Se lại bỏ qua. [21]. Chú giải Ce Be Se Thag-a giải thích là sikkhato ti etehi adhipaññāsikkhā // Munino ti vā etena adhipaññāsikkhā / monapathesu sikkhato ti c̣n bản văn ghi là sikkhato ti. [22]. Nhờ đó h́nh như chỉ Kinh Phật mà thôi th́ trong đó “chẳng có ǵ mới cả” như đă được khẳng định ở trên. |
|