|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
4. SĀRIPUTTA Trong Kinh Phật thứ tư: sau khi đă an trú niệm trước mặt Ngài[1] (parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā): sau khi đă h́nh thành niệm trước đối tượng[2](hay[3]) sau khi đă kích hoạt[4] niệm đó ở trong gần chổ tiếp cận[5] cái mặt. Thí dụ như, nơi bộ phân tích (Vibhaṅga) có lời nói rằng: “niệm này đă hiện hữu, hoàn toàn hiện hữu, ngay trên chóp mũi hay ở trung tâm môi trên [6]chính v́ lư do đó, ngài đă nói rằng “sau khi đă khiến cho an trú niệm xuất hiện trước Ngài” (Vibh 252)[7]. Hay nói cách khác, liên quan đến vấn đề này, ư nghĩa ở đây cũng nên hiểu giống cách thức được đưa ra trong tập Paṭisambhidā [8] tức là. “Pari ở đây có nghĩa là bao gồm, mukhaṃ có nghĩa là lối thoát, sati [9] có nghĩa là hiện diện, v́ lư do đó người ta nói rằng, “niệm chính là lối thoát được lưu giữ bấy lâu nay” (Pts i 176). Trong trường hợp này, đây chỉ là ư nghĩa ngắn gọn, sau khi đă kích hoạt niệm liên quan đến lối thoát bao gồm[10], và đây chính là đối tượng cần phải thâm nhập sâu nhờ [11] niệm được coi như là “lối thoát”, và liên quan đến vấn đề này, ư nghĩa trước đó và sau này được coi như là phương cách tất cả những ai quán xét lại mà thôi; c̣n những vấn đề khác[12] lại phải nhờ đến thiền định [13] trong giai đoạn tiền chứng đắc. Hoặc giả niệm (sati) chính là thiền jhana được nói đến dưới tiêu đề niệm[14] như trong câu “Những vị nào thưởng thức hương vị thân hành niệm (các Tỳ khưu ấy nếm thử hương vị bất tử)” v.v…(Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 45[15]) nhưng thiền Jhanas đó là ǵ vậy? Thiền Jhana tương ưng với thánh quả A-la-hán, chứng đắc sau khi đă thực hiện nhập thiền jhana bậc bốn thuộc cơi sắc giới làm căn. Nhưng bằng cách nào[16] ta biết được điều này? Thực chất này có thể được nhận thức từ chính kệ, trong đó Đức Phật đă công bố Phật Tự Thuyết này, được thể hiện nhờ vào câu chuyện dụ ngôn “ngọn núi”, thực chất là sự giải thoát khỏi phiền toái về phía vị Trưởng lăo, và tính chất bất khả chao đảo do bất kỳ điều ǵ[17] tạo ra, là điều duy nhất do liên kết với định bất động[18] [189] và việc ngồi thiền này, không nhằm lợi ích cho việc Trưởng lăo thấu triệt chân đế, song chỉ nhằm giúp ngài an trú nơi hạnh phúc có được do thấy những duyên khởi. Do trước đó vị Đại Trưởng Lăo này, đă tạo ra nhu cầu cần thiết, phải quán triệt các chân đế đạt đến tột đỉnh, khi Đức Phật c̣n đang diễn giải Phật Pháp, cho chính người cháu của ḿnh, đó là hành giả Dīghanakha, ngay trong hang động con Lợn Ḷi[19]’s Cave). Về vấn đề này (etam atthaṃ) : thẩm định lại vấn đề này[20] dưới mọi khía cạnh, được coi như việc không gây chao đảo do bất kỳ điều ǵ, về phía vị Trưởng Lăo đó, liên quan đến việc liên kết với định bất động và đạt đến hiện trạng bất động nơi ngài đă khởi sanh Phật Tự Thuyết này, nhằm giải đáp đều này. Về điểm này: Giống như ngọn núi đá, ngay cả (yathā pi pabbato selo): giống như một ngọn núi đă vững chắc, do những tảng đă lớn tạo nên, có nghĩa là chẳng phải ngọn núi đó do bụi hay bằng hợp chất nào khác.[21] Không bị xáo trộn, được thiết lập vững chắc (acalo suppatiṭṭhito): có nền móng được thiết lập[22] vững chắc, không xáo trộn, chẳng có ngọn gió b́nh thường nào có thể nào lay chuyển nổi. Chính v́ thế nhờ diệt trừ si mê, giống như ngọn núi, vị Tỳ khưu đă không rung chuyển (evaṃ mohakkhayā bhikkhu pabbato ’va na vedhati): v́ vậy liên quan đến đoạn tận không dư sót si mê, và liên quan đến căn si như vậy, diệt trừ toàn bộ những pháp bất thiện; thế nên sau khi vị Tỳ khưu đă diệt trừ được toàn bộ các pháp bất thiện, giống như ngọn núi trước ngọn gió b́nh thường, không lắc lư, không chao đảo, do các pháp thế gian; hay nói cách khác v́ níp bàn và[23] bậc A-la-hán là điều chúng ta đề cập đến ở đây, bằng cách diệt trừ si mê ’, chính v́ thế ư muốn nói ở đây, chính là nguyên nhân nhằm đoạn tận si mê, vị nào thiết lập vững vàng nơi tứ diệu đế, giống như ngọn núi ta vừa đề cập đến, không lay chuyển do bất kỳ điều ǵ, ngay trong thời điểm chưa chứng đắc A-la-hán. Chính v́ thế ngài đă tỏ ra kiên định,vững chắc đến nhường nào vào thời điểm chứng đắc A-la-hán vậy. Đến đây kết thúc việc diễn giảng Kinh Phật thứ tư.
-ooOoo-
[1]. Điều tiếp theo. chú giải DA 210; MA ii 216; SA i 238; AA ii 294, iii 202; It-a ii 87tt và Thanh Tịnh Đạo 271. [2].Ārammaṇābhimukhaṃ; DA MA SA AA kammaṭṭhānābhimukhaṃ đối diện với chủ đề thiền. [3]. Bản văn MA SA AA ở đây thêm vào vā; chú giải Ce Be Se lại bỏ qua. [4]. Katvā. [5]. Mukha; hay là miệng – xin đọc tiếp theo sau đây. [6]. Mukhanimitte; cũng vậy U. Thiṭṭila (BA 328) Tuy nhiên, có Tỳ khưu cao niên người Miến Điện cho tôi hay: một học giả Pāli và người luyện thiền hơi thở đă cảm nghiệm được vào lúc đầu ngay tại chót mũi, nhưng vào các giai đoạn sau này điều nay đă không được cảm thấy nữa, nơi những người thực hành thiền niệm thân có kinh nghiệm, đối mukhanimitta ở đây có nghĩa là bề mặt (nghĩa đen là mặt) của nimitta (h́nh ảnh tâm) xuất hiện ngay tại điểm này đối với tâm nhăn của thiền sinh. Cách giải thích này h́nh như được một số người ở một số lănh vực ủng hộ, bằng cách sử dụng thường xuyên mukhanimitta để ám chỉ việc phản tỉnh về khuôn mặt của ḿnh trong một chậu nước – eg D I 80; S v 212; Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 92, v́ cả hai hiện tượng cuối cùng có thể không diễn ra cách xa nhau là mấy, đối với hiện tượng đầu tiên xuất hiện. Vibn-a không nói ǵ về vấn đề này. [7]. Bản văn thêm một từ ti ngoại lệ ở đây; Ce Be lại bỏ qua. [8]. Cùng một đoạn này lại cũng được trích trong Thanh Tịnh Đạo 271. Lại có một số khác biệt Ñāṇamoli đă đưa ra trong PD 177 và Ppn 291; nhưng lời công bố được đưa ra trong PD v về hậu quả đó là Ñāṇamoli đă hoàn tất công việc dịch thuật của ông về Pṭs sau khi đă dịch nháp xong tập Thanh Tịnh Đạo (Vism), nhưng trước khi được duyệt lại lần cuối và đưa ra in, chúng ta phải đoán chừng công việc dịch thuật Ppn coi như là cách làm sáng tỏ súc tích hơn của ông; mặt khác, tính kiên định trước sau như một giữa chú giải Pṭs-a và Pm (tôi không có trong tay bất kỳ tập nào) h́nh như vẫn cần thiết để các chú thích của ngài Ñāṇamoli có liên quan đến các khác biệt trong các bản dịch của ngài, cách làm sáng tỏ của ngài Pe Maung Tin trong Pp311 lại mang rất ít tương đồng với các bản dịch khác, bản được trưng ra ở đây lại không ăn khớp với bất kỳ bản dịch nào trong số ba bản dịch (cũng đă được sửa đổi v́ nhiều lư do nội phần) nhưng h́nh như vẫn không thể giảm được bất đồng với Pm, ít nhất trong phạm vi ngài Ñāṇamoli đă trích dẫn. [9]. Ce Be Se Pṭs giải thích là satī ti c̣n bản văn ghi là satin ti. [10]. Các nguồn Kinh Phật khác lại chú trọng đến các vấn đề khác trong điểm này. H́nh như chúng ta nên hiểu rằng đây chỉ là một lời giải thích về cước chú, dưới ánh sáng thấy được nơi cách giải thích khác đi này, đă trở thành “sau khi đă tạo ra được phương cách niệm như là một lối thoát bao gồm hiện hữu….” [11]. Hay với… [12]. Tôi đoán chừng với “câu trước” có nghĩa là đoạn văn trích trong Vibhaṅga. “đoạn sau” ám chỉ đoạn trích trong Paṭisambhidā, với “đoạn khác” có liên hệ với cách giải thích nguyên thủy do Dhammapāla cung cấp, tuy nhiên đây không phải là thứ tự đă thực sự diễn ra. [13]. Samannāhāra; samannāharitvā đă được định nghĩa trong chú giải Ud-a 389 dưới đây. [14]. Chú giải Ce Be Se giải thích là satī ti vā satisīsena jhānaṃ vuttaṃ ye kāyagatāsatiṃ c̣n bản văn ghi là sati-sīsena ’ etaṃ vuttaṃ. Satī ti vā ye kāyagatisatiṃ [15]. Không phải Trung Bộ Kinh (M) iii 89 như Woodward đă khẳng định. [16]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pana taṃ c̣n bản văn ghi là ’ etaṃ. [17]. Hay bất kỳ ai, cũng vậy xuyên suốt (cả tác phẩm) [18]. Chú giải Ce Be Se giải thích là āneñjao c̣n bản văn ghi là ānañjao [19]. Sūkarakhataleṇe; xin đọc Trung Bộ Kinh (M) i 501 về đoạn này. Căn cḥi cũng đă được nói đến trong S v 233; chú giải KS v 209 n 1. trong đó Woodward phân đoạn nguyên thuỷ được đưa ra trong SA sau khi đă lưu ư một cách sai lạc là Ud-a 189 “gọi đó là Sūkara-leṇa”. Điều đáng quan tâm ở đây là biết được một số cũng như vậy chú giải so sánh giữa bài tường tŕnh về việc khám phá ra căn cḥi, và việc giáng trần (avatāra) của Visṇu tái sanh thành con lợn ḷi đực. [20]. Chú giải Ce Be Se giải thích là etaṃ; c̣n bản văn lại bỏ qua. [21]. Missakapabbato; điều này không mấy rơ ràng là cách pha trộn giữa các từ nào mà ra. SED, sv ’raka, có nghĩa là muối được sản xuất từ những ruộng muối và một chất màu được tạo ra chiết xuất từ bơ, tuy nhiên cũng rất có thể đó là một loại hỗn hợp các loại hạt được nói đến ở đây, rất có thể do cách pha trộn hiện đại chúng ta có thể mua được tại Ấn Độ về một số hạt đậu chiên v.v…và được dùng như món ăn mặn; hay có thể ám chỉ một hỗn hợp của hai khả năng, tức là đá và bụi? bản văn Ce lại ghi thêm ca ở đây, Se ghi thêm vā. C̣n bản văn Se lại bỏ qua cả hai. [22]. Chú giải Ce (Be) Se giải thích là su (p) paṭṭhitamūlo c̣n bản văn ghi là sūpaṭṭhita mūlo. [23]. Ca; Be vā, hay. |
|