|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
2. SANH MỆNH NGẮN NGỦI. [276] Trong Kinh Phật thứ nh́: Quả thật Đức Phật chính là phép màu (acchariyaṃ bhante): Như trong Kinh Phật Meghiya[1], ta nên hiểu (Đức Phật) giống như một phép lạ (theo nghĩa) trách cứ. Trong phạm vi (Ôi Đức Phật, mẹ ngài) lại có định mệnh ngắn ngủi (yāva[2] appāyukā): Ôi Đức Phật sao mẹ ngài lại có định mệnh ngắn ngủi đến như vậy. Khi (một vị Bồ Tát) đă đản sanh được bảy ngày”(sattāhajāte): “là người đă sanh ra được bảy ngày” (sattāhajāto) là “người đă sanh ra sau một khoảng thời gian là bảy ngày” (sattāhaṃ[3]jāto): “Sau khi hạ sanh được bảy ngày, ư nghĩa ở đây là ngày thứ bảy kể từ ngày sanh. Mẹ ngài đă tái sanh thân h́nh nơi Cơi Trời Đâu Xuất (Tusitaṃ kayaṃ upapajji): xuất hiện, bằng tái sanh, nơi cơi Chư thiên[4] tại cơi trời đâu xuất. Người ta kể lại rằng một ngày kia có một vị Trưởng lăo đang ngồi thiền ngay tại nơi hành thiền ban ngày sau bữa trưa. Sau khi đă cảm nghiệm niềm vui to lớn và trạng thái phỉ lạc trong suy tư: “Ôi, được chiêm ngưỡng thân h́nh tuyệt vời của Chư Phật là điều tốt đẹp biết bao, là điều tạo cảm hứng tôn kính cho toàn bộ những ai chiêm ngưỡng ngài, thật say đắm quyến rũ là thế ’ Sau khi đă định tâm vào ánh hào quang nơi thân xác Đức Phật, thân xác đó được đầy đủ với[5] ba mươi hai tướng chính và (tám mươi) tướng phụ[6] khác nữa, thân xác đó đă đạt vẻ mỹ miều và tạo ra pháp không ǵ sánh nổi, liên quan[7] đến việc chiêm ngưỡng ngắm nh́n, có người đă suy nghĩ rằng: “Đối với một người mẹ đă hạ sanh ra ngay cả một đứa con dị dạng cũng vô cùng duyên dáng, cũng như đứa con có thân h́nh nguyên vẹn[8]. Hơn thế nữa [nếu đúng như nguyên văn[9]] người mẹ của Đức Phật, là hoàng hậu Mahāmāyā vẫn c̣n tiếp tục sống, th́ quả thật tôi tự hỏi, đây phải là một niềm vui và một trạng thái phỉ lạc to lớn đến nguời nào sẽ nổi lên[10] khi bà chứng kiến thân xác của Đức Phật con bà. Quả thật một mất mát to lớn với người d́ của tôi, hoàng hậu[11] Mahāmāyā, người mà đă phải kết thúc sanh mệnh trên thế gian này ngay sau khi đă hạ sanh Bồ tát được bảy ngày,” Hơn thế nữa, sau khi suy nghĩ như vậy, vị Trưởng lăo đó đă đi đến gặp Đức Phật và thông báo cho ngài về những suy nghĩ đó[12] mà rằng, “Ôi Đức Phật, quả thật đây là một phép lạ” v.v…ra vẻ trách móc về việc mẹ ngài đă phải kết thúc thời gian quá sớm. Tuy nhiên, một số người lại cho rằng chính với cách ám chỉ sau đây mà trưởng lăo đă lên tiếng trước sự hiện diện của Đức Phật, “Ôi Đức Phật, quả thật đây phải là một phép lạ” v.v…tức là “cho dù ngay cả Mahāpajāpati Gotamī đă phải trải qua biết bao đau khổ lớn lao[13] để cầu khẩn Đức Phật cho phép nàng được xuất gia, nhưng đă bị từ chối; ấy vậy mà khi ta đă khôn khéo cầu xin ngài, Đức Phật đă nhận lời cho phép nàng[14] được xuất gia và cho nàng thọ cụ túc giới bằng cách chấp nhận thực hiện bát trọng pháp[15] Nàng là người đă được phép xuất gia và thọ cụ túc giới sau khi nhận giới luật, nàng đă làm khởi sanh Tăng đoàn thứ hai[16] cho Đức Phật và cũng trở thành nhân duyên Tăng đoàn thứ tư được thiết lập. Ấy vậy mà người sanh thành ra Đức Phật, tức hoàng hậu Mahāmāyā cũng tiếp tục sống giống như những người này - v́ cả hai người đều là nữ sát đế lỵ ksatriyan[17] họ đă cùng nhau được hưởng phước[18] nhờ vào giáo lư này, trong khi đó xuất phát từ ḷng tôn kính mẹ ḿnh, rất có thể Đức Phật cũng để cho mẹ ḿnh được xuất gia và thọ cụ túc giới nơi giáo lư này giống như các nữ giới khác; ngược lại, do một thực tế là mẹ ngài[19] đă có một thọ mệnh quá ngắn ngủi, việc chu tất thọ mệnh ngắn ngủi như vậy quả đă gây biết bao phiền hà”cho mẹ ngài.[20]” Nhưng đây lại là điều bất hợp lư. V́ đang khi Đức Phật cho phép nữ giới xuất gia theo giáo lư của Ngài, cho dù có là mẹ Ngài hay bất kỳ người nào thuộc phái nữ, [277] được phép xử lư [vấn đề] hoàn toàn nghiêm trọng, không nhẹ nhàng, xuất phát từ một ước muốn là để cho giáo lư này được tồn tại lâu dài.[21] Tuy nhiên, một số người khác lại cho rằng sau khi đă tập trung chú ư vào những ân đức vô biên và không ǵ sánh nổi của Đức Phật không thể chia sẻ được cho bất kỳ người nào khác, như thập lực và bốn vô sở úy v.v…vị trưởng lăo đă thốt lên lời tuyên bố sau đây, “Ôi Đức Phật, đây quả thật là một phép lạ vậy”v.v…đang khi bạch cho Đức Phật biết làm sao lại xảy ra một việc đột ngột đầy kinh ngạc[22] với vị trưởng lăo, khi tâm ngài được trần ngập với phép lạ nơi (bản chất thực chất) chưa từng thấy,[23] không thể thích hợp[24] đối với mẹ ngài, là người đă cưu mang ngài trong ḷng đúng mười tháng, là vị đạo sư, là thủ lănh thế gian này. Tuy nhiên là người có đầy uy lực, lại có thể trở thành đầy tớ [25]cho bất kỳ ai khác. V́ lư do ǵ vậy? V́ đây chính là điều thích hợp với các ân đức của Đức Phật, có nghĩa là, người hạ sanh Đức Phật phải kết thúc thọ mệnh của ḿnh khi Đức Phật chỉ mới sanh ra được có bảy ngày. Và đang khi kết thúc sanh mạng thế gian này, mẹ ngài được tái sanh nơi cơi trời đâu xuất. Hơn thế nữa có một điều luật nói rằng bà mẹ các vị bồ tát[26] phải kết thúc sanh mệnh sau khi các vị đă hạ sanh vị bồ tát đó được bảy ngày và điều phải được ứng nghiệm. Chính v́ thế[27] Đạo sư nói rằng, “Hỡi Ānanda, điều đó đă được đáp ứng một cách hoàn hảo, để giải thích điều luật đó. Hơn thế nữa, chính v́ toàn bộ các vị Bồ Tát khác xuất hiện trên thế gian này, sau khi đă chu tất được các pháp Ba la mật nơi cơi trời đâu xuất, vẫn phải lưu lại đó nguyên cả một sanh mệnh và rồi, khi được các Chư thiên yêu cầu sau khi họ đă qui tụ lại ngay tại điểm tột đỉnh sanh mệnh đó, với ư định là tái tái sanh[28] nơi cơi chúng sanh để có thể chứng đắc giác ngộ[29], ngài tái sanh trước tiên sau khi đă xem xét kỹ lưỡng sanh mệnh của người sinh thành ra ngài, cũng như các ngài đă xem sét kỹ lưỡng thời gian, địa điểm, châu lục và ḍng tộc, thế nên Đức Phật đă cứu xét như vậy, khi ngài c̣n là một vị bồ tát theo cũng một cách như vậy nơi thành phố cơi trời đâu xuất, được quyết định trước hết, khi ngài quán xét thế gian với năm lần đại quán[30], mức độ sanh mệnh của người mẹ tương lai của ḿnh phải là người trong khoảng mười tháng bảy ngày th́ kết thúc sanh mệnh đó. Và ngài tái tái sanh ngay vào lúc ngài biết được “đây là sát na thích hợp để ta tái sanh; giờ đây là sát na thích hợp để cho ta khởi sanh.” Hơn thế nữa, ta nên hiểu[31] đây cũng chính là qui luật được áp dụng với toàn bộ các vị bồ tát. Chính v́ lư do đó Đức Phật nói rằng, “Hỡi Trưởng Lăo Ānanda, đối với các bà mẹ các vị Bồ Tát, sanh mệnh các ngài thật là ngắn ngủi” v.v… về điểm này[32]: Kết thúc thời gian của ḿnh (kālaṃ karonti[33]): kết thúc thời gian của ḿnh chỉ đơn giản do hoàn toàn cạn kiệt hết sanh mệnh như đă nói đến ở trên, không phải là điều kiện để cho ngài được hạ sanh người con của ḿnh. C̣n đối với nơi các vị bồ tát cư trú trong lần xuất hiện [34]cuối cùng th́ cũng tương tự như một điện thờ[35], không xứng được những người khác sử dụng[36] (cư trú) trước đó, trong khi đó (v́) mức độ sanh mệnh dành cho bà mẹ của vị Bồ Tát cũng chính là điều đối với bà mẹ của vị bồ tát không thể được hạ bệ và một người khác được thay thế vào địa vị hoàng hậu nhiếp chính đó. Chính v́ thế các vị bồ tát đă kết thúc thời gian của ḿnh vào chính sát na đó. Chính v́ liên quan đến cùng vấn đề này, thế nên vị Đại Bồ Tát đă thực hiện đến năm đại quán [37] . Nhưng trong đó (đối với giai đoạn sanh mệnh [278] liệu họ có kết thúc thời gian của họ chăng? Vào giai đoạn chính giữa. V́ trong giai đoạn đầu tiên khát vọng và tham dục rất mănh liệt nơi cá tánh[38] con người các chúng sanh, do điều đó mà các phụ nữ nơi họ phôi thai có thể h́nh thành vào các sát na như vậy. Đa phần không thể duy tŕ được phôi bào; trong khi đó nếu như họ cố gắng duy tŕ, phôi thai đó[39] sẽ trở thành một người rất giàu t́nh thương. Nhưng trong giai đoạn thứ ba ở giai đoạn giữa. Sau hai giai đoạn đầu đă trôi qua, căn bản đă được thanh tịnh[40] những đứa trẻ xuất hiện vào giai đoạn mà các căn đă được tinh sạch chúng sẽ trở thành những con người rất khoẻ mạnh. Chính v́ thế mà bà mẹ các vị bồ tát sau khi đă trải qua tính tuyệt hảo trong giai đoạn đầu tiên sẽ kết thúc sanh mạng của ḿnh sau khi đă hạ sanh đứa bé ở vào giai đoạn thứ ba ở giai đoạn giữa. Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm định lại vấn đề này, cho dù văn cảnh có thể cho ta hiểu rằng sự hiện hữu các bà mẹ vị bồ tát hay toàn thể chúng sanh, th́ sanh mệnh (sẽ diệt) và đạt đến tột đỉnh. Chính điều này khiến Phật Tự Thuyết này khởi sanh nhằm giải thích rơ , sau khi đă giải bày với lời giải thích về điểm này, (nhu cầu thiết phải cố gắng nơi nào có liên quan đến luyện tập vô tội, về điểm này[41]: Bất kỳ người nào (ye keci) là một đại từ liên quan.[42] Đă trở thành (bhūtā): tái sanh thành chúng sanh; sẽ trở thành (bhavissanti): sắp tái sanh trong thời gian sắp tới. Từ vā (hay là) có nghĩa là c̣n có một cách khác để lựa chọn. Từ api (bất kỳ điều ǵ) mang ư nghĩa một giới từ; bằng cách này ngài tính đến cả những người nào sắp xuất hiện nữa. Ở mức độ này, ngài đă bàn hết mọi khía cạnh cần đề cập đến không bỏ qua bất kỳ điều ǵ, nhờ đó kể cả những ǵ đă xảy ra v.v…toàn bộ chúng sanh đều nằm trong ba giai đoạn[43] thời gian. Hơn thế nữa[44]những người nào c̣n đang nằm trong bụng mẹ, kể từ khoảng thời gian khởi xuất khỏi nơi đó, ta gọi là “những người sắp khởi sanh” (bhūta), trong khoảng thời gian trước đó ta gọi là “những người sẽ khởi sanh” (bhavissanti) thấp sanh[45] và hóa sanh được gọi là tiếp theo sau[46] tâm tái sanh được gọi là “những người đă khởi xuất” (bhūta) (đă sanh), không phải “những ai sẽ tái sanh lại một lần nữa[47]” (bhavissanti). Hay nói cách khác, ta gọi tất cả những hạng người này, thông qua cách thức tái sanh của họ thuộc hiện tại, “những người nào đă tái sanh” (bhūta), (chính v́) thông qua việc họ tái sanh bằng cách tái sanh được nhắc liên tục trong tương lai, ta gọi họ “là những người sẽ tái sanh” (bhavissanti). Những người nào đă đoạn tận hết mọi phiền năo trong ḿnh được gọi là “những người đă trở thành” (Bhūta), v́ đơn giản những người này chính là “những người đă trở thành” (bhūta), chớ không phải những người nào sẽ phải tái sanh trở lại - - chính những người không thuộc hạng người này được gọi là “những người sẽ được tái sanh” (bhavissanti) không thuộc diện vừa liệt kê ở trên được gọi là “những người sẽ tái sanh” (bhavissanti). Tất cả sẽ tiến tới phía trước sau khi đă từ bỏ được xác thân (sabe gamissanti pahāya dehaṃ): mọi chúng sanh, chấp nhận cách phân loại vừa đề cập đến ở trên[48] lại được phân loại thành vô số loại khác nhau bằng cách tái sanh riêng, sanh từ ḷng mẹ, do sanh thú, thức trú và hữu t́nh cư v.v… sẽ tiến tới kiếp sau, sau khi đă từ bỏ, đă thải hồi được cá nhân và chính thân xác của họ; ngược lại các vị thánh hữu học (asekkhas)[49] (sẽ tiếp tục tiến tới) níp bàn. Liên quan đến vấn đề này, ngài chỉ rơ cho thấy, chẳng có ai thoát khỏi diệt[50]. Người nào có tài khéo, sau khi đă thẩm định sự mất mát đó là chung nhất cho tất cả (taṃ sabbajāniṃ kusalo viditvā): người nào có tài khéo, người nào phát sanh trí tuệ sau khi trí thấy rơ bằng cách niệm về tử, hay bằng cách tập trung chú ư đến đặc tính vô thường, cũng chính sự mất mát đó, tách biệt, tử là chung cho hết mọi chúng sanh. Hay nói cách khác toàn bộ những điều mất mát, tàn lụi, tử là điểm chung cho mọi chúng sanh.[51] Người nào kiên định, sẽ dẫn đến cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) (ātāpiyo brahmacariyaṃ careyya): kiên định, liên quan đến có tinh tấn, được coi là nhuệ khí[52] khi thực hiện công việc nhập thiền minh sát. [279] là người có chánh tinh tấn bắt đầu với tứ chánh cần. – ư nghĩa là phải tu luyện – cuộc sống phạm hạnh chính là thánh đạo, bằng những phương tiện thiện, vượt lên trên tử không bỏ qua bất kỳ điều ǵ. Việc chú giải Kinh Phật thứ hai đến đây là kết thúc.
-ooOoo-
[1]. Giống như chú giải Ud-a 219 ở trên. [2]. Ce Be Se giải thích là giống như vậy c̣n bản văn ghi là yā’; chú giải Ud [3]. Chú giải Ud-a 31 ở trên; Be giải thích là sattāhena ở đây. [4]. Chú giải Be Se giải thích là Tusitaṃ devanikāyaṃ c̣n bản văn Ce giải thích là Tusitadevanikāyaṃ. [5]. Những vị ngữ này bổ nghĩa (làm rơ nghĩa) cho tham dục, chớ không phải thân. [6]. Chú giải Ud-a 105. [7]. Chú giải Ud-a 159. [8]. Chú giải Be Se giải thích là surūpo viya manāpo c̣n bản văn Ce ghi là surūpo piyamanāpo [9]. Bhuddhānaṃ (số nhiều): toàn bộ các bản văn cũng giải thích như vậy. [10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tassā c̣n bản văn ghi là tassa. [11]. Chú giải Be Se giải thích là mayhaṃ mahāmātu deviyā/yā ( Ce giải thích là mayhaṃ mahāmātudeviyā) c̣n bản văn ghi là mayhaṃ mātu-Mahāmāyādevī yā, điều này có thể sai v́ Ānanda không thể đề cập đến mẹ của Đức Phật như là chính mẹ của ngài. Cha của ngài Ānanda là Amitodana (AA i 292) em trai của cha Đức Phật (R. Spence Hardy, Thủ bản về Phật giáo. Varanasi 1967, tr. 231). Điều này khiến ta hiểu rằng mẹ Đức Phật (hoàng hậu Mahāmāyā) là vợ của cha người anh trai của cha ngài Ānanda, mahāmātā (không thấy liệt kê trong tự điển PED) như vậy h́nh như muốn ám chỉ người cậu về phía cha của một người, đối lại với cullamātā, hay là người cậu về phía mẹ. [12]. Ce Be Se giải thích là parivitakkitaṃ c̣n bản văn ghi là parivitakkaṃ. [13]. Āyāsa; được định nghĩa trong Vibh-a 106 về tập chú giải Vibh 100; cũng như Thanh Tịnh Đạo 527. [14]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tassā, c̣n bản văn lại bỏ qua. [15]. Tám trọng pháp được áp dụng cho các Tỳ khưu ni – xin đọc chú giải Vin ii 254. iv 52; Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 276tt; cũng được ghi lại trong B Disc ii 268tt. [16]. Chú giải Be giải thích là dutiyaṃ. C̣n bản văn Ce Se ghi là tatiyaṃ; tôi cho là ở đây chúng ta nên tham khảo đến Tăng đoàn thứ hai và thứ tư của Đức Phật, tức là. Tăng đoàn các Tỳ khưu ni và các cận sự nữ. [17].Mẹ Bồ tát, là hoàng hậu Mahāmāyā và chị của bà là Mahāpajāpati Gotamī. [18]. Be giải thích là sobheyyuṃ c̣n bản văn Ce ghi là sobheyya, Se sobhāpeyya. [19]. Mẹ của Bồ tát. [20]. Chú giải Ce Be Se giải thích là assā c̣n bản văn ghi là assa. Tham khảo ở đây mọt lần nữa lại là Mahāpajāpati Gotamī. [21]. V́ có sự chấp nhận phụ nữ xuất gia vào Tăng đoàn do kết quả nơi cuộc sống phạm hạnh không tồn tại ở đó lâu dài và diệu Pháp chỉ kéo dài trong ṿng năm trăm năm hơn là một ngàn năm như ta hy vọng đâu – chú giải Vin ii 256 = Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 278. chính v́ lỗi phạm này, trong số những lỗi phạm khác, tức là. việc chấp nhận phụ nữ xuất gia vào Tăng đoàn, đó là điều Ānanda đă bị khiển trách rất nặng nề trong đại hội thứ nhất (Vin ii 289) [22]. Vimhayuppādaṃ; tôi chọn uppāda tiếng Phạn là utpāta (là một biến cố bất ngờ, không mong đợi, v.v…) hơn là utpāda. Nghĩa trước đó của từ uppādaṃ ở đây không thấy liệt kê trong tự điển PED. Chú giải Be giải thích là vitakkuppādanaṃ . [23]. Chú giải chú thích trong tập Ud-a 247 ở trên. [24]. Cách chấm câu của ngài Woodward trong toàn bộ đoạn này h́nh như lại sai, thí dụ như việc ngài chèn dấu chấm trước ayuttaṃ idaṃ, khiến ta cho rằng việc thọ tŕ giới này xuất phát từ Dhammapāla, hơn là xuất phát từ Ānanda. Cách chấm câu t́m thấy nơi các ấn bản khác đă quá rơ ràng là toàn bộ đoạn văn hiện giờ chứng tỏ rơ ư kiến như thể “những người khác” mà không có dấu tán thán như thấy trong tập Dhammapāla – thay vào đó, Dhammapāla h́nh như lại ngụ ư tán thành quan điểm đă diễn tả ở trên. [25]. Chú giải Be Se giải thích là Paricārikā c̣n bản văn Ce lại ghi là parihārikā. [26]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Bodhisattamātu kālakiriyā c̣n bản văn ghi là mātukālakiriyā. [27]. Chú giải Be Se giải thích là tasmā; c̣n bản văn Ce lại bỏ qua. [28]. Chú giải (Ce) Be Se giải thích là paṭisandhi(g)gahaṇāya ajjhesitā c̣n bản văn ghi là paṭisandhigahaṇamajjhesitā. [29]. Chú giải Be giải thích là abhibodhiṃ pattuṃ c̣n bản văn Ce ghi là abhisambodhiyatthaṃ, chú giải Se ghi là abhibodhyatthaṃ [30]. Ud-a 149 ở trên về những điều này, nh́n chung cũng như trong đoạn này [31]. Veditabbaṃ; cũng giống như trong toàn bộ các bản văn, cho dù điều này nên được làm bổ ngữ cho sā dhammatā, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa điều này được giải thích là veditabbā. [32]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tattha; bản văn lại bỏ qua. [33]. Về những ǵ diễn ra tiếp theo sau đó. xin đọc chú giải DA 436tt và MA iv 182. [34]. Chú giải Ce Be giải thích là carimattabhāve hi (Se pacchimatthabhāve hi) c̣n bản văn ghi là carimattabhāvehi. [35]. Một căn nhà được xây dựng trên một điện thờ, hay một bảo tháp, về điểm này xin đọc BK tự điển Phật Giáo IV 106tt; Bản dịch Thūpavaṃsa 44 n 2. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, chính là cung ḷng người mẹ được ví như là một “ngôi nhà”, hay “một vị trí”, cũng giống như con trẻ Bồ tát với một điện thờ mà sau này tượng trưng cho chính ngài. Về điểm này cũng có thể so sánh với Mahāvastu i 199 = ii 1, trong đó có khẳng định rằng h́nh như không phải người cưu mang một Bồ tát sau đó lại chiều theo t́nh yêu, và sau đó giống như những chiếc tráp châu báu được t́m thấy nơi các cung điện của các hoàng tử, Bồ tát cũng chính là một châu báu và mẹ ngài là chiếc tráp đó. xin cũng đọc R Spence Hardy: “ cung ḷng người mẹ đă cưu mang Bồ tát giống như chiếc tráp đựng di cốt trong đó; chẳng có ǵ có thể được mang thai trong cùng một chấp tri như vậy; những bài tiết b́nh thường không thấy diễn ra, và kể từ khi thọ thai th́ hoàng hậu Mahamāya được thoát khỏi mọi t́nh dục và được sống trong sự tiết dục nghiêm ngặt nhất” (thủ bản Phật Giáo, Varanasi 1967. trang 141) h́nh như điều này th́ cả hai truyền thống đều đă đúc kết. [36]. Paribhogārahaṃ; hoặc là v́ lư do đă đưa ra ở phần chú giải trên, hay là hiểu theo nghĩa không xứng đáng thưởng thức niềm vui (tham dục) do người khác đem lại, nói đến điều này có thể so sánh bằng cách nào người ta đem của bố thí đến dâng Đức Phật, nhưng ngài lại không dùng đến của bố thí đó, nhưng cũng chẳng có người nào khác tham dự vào được (Sn tr15; Chú giải Ud 82 trong đó có kể lại phần của bố thí của Cunda c̣n dư lại chỉ c̣n cách đem chôn cũng v́ lư do đó; cũng xin đọc Trung Bộ Kinh (M) i 12 tt). [37]. Pañca mahāvilokanāni; Be pañcamaṃ mahāvilokanaṃ, là cuộc đại quán lần thứ năm. [38]. Attabhāve. [39]. Chú giải Ce Be Se DA MA giải thích là gabbho; c̣n bản văn th́ bỏ qua. [40]. Vatthuvisadaṃ; chú giải Vibh-a 276, 283 và Thanh Tịnh Đạo 128. [41]. Những ǵ diễn ra tiếp theo sau đó có thể được so sánh với bài chú giải tương tự như vậy về một đoạn kệ khác, trong chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 246 tt. [42]. Hay là bất định; xin đọc chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 211 ở trên. [43]. Chú giải Be giải thích là tiyaddhapariyāpanne c̣n bản văn Ce Se ghi là Paṭisandhipariyāpanne; xin đọc chú giải Ud-a 362. [44]. Xin đọc chú giải Ud-a 93 ở trên để có điểm tương đồng. [45]. Xin đọc chú giải Ud-a 291 dưới đây. [46]. Ce Be Se giải thích là parato c̣n bản văn ghi là upari. [47]. Uppajjitabbabhavavasena; quả thật là điều thú vị để lưu ư rằng các chúng sanh được sanh ra từ thai sanh không được coi như là đă được tái sanh (bhūta) vừa khi được tái sanh nhưng chỉ khi nào các chúng sanh này đă kết thúc giai đoạn nằm trong thai bào; ngược lại thấp sanh và hóa sanh ngay từ giai đoạn đầu tiên đă không phải chịu một giai đoạn thai bào, đă được tái sanh ngay từ sát na đầu tiên khi tâm tái sanh xuất hiện. [48]. Rất có thể trong chú giải Ud-a 214 ở trên. [49]. Đó chính là, các vị A-la-hán. [50]. Acavanadhammo; là một phần tà kiến nổi lên nơi Baka Phạm Thiên – xin đọc chú giải Trung Bộ Kinh (M) i 326=S i 142=J iii 358. xin cũng đọc chú giải chú thích trong Ud-a 223 ở trên. [51]. Chú giải Be giải thích là sabbassa vā sattassa jāniṃ. C̣n bản văn Ce Se giải thích là sabbaṃ vā ’ssa sattassa hāniṃ. H́nh như tập Dhammapāla trước tiên cũng t́m cách giải thích sabbajāniṃ là sabbassa (sattassa) jāniṃ, và rồi theo cách khác, là sabbaṃ (assa sattassa) jāniṃ. Chính v́ thế tôi đề nghị một cách giải thích là sabbaṃ vā ’ssa sattassa jāniṃ, mặc dù không có bản văn nào ủng hộ cách giải thích này một cách toàn diện cả. [52]. ātāpiyasaṅkhātena viriyena samannāgatattā ātāpiyo; toàn bộ các bản văn cũng như vậy. Tuy nhiên đây h́nh như là cách giải thích không chính xác, v́ phần đầu tiên của từ ghép kết thúc bằng osaṅkhātena chắc chắn phải là một danh từ. Chính v́ thế cách giải thích nguyên thuỷ phải là ātāpasaṅkhātena…ātāpiyo. Chú giải MA i 243 ghi ātāpī ti tīsu bhavesu kilese ātapatī ti ātāpo ’ etaṃ nāmaṃ và SA i 204 ghi ātāpī ti viriyātāpena samannāgato; cũng xin đọc Ud-a 174 ở trên.
|
|