|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
8. Saṅgāmaji Trong Kinh Phật thứ tám: Ngài Saṅgāmaji (Saṅgāmaji): là một người có tên như vậy. Do vị Trưởng lăo này, là con trai của một thương lái giàu có sở hữu rất nhiều của cải trong thành Sāvatthi, do bị sợi dây gia tộc ràng buộc, vào thời điểm cậu con trai này đến tuổi trưởng thành đă nhận được một gia tài kếch xù, sau khi cha mẹ đă đính hôn cậu ta với một phụ nữ duyên dáng. Thế rồi một ngày kia, khi chàng trai nh́n thấy một cận sự nam, là cư dân thành phố Sāvatthi, nhân một cơ hội đặc biệt vào buổi tối cậu ta đang đi về phía khu rừng Jeta với mục đích được nghe Phật Pháp, cậu mặc áo rất sạch sẽ, mang theo hương hoa cùng ṿng hoa v.v…trong tay[1] sau khi đă thọ tŕ giới và bố thí vào một dịp đặc biệt ngay buổi sáng, người ta hỏi cậu, “Nhà ngươi đang đi đâu đấy?” và sau khi cho biết, “Tôi đi đến nơi của Bậc đạo Sư, Đức Thế Tôn trong khu rừng Jeta để lắng nghe Phật Pháp”, cậu suy nghĩ, “Được rồi, như vậy ta cũng đi theo2” và cậu đă đi theo họ đến khu rừng Jeta; Vào dịp đó, [71] sau khi đă ngồi thiền trên một chỗ tốt nhất dành riêng cho Đức Phật, được sửa soạn trong sảnh đường Saddhamma, Đức Thế Tôn đang thuyết Pháp cho bốn hội chúng nghe, giống như tiếng một con sư tử có bờm trong hang động[2] bằng vàng sáng chói. Thế rồi những đệ tử đó2 chào cậu ta và nhường chỗ ngồi sang một bên, đang khi người thanh niên Saṅgāmaji đang lắng nghe Phật Pháp ngay kế bên các hội chúng đó3, cũng ngồi xuống. Thế rồi Đức Thế Tôn, sau khi đă thuyết giảng tuần tự pháp, Ngài đă giảng dạy tứ chân đế, và khiến cho vị ấy nhập vào tột đỉnh các chân đế đó, trong ngày hôm đó đă có nhiều người quán triệt Phật Pháp con số lên đến cả hàng ngàn người4 trong đó có cả chàng thanh niên Saṅgāmaji cũng chứng đắc thánh quả Nhập Lưu; đứng dậy trước đám đông, đi đến gặp Đức Thế Tôn đảnh lễ Ngài, và rồi xin Ngài cho được xuất gia, nói rằng, “Mong rằng Đức Thế Tôn cho phép con được xuất gia”. “Nhưng nhà ngươi đă được phép cha mẹ cho xuất gia chưa?” “Thưa Đức Thế Tôn, cha mẹ con chưa cho phép” “Hỡi Saṅgāmaji thân yêu, các vị Như Lai không nhận bất kỳ người con trai nào được phép xuất gia mà không có sự đồng ư của cha mẹ cả.” cậu thưa lại rằng, “Thưa Đức Thế Tôn, con sẽ hành động theo cách đó để cha mẹ cho phép con xuất gia5”, thế rồi cậu ta6 đảnh lễ Đức Thế Tôn, rảo quanh Ngài một ṿng về phía bên phải, tiến đến gặp cha mẹ và cậu ta nói, “ Cha mẹ yêu quí, xin cho phép con xuất gia”. Những ǵ xảy ra tiếp theo sau đó ta nên hiểu theo cách đă được kể lại trong Kinh Raṭṭhapāla (M. ī 54-74). Thế rồi[3] với tư cách là một người được phép của cha mẹ. Sau khi đă hứa với cha mẹ rằng sẽ cho cha mẹ được gặp ngay sau khi đă xuất gia2, cậu ta đă đi đến gặp Đức Thế Tôn và xin Ngài nhận cho phép xuất gia,3 Ngài đă nhận cho xuất gia và được thọ cụ túc giới trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn; và hơn thế nữa, như một người đă xuất gia từ lâu kể từ ngày thọ cụ túc giới, vị ấy đă trở thành một người chứng đắc được sáu phép Thần Thông, sau khi đă trải qua mùa kiết hạ trong một nơi trú xứ4 nằm trong rừng, áp dụng5 và tự luyện hạnh đầu đà nhằm mục đích đạt đến thánh đạo cao hơn. Thế rồi vị ấy ra đi, với tư cách là một người đă trải qua nhiều mùa kiết hạ, vị ấy đă trở lại Sāvatthi với mục đích gặp Đức Thế Tôn và giữ lời6 hứa với cha mẹ. V́ lư do đó người ta nói rằng, “vào một dịp đó, vị Trưởng lăo Saṅgāmaji đă trở lại thành Sāvatthi.” do Trưởng lăo, vừa quay trở lại từ chuyến đi khất thực sau bữa ăn trưa, đang khi c̣n đi khất thực trong ngôi làng bên cạnh.[4] Ngài đă trở lại khu rừng Jeta đi đến gặp Đức Thế Tôn, và rồi sau khi đă được Đức Thế Tôn chào đón hỏi thăm. Ngài đă tuyên bố A-la-hán (arahaṃ) . Sau đó vị ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn một lần nữa, đi quanh Ngài từ phía bên phải, vị ấy đă khởi xuất, và ngồi thiền suốt thời gian c̣n lại trong ngày dưới một gốc cây. Lúc này, cha mẹ ngài cùng với họ hàng và các bạn bè, vừa nghe ngài mới về tới. Liền vội vă đi về phía thiền viện, rất vui mừng và hoan hỉ, nói rằng, “Người ta cho biết Saṅgāmaji vừa mới quay lại đây”, đă nh́n thấy ngài ngồi thiền tại đó, khi họ vừa nh́n thấy ngài, và tiến lại gần, [72] Tỏ lời chào đón long trọng, rồi thỉnh cầu ngài nói rằng, “Đừng để cho nhà vua lấy đi gia tài to lớn của gia đ́nh v́ không c̣n con trai thừa kế, hoặc để cho người thừa kế không được quí chuộng2 lấy đi gia tài của nhà ta; việc xuất gia này chẳng có ǵ là tốt lành cả 3 hăy trở về đi, hăy quên điều đó đi”; vừa nghe những lời này, vị Trưởng lăo ngồi yên như không nghe thấy ǵ cả, nghĩ rằng, “Những người này chẳng hiểu ǵ về hoàn cảnh của ta, ta đâu có cần đến của cải; họ chỉ ước muốn gắn bó với những tham dục mà thôi; giống như những người khuân vác phân tro [5] đang cầm trong tay một cục phân ... những người này không thể để tâm lắng nghe Phật Pháp được.” khi nhận ra điều đó, ngài không chấp nhận lời yêu cầu của họ; Sau khi đă thỉnh cầu ngài bằng nhiều cách, họ quay trở về nhà và nói với người vợ của Trưởng lăo mang theo con trai nhỏ của ngài, cùng với một đoàn tùy tùng, nói rằng, “Cho dù chúng ta đă thỉnh cầu ngài nhiều cách, chúng ta đă thất bại chẳng chiếm lại được trái tim của ngài Trưởng Lăo; Ôi con yêu quư, hăy lên đường, và cầu khẩn chồng con bằng cách cho ngài nh́n thấy con trai của ḿnh và làm cho ngài nhận ra được (những sự việc chúng ta đang làm)” người ta kể lại rằng vị Trưởng lăo này đă xuất gia trong khi người vợ đang mang thai2 .“Thưa vâng” nàng đồng ư; và nàng bồng đứa bé lên đường đi đến cánh rừng Jeta cùng với một đoàn tùy tùng rất đông đảo. Liên quan đến vấn đề này, có lời kể lại như sau, “ Và người vợ của vị Trưởng lăo Saṅgāmaji đă đến và lắng nghe” v.v…Về điểm này: Người bạn đời phụ nữ của ngài trước kia (purāṇadutiyikā): người bạn đời3 phụ nữ 4 bằng cách chăm sóc rửa chân[6] cho ngài trước kia vào thời ngài c̣n là một chủ gia nhân, có nghĩa là người vợ. Con người đáng kính trọng (ayyo): nàng nói một cách thích hợp với những người đă xuất gia, ở một nơi phải nói như vậy, tức là. “Thưa ngài” (ayyaputto). Người ta nói rằng (kira) một tiểu từ có nghĩa là lời đồn thổi; ta nên hiểu mối tương quan này là anuppatto kira (đă tới, người ta nói). Thưa ngài sa môn, xin hăy chăm sóc em, v́ em đang chăm sóc con nhỏ (khuddaputtaṃ hi 2 samaṇa posa maṃ): ngài đă xuất gia và bỏ lại em, đang khi lúc em đă mang thai với ngài; cũng như vậy giờ đây em đang phải nuôi con nhỏ, với đứa con trai hiện giờ vẫn c̣n nhỏ dại.3 Công việc này về phần 4 sa môn một vị xuất gia sau khi đă xuất gia bỏ lại một người như em quả thật không thích hợp chút nào; chính v́ thế, hỡi sa môn, ngài phải hỗ trợ em, v́ em đang phải chăm sóc con nhỏ, với đủ mọi chi phí cho cái ăn cái mặc và đủ mọi chi tiêu [7] khác v.v… Nhưng vị Trưởng lăo Saṅgāmaji vẫn thu thúc 2 các căn của ḿnh, ngài đă không nh́n nàng và ngay cả chẳng nói với nàng3 một lời nào. V́ lư do đó người ta kể lại rằng, “Với lời nàng nói như vậy, vị Trưởng lăo Saṅgāmaji vẫn giữ im lặng”. Sau khi nhận ra vị Trưởng lăo vẫn không nói một lời nào, sau ba lần nàng đă nói cùng một giọng điệu như vậy.4 Nàng đă để đứa con trai của nàng ngồi vào ḷng vị Trưởng Lăo, nghĩ rằng “ngay cả những người đàn ông nào không quan tâm đến vợ ḿnh, tuy nhiên5 cũng vẫn c̣n quan tâm đến đứa con của ḿnh, t́nh phụ tử đối với con cái quả đă ngấm vào đến xương tủy của một người cha; và chính v́ thế, nhờ t́nh phụ tử này, nàng có thể thuyết phục [8] được vị sa môn.[73] Thế rồi, sau khi đă bước sang một bên, nàng lên tiếng nói. “Hỡi sa môn, con trai của ngài đó, hăy ráng mà nuôi con đi!” Trước khi ngài thực hiện một chia cắt như vậy. Người ta kể lại rằng, “Nàng không thể b́nh tĩnh để đối diện với vị Trưởng lăo2 được nữa. Vị Trưởng lăo cũng chẳng nh́n đến con trai, đồng thời cũng không nói với con nửa lời.3 Thế rồi người phụ nữ đó, sau khi quay mặt lại nh́n vị sa môn với một khoảng cách không xa mấy, đă nhận ra hành động của vị sa môn4, nàng đă quay lại và bế lấy đứa bé nghĩ rằng, “Vị sa môn này không c̣n cần đến cả con trai của ḿnh nữa5.” và nàng đă bỏ đi; v́ lư do đó người ta nói rằng, “Thế rồi người đàn bà đó là người vợ trước kia của vị Trưởng lăo Saṅgāmaji” v.v… Về điểm này: Ngay cả như đứa con trai của ḿnh, (puttena pi): vị sa môn này không c̣n cần đến đứa con trai chính ḿnh đă sanh ra, ở đây ám chỉ cho thấy ngài không c̣n quan tâm đến bất kỳ điều ǵ khác. Thiên đường (dibbena): liên quan đến vấn đề này, đây chính là “những ǵ thuộc về thiên đường” do có liên quan đến đặc tính giống như những người đang ở trên thiên đường[9] vậy. V́ các thần linh có thần kinh nhăn thuộc về những sự trên trời2 chỉ hiện hữu thông qua các hành vi công đức thiện hạnh mà thôi. Chẳng bị cản trở do ảnh hưởng của mật, nươc đờm dăi và máu v.v… và con mắt này có khả năng nhận ra3 (quan sát) đối tượng4 ở rất xa.[10] Đây cũng là điều “thiên đường” trong đó con mắt đó liên kết với các phép thần thông 2 xuất hiện thông qua thiền định tương ưng với đệ tứ thiền Jhana thuộc loại đó. Hay c̣n gọi là “thiên đường” do đă đạt đến thông qua phụ thuộc vào thiên trú 3 hoặc giả thuộc về “thiên đường” do đặc tính sáng chói lạ lùng. Liên quan đến mục đích cao cả của nó.4 Với thiên nhăn đó. Rất thanh tịnh (visuddhena): thanh tịnh hoàn toàn và trọn vẹn nhờ vào mọi phiền năo đă biến mất như là những triền cái v.v… Vượt quá con mắt nhân loại (atikkantamānusakena): Vượt xa lănh vực[11] các con người điều không thích hợp thuộc dạng đó (imaṃ 2evarūpaṃ vippakāraṃ): điều không thích hợp thuộc loại3 đó đă đề cập đến ở trên đều là nghiệp bất thiện, được coi như là đặt đứa con trai vào ḷng, đây là một điều không tốt đối với một người đă xuất gia. Vấn đề này (etam atthaṃ): thẩm định toàn bộ các sắc thái vấn đề này được coi như là một thực tế vị Trưởng lăo Saṅgāmaji đă không mảy may để ư đến toàn bộ những hoàn cảnh trong đó vợ và con trai của ngài có liên quan. Tập Udāna này (imaṃ udānaṃ 4) làm xuất hiện udāna để giải thích (vẻ oai nghiêm5) của trạng thái kiên định nơi ngài về những ǵ ngài ước muốn và những ǵ ngài không ước muốn v.v…có liên quan. Về điểm này. Khi nàng tiến lại gần (āyantiṃ): khi nàng đang đi lại. Đây là điều muốn ám chỉ chính là người bạn đời phụ nữ trước kia của ngài (người vợ). Ngài chẳng hoan hỷ chút nào (’ābhinandati): ngài chẳng luyến ái chút nào. Ngài không thoả măn nghĩ rằng, “Nàng đến để gặp ta”. Ngay sau khi nàng bỏ đi (pakkamantiṃ): khi nàng đă bỏ đi, nghĩ rằng, “Sau khi đă gặp được nàng[12] “người này đă ra đi mà không nói cả lời chào lẫn nhau”. Ngài đă không buồn phiền (na socati): ngài không bị lương tâm cắn rứt. Người ta nói rằng, “Saṅgāmaji, đă thoát khỏi mọi kiết sử” hơn thế nữa, cũng để chỉ ra cho thấy lư do tại sao liên quan đến vấn đề này vị Trưởng lăo lại không hân hoan, cũng không buồn phiền. Về điểm này: thoát khỏi kiết sử (saṅgā): vị Tỳ khưu Saṅgāmaji, đă được giải thoát bằng những giải thoát đoạn trừ tận gốc rễ và an tịnh 2 thoát khỏi năm triền ách3, tức là triền ách tham dục, triền ách sân, si, kiêu mạn và tà kiến. [74] Người đó ta đă gọi là thầy Bà la môn (tam ahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ) :con người đó4 đă đạt đến trạng thái kiên định, một con người đă đoạn tận mọi lậu hoặc, ta đề cập đến khi nói về thầy Bà la môn. Liên quan đến một thực tế là nơi ngài mọi phiền năo đă được đoạn trừ. Phần chú giải Kinh Phật thứ tám đă kết thúc tại đây.
-ooOoo- [1]. Chú giải Ce Be Se giải thích là gandhamālādihatthe, c̣n bản văn ghi là gandhamālādīhi hatthe; chú giải Ud-a 354. 2. Chú giải Be Se giải thích là gamissāmi. C̣n bản văn Ce ghi là āgamissāmi. [2]. Kañcanaguhāya; ư nghĩa guhā này không thấy ghi trong tự điển PED, nhưng lại ghi trong chú giải Childers sv. xin cũng đọc Vv IV 12. 16 dành cho các h́nh ảnh tương tự như vậy. 2. Chú giải Ce Be Se giải thích là te; c̣n bản văn lại bỏ sót. 3. Chú giải Ce Be Se giải thích là parisāya, c̣n bản văn lại ghi là pariyāya. 4. Pāṇa; nghĩa đen, các sanh vật có hơi thở (sinh vật) và như vậy không giới hạn ở con người mà thôi. 5. Bản văn ghi thêm hi; Ce Be Se lại bỏ sót. 6. Be giải thích cũng như vậy; bản văn Ce Se lại bỏ sót. [3]. Ce Be Se giải thích là atha, c̣n bản văn ghi là atha kho. 2. Mở đầu trích đoạn trong chú giải Be, với từ pabbajitvā, hơn là bản văn với attānaṃ. 3. Chú giải Ce Be Se giải thích là ca; c̣n bản văn lại bỏ sót. 4. Chú giải Be Se giải thích là araññāvāse; c̣n bản văn Ce ghi là araññavāse. 5. Chú giải Ce Be Se giải thích là ghaṭento, ở đây ở kia. C̣n bản văn lại ghi là ghaṭanto. 6. Chú giải Be Se giải thích là paṭissavamocanatthaṃ, c̣n bản văn Ce ghi là paṭiññā pamocanatthaṃ; mặc dầu ư nghĩa có phần ảnh hưởng đôi chút. [4]. Chú giải Ce Be giải thích là dhuragāme (Se dhūragāme) c̣n bản văn ghi là dūragāme. 2. Chú giải Ce Be giải thích là appiyā; c̣n bản văn lại bỏ sót. 3. Chú giải Ce Be giải thích là ’ ālaṃ, c̣n bản văn Se ghi là alaṃ, đầy đủ (đối với vị xuất gia này) [5]. Gūthadhārī; hay là những kẻ c̣n mang cả phân tro trên ḿnh,và có thể đoán chừng đây là những loài côn trùng, chú giải Be c̣n ghi lại một vl gūthakhādī, là những loại ăn phân. 2. Đó là mang thai (có thai); chú giải Ud-a 117 dưới đây. 3. Dutiyā; chú giải Be ghi là dutiyikā. 4. Chú giải Be Se giải thích là pādaparicaraṇao, c̣n bản văn Ce ghi là pādaparicārikao; chú giải S i 125 ở đó cho thấy những cô con gái của Ma-vương đă hầu hạ dưới chân Đức Phật (pāde te samaṇa paricārema), cho dù vấn đề ở đây xem ra có vẻ không sáng sủa rơ ràng theo cách giải thích này, trong Ksi 156 có ghi là “như chúng ta đă trở thành những nô bộc rất tận tụy). 1. Vadati; ngôi thứ ba số ít, trong khi đó trong Ud ayyo diễn ra trong văn cảnh bằng thể văn tường thuật, đang khi ta phải dùng số nhiều ở đây (ta nói rằng = họ nói. Chính v́ thế điều này không rơ giả như chủ từ của động từ vadati phải được hiểu là số ít (và chúng ta cũng biết là một người vợ cũng có thể gọi chồng là “thầy”) hay là người vợ tiền kiếp nói về ḿnh, nhắc lại điều nàng đă nghe được ở đâu đó. 2. Chú giải Be Se cũng như vậy, với bản văn Ce ghi là ’ āmhi. 3. Daharaputtā; c̣n bản văn Be lại bỏ sót. 4. Chú giải Ce Be giải thích là tava, c̣n bản văn ghi là ’va. [7]. Chú giải Vv-a 222, 298 trong đó điều này ám chỉ thực phẩm và quần áo với phẩm chất rất tồi tàn. Chuyện kể gợi ư rằng vợ của Saṅgāmaji đang cố sức dụ chồng ḿnh quay trở về nhà. Tại đó ông ta chắc chắn là có thể trở lại lối sống sang trọng xưa. Phải chăng điều này có ám chỉ rằng nàng hy vọng theo chàng với tư cách là một vị sa môn và có dịp chia sẻ với chồng với những điều trợ giúp cần thiết tối thiểu? 2. Chú giải Se giải thích là okkhipitvā, c̣n bản văn Ce Be ghi là ukkhipitvā; chú giải CPD, sv ukkhipati, trong đó cách giải thích này đă được đề nghị; nhưng lại không liệt kê trường hợp từ sv okkhipati. 3. Chú giải Ce Be Se giải thích là ’eva oloketi ’āpi ālapati, c̣n bản văn ghi là’eva olokesi ’āpi ālapi. Taṃ ở đây lại ám chỉ người vợ cũ, hơn là người con trai, người ta đă che dấu cậu ta sau này trong tất cả các tập chú giải, trong đó người ta kể lại rằng chính vị Trưởng lăo cũng không để ư đến ngài nữa (pi). 4. Chú giải Ce Be Se giải thích là ’ eva, c̣n bản văn ghi là ’eva. 5. Chú giải Ce Se giải thích là pi, c̣n bản văn ghi là va, chú giải Be lại bỏ sót. [8]. Chú giải Be Se giải thích là vase vatteyya, c̣n bản văn ghi là vasepavatteyya, chú giải Ce ghi là vase pavatteyya. 2. Chú giải Be Se giải thích là sammukhe, c̣n bản văn Ce ghi là pamukhe. 3. Chú giải Ce Be Se giải thích là ’eva oloketi ’āpi ālapati, c̣n bản văn ghi là ’eva olokesi n’āpi ālapi. 4. Ākāraṃ; hay là nói bóng gió, v.v… 5. Theo cách chấm câu bản chú giải Be, đă mở ra một trích dẫn về puttena. [9]. Chú giải Ce Be Se giải thích là dibbasadisattā, c̣n bản văn ghi là dibbe bhavaṃ. 2. Chú giải Ce Be Se (Thanh Tịnh Đạo 423) giải thích là dibbaṃ pasādacakkhu; c̣n bản văn lại ghi là dibbapasādacakkhu; một phần vấn đề tiếp theo cũng được t́m thấy trong It-a 27 và Thanh Tịnh Đạo 423, trong khi đó rất nhiều điều giống như vậy cũng được nói tới trong chú giải Ud-a 201 dưới đây liên quan đến thiên nhĩ, ta cũng thấy nơi các chú thích. Ñāṇamoli (Ppn 465) giải thích điều này như là “v́ (các thần linh chứng đắc) Thiên nhăn thông” Pe Maung Tin (Ppn 490) “v́ các vị chư thiên chứng đắc Thiên nhăn thông ”. Tuy nhiên, trong Asl 306tt thần kinh nhăn chỉ là một trong số mười bốn nhân tố cấu thành nhục nhăn, một danh sách khi được soạn thảo tỉ mỉ cũng trở thành bốn mươi bốn nhân tố cấu thành, bốn trong số đó gồm cả thần kinh, lại xuất phát từ nghiệp chướng mà ra; chính v́ thế h́nh như cần thiết phải coi dibbaṃ ở đây như là một tĩnh từ phụ nghĩa cho thần kinh nhăn, tức là pasādacakkhu. Xin đọc Thanh Tịnh Đạo 444 - 446. 3. Sampaṭicchana; là sát na thứ sáu trong số mười bảy sát na tâm khả dĩ (cittakkhaṇa) tạo thành một qui tŕnh tâm (cittavīthi). Xin đọc chú giải Ud-a 91 dưới đây. 4. Chú giải Ce Be Se (Thanh Tịnh Đạo 423) giải thích là ārammaṇasampaṭicchanasamatthaṃ; c̣n bản văn ghi là ālokanasamatthaṃ. It-a ghi là ārammaṇaggahaṇasamatthaṃ; xin đọc chú giải Ud-a 201 dưới đây. [10]. Dūre pi; có lẽ ta hiểu theo nghĩa duyên, như trong Asl 337 và Thanh Tịnh Đạo 450. It-a, Thanh Tịnh Đạo 423 có ghi thêm upakkilesavimuttatāya, liên quan đến đặc tính được giải thoát khỏi mọi tuỳ phiền năo; xin đọc chú giải Ud-a 201. 2. Chú giải Ce Be Se giải thích là abhiññācakkhuṃ (thần thông nhăn); cũng được gọi là dibbacakkhu, xin đọc chú giải ghi chú nơi Ud-a 161 dưới đây. Ở đây It-a lại coi là ñāṇacakkhu. 3. Dibbavihāra; “sống như một Chư thiên”(Pe Maung Tin). “thiên trú” (Ñāṇamoli). Không đưa ra bất kỳ b́nh luận nào thêm nữa. Nhưng xin đọc D iii 220 đoạn chú giải này đă phân biệt được rạch ṛi dibbavihāra khác với phạm trú và thánh trú, về điều này th́ DA 1006 giải thích là tám thiền chứng; cũng xin đọc Tăng Chi Bộ Kinh i (A) 182tt nói về chiếc chơng dibbaṃ, brahmaṃ và ariyaṃ, chiếc chơng đầu tiên tương đương với bốn bậc thiền Jhanas. AA ii 294 cộng với việc Ngài đi kinh hành (đứng yên, ngồi và nằm xuống) tất cả đều được coi là dibbaṃ cả ngay trước khi chứng đắc các bậc thiền Jhanas đó, cũng như sau khi đă xuất khởi từ t́nh trạng đó. 4. Mahāgatikattā; không thấy ghi trong tự điển PED, It-a,Thanh Tịnh Đạo, lại khẳng định mục tiêu to lớn là do khả năng có thể nhận ra được cảnh sắc xuyên qua cả tường v.v… từ này cũng phụ nghĩa cho các bức tường v.v… từ này cũng khẳng định được từ Tathāgata (Như Lai) trong Ud-a 154 dưới đây. [11]. Chú giải Ce Be Se giải thích là visayātītena, c̣n bản văn ghi là visayātikkamena. 2. Udāna đă bỏ sót. 3. Ce Be Se giải thích là imaṃ evaṃ, c̣n bản văn ghi là imaṃ 4. Chú giải Ce Se lại thêm udānesi, làm cho khởi sanh; bản văn Be lại bỏ sót. 5. Chú giải Ce Se giải thích là tādibhāvānubhāvadīpakaṃ c̣n bản văn Be ghi là tādibhāvadīpakaṃ. [12]. Disvā; chú giải Be ở đây giải thích là sā. 2. Xin đọc chú giải Ud-a 152 dưới đây. 3. Chú giải Ce Be giải thích là pañcavidhā pi saṅgā (Se pañcavidhato pi saṅgato) c̣n bản văn ghi là pañcavidho pi saṅgo. 4. Bản văn chèn thêm tādisaṃ; chú giải Ce Be Se lại bỏ sót. |
|