|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
3. QUÁN XÉT LẠI [335] Trong Kinh Phật thứ ba: Vô số những hành vi và những pháp bất thiện của ngài đă được đoạn trừ (attano aneke pāpake akusale dhamme pahīne): Đức Phật đang ngồi thiền quán xét lại một ngàn năm trăm phiền năo[1] đă diễn ra liên tục ngay từ khoảng thời gian vô thuỷ vô chung chấp nhận cách phân loại thành các nhóm như sau, tức là: tham lam, sân hận, si mê, không khéo tác ư, vô tàm và không bị khiển trách (D iii 212) hôn trầm và thụy miên[2], sân (giận dữ) oán hận, lường gạt và thù oán, ghen tỵ và bỏn xẻn, xảo trá và phản bội, ương ngạnh và kiêu kỳ, bướng bỉnh và tinh nghịch, mạn và quá mạn, mê say và dễ duôi, *ái dục và vô minh; tâm bất thiện (D iii 214) tà hạnh (D iii 214), *trần cấu[3]( ), không chừng mực (Vibh 368), những tà tầm( ) [cấu uế (Vibh 368)[4] vô tàm (D iii 215) và hư tầm ( ), [Cố gắng phấn đấu và những ái dục) (D iii 216); bốn điều “điên đảo”[5] (Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 52), các phiền năo (āsavas) (D ii 81), những bộc lưu (D iii 230), những phối, (D iii 230) những phược (D iii 230); thiên vị [6] (D iii 228); ái dục và thủ ( ); năm tâm hoang vu (D iii 237) năm hệ lụy tâm (D iii 238) những pháp cái (D iii 234), những phỉ lạc ( ); lục căn tranh căi bất đồng (D iii 286);* những loại ái dục (D iii 244) bảy tùy miên (D iii 254); tám tà tánh (D iii 289); [chín căn oán giận (D iii 262); chín căn ái dục (D iii 289); mười bất thiện nghiệp đạo (D iii 269); [hai mươi mốt tà mạng ( )]; sáu mươi hai tà kiến được hổ trợ (D i 13tt) (và) một trăm lẻ tám tầm do tác động ái dục chi phối (Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 212); v.v… cũng như [7] vô số các pháp bất thiện, được coi là bất thiện hiểu theo nghĩa do thiếu tài khéo tạo nên, đi kèm với những đặc tính này - những điều ta đă diệt trừ, đă triệt phá đến tận gốc rễ bằng thánh đạo, không dư sót cộng chung với những cảm giác đi kèm theo. Trong khi đó ngay tại gốc cây bồ đề, đang khi ngài đă quán xét lại cùng những điều này bằng cách xem xét từng vấn đề một, tức là. “Đây cũng là một phiền năo ta đă từ bỏ; cả điều này nữa cũng là phiền năo ta đă từ bỏ.”[8] Và[9] vô số các pháp thiện (aneke ca kusale dhamme): đă ngồi thiền quán lại vô số pháp, bất nhiễm của ngài, là những pháp thiện và đă đạt đến hoàn thiện, phát triển đầy đủ, thông qua thành tựu (paribhāvanāya [10]) ba la mật và thông qua việc tu tập (bhāvanāya) thánh đạo trong một khoảng thời gian bất định, như là[11] giới, định, tuệ, giải thoát và tri kiến giải thoát; tứ niệm xứ (D iii 221); tứ chánh cần (D iii 221); tứ thần túc (D iii 221);tứ thánh đạo[12]; tứ thánh quả; tứ đạt thông (Vibh 293); trí liên kết với phân định bốn sanh thú[13]; bốn bậc thánh (Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 27; D iii 224); các trí liên kết với bốn vô sở úy (Trung Bộ Kinh (M) i 71tt); ngũ chánh tinh cần chi (D iii 237); ngũ chánh định chi[14] (D iii 277tt); năm trí chánh định[15](D iii 278); ngũ căn; ngũ lực (D ii 120); ngũ đại dẫn đến giải thoát (D iii 239 tt); các trí liên kết với năm cơ hội giải thoát (D iii 241tt); ngũ tuởng dẫn giải thoát đến trưởng thành (D iii 243); sáu đề mục tùy niệm (D iii 250); sáu loại kính lễ[16] (D iii 244); sáu đại dẫn đến giải thoát (D iii 247tt), sáu trú xứ liên tục (D iii 250); sáu điều không thể vượt qua[17] (D iii 250); sáu tầm[18] tham gia vào tu luyện quán triệt (D iii 251); sáu phép thần thông[19] sáu trí không thể chia xẻ với người khác[20] (J i 78); bảy nhân duyên bất thối (D ii 74 tt; Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 16tt) bảy thánh sản (D iii 251); thất giác chi (D iii 252tt); bảy pháp sappurisas (D iii 252) bảy căn suy thoái[21]. ( ); [336] bảy tầm (D iii 253); việc diễn giải về bảy hạng người đáng nhận của bố thí (D iii 253tt) diễn giải về thất lực nơi những người đă đoạn tận được hết các phiền năo trong tâm. (D iii 283t); diễn giải về tám nhân duyên đạt đến thiền tuệ[22] ( ); tám điều chánh trực (D iii 255); tám điều vượt quá các pháp hiệp thế[23] ( ) tám căn khởi sanh xuất hiện tinh tấn[24] (D iii 256); diễn giải về tám cơ hội không đúng lúc (occasions)[25] (D iii 287); tám tư duy của một đại nhân (D iii 287; Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 229); diễn giải về tám cơ hội xuất hiện trong đó việc khuất phục (D ii 110; D iii 260); tám giải thoát (D iii 261tt) chính pháp có căn nơi tác ư đúng đắn ( ); chín chi tinh tấn liên kết với các pháp thanh tịnh hoàn hảo (D iii 288); diễn giải về chín hữu t́nh cư. (D iii 263); chín điều diệt trừ oan trái. (D iii 262tt); chín tầm (D iii 289tt) chín hư tầm (D iii 289) chín thứ đệ trú (progressive bản trụ pháp tính) [26] (D iii 265); mười nhân duyên của vị tối thượng. (D iii 266tt); mười đề mục thiền kasiṇa ( D iii 268); mười thiện nghiệp đạo (D iii 269); mười chánh tánh[27] (Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 240); mười thánh cư (D iii 269); mười pháp vô học (D iii 271); Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 222); vị Như Lai Thập Lực (Trung Bộ Kinh (M) i 69tt) mười một lợi ích do từ tâm mang lại (Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 342); mười hai duyên khởi[28] ( ) mười ba hạnh đầu đà[29] ( ); mười bốn Phật trí (Bản văn X 9 v 5; chú giải Bv-a 185); mười lăm tầm đem giải thoát đến trưởng thành ( ) mười sáu loại niệm như thể thở ra hít vào (S v 311tt); mười sáu nhân duyên không dẫn đến việc tra tấn tha nhân[30] ( ) mười tám thiền minh sát[31] (DA 62= MA i 47= AA i 106); mười tám pháp đặc biệt đối với Chư Phật[32]; mười chín trí liên kết với quán xét lại[33] (Thanh Tịnh Đạo 676) bốn mươi bốn căn trí (S ii 56tt); năm mươi trí liên kết với sanh và diệt[34] (Pṭs i 54tt); Thanh Tịnh Đạo 629tt): hơn năm mươi[35] pháp thiện ( ) bảy mươi bảy căn trí (S ii 59tt) Đại Kim cương trí đă trải qua hai mươi tư trăm ngàn kotis thiền chứng[36] ( ); những trí liên kết với giáo lư của Anantanayasamantapaṭṭhāna về trạch pháp và quán xét[37] lại ( ) và cũng giống như những trí giải thích các xu hướng [38] v.v…của chúng sanh bất thiện trong cơi dục giới bất định ( ); v.v…- tạo nên những ân đức[39] đặc biệt nơi Chư Phật, khi họ đối mặt chú tâm nơi khoái cảm[40] vào nhóm này nhóm khác, nơi khối này khối khác, khi ngài có suy nghĩ: “Những pháp vô tội này cũng được t́m thấy nơi ta, những pháp vô tội này cũng xuất hiện nơi ta”[41] và ngài chỉ quán xét một cách chọn lựa những pháp này[42], mà không mang tính chất toàn diện[43], ta không thể tác ư đến toàn bộ các ân đức đặc biệt nơi Chư Phật không dư sót điều ǵ, từng điều một, ngay cả Đức Phật cũng không làm thế được v́ liên quan đến tính chất[44] bất định và vô thường nơi các pháp đó. Về điểm này người ta nói rằng[45]: “Ngay cả nếu như một Chư Phật phải tụng những lời khen ngợi về một Đức Phật, ngài chẳng công bố được điều ǵ khác trong cả một kappa[46], cho đến khi một khoảng thời gian dài đến như vậy tàn lụi đi, th́ lời khen ngợi vị Như lai cũng không thể cạn kiệt được.” [337] Điều này cũng được nói thêm như sau[47]:” A tăng kỳ là tên dành cho các vị đại hiền triết thông qua chính những ân đức đặc biệt của các ngài; bằng những ân đức đặc biệt này một tên có thể được gán cho các ngài cả hàng ngàn năm”[48] ( ). V́ vào thời điểm đó Đức Phật đă gia nhập thiền viện khi vừa mới quay trở lại sau công việc khất thực tiếp theo sau bữa ăn trưa, ngài đứng hướng về hương pḥng, và rồi, khi các vị Tỳ khưu đă đi theo sau Ngài, Ngài đă chỉ rơ nhiệm vụ cho họ, Ngài đă đi vào hương pḥng vĩ đại đó ngài ngồi trên nơi dành cho Chư Phật đă được sửa soạn cho Ngài, Ngài hướng trí của ḿnh về cơi tiền kiếp. Những cơi tiền kiếp này[49] tự xuất hiện liên tục trước Ngài, theo cách phân chia bất định và không vô lượng định, giống như một trận mưa cung tên không dứt. Thế rồi Ngài dùng trí tới giải thoát cơi các phiền năo cho biết rằng,“Thật vậy các phiền năo này đă tạo thành nhân duyên tạo ra khối đau khổ to lớn” quán xét lại từng điều một nhắm tới nguồn gốc từ bỏ, và rồi tiếp theo đó ngài quán xét lại thánh đạo đă đem lại việc từ bỏ này[50]cùng với những cách thức, những điều phụ thuộc và những điểm đặc biệt, nhận ra rằng: “Quả thật[51] các phiền năo này đối với ta đă bị đoạn tận hoàn toàn không dư sót bất kỳ điều ǵ,” chỉ tác ư đến chính các pháp vô tội của giới v.v… theo cách phân loại bất định và vô lượng[52], v́ lư do đó có lời nói rằng: “ và vào dịp đó, Đức Phật đă ngồi thiền quán xét lại vô số các pháp bất thiện, các pháp ác Ngài đă đoạn trừ và ngài cũng quán xét lại vô số các pháp thiện ngài đă đạt đến hoàn tất nhờ công việc tu luyện[53], và sau khi đă quán xét lại như vậy, ngài đă khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ niềm vui phỉ lạc. Về điểm này: Trước đó đă có (ahu pubbe): trước khi nổi lên trí liên kết với thánh đạo A-la-hán, toàn bộ nhóm phiền năo này[54], như dục lạc v.v…đă xuất hiện (ahu), tồn tại (āsi) nơi chính tương tục tính của ta; không những chỉ tồn tại một phiền năo trong nhóm các phiền năo đó (không thấy được bên trong nhóm đó). Không tồn tại (tadā’ āhu) : Thế rồi, vào sát na đó, lúc thánh đạo xuất hiện, nhóm các phiền năo đó vẫn chưa xuất hiện (na ahu), vẫn chưa hiện hữu (na āsi) vẫn chưa có mặt (’atthi) bất kỳ phiền năo nào ở đó cho dù chỉ là nhỏ nhặt vào sát na thánh đạo tột đỉnh, có thể nói là vẫn chưa được diệt trừ. Ta cũng có thể giải thích là tato ’āhu (sau đó vẫn chưa xuất hiện) có nghĩa là sau đó, tiếp theo sau[55] sát na thánh đạo A-la-hán đó, vẫn chưa hiện hữu (āsi). Trước đó vẫn không tồn tại (’āhu pubbe): và pháp vô tội vô tận này[56] của ta nữa; giờ đây đă được khám phá ra là đă đạt đến hoàn chỉnh nhờ vào những việc tu luyện, đă không c̣n (na ahu), đă không tồn tại (na asi) trước sát na thánh đạo. Thế rồi lại xuất hiện (tadā ahu): nhưng khi trí đó liên kết với thánh đạo tột đỉnh diễn ra, thế rồi toàn bộ pháp vô tội đó lại thuộc về ta; v́ cùng với chứng đắc thánh quả tột đỉnh, th́ toàn bộ những ân đức liên kết với trí toàn tri đều hội đủ trong Chư Phật. Và điều đó chưa hiện hữu, và sẽ không xuất hiện, và giờ đây ta vẫn chưa được biết đến (na ’āhu na ca bhavissati na ’etarahi vijjati): [338] hơn thế nữa chính pháp vô tội đó, tức là thánh đạo A-la-hán, đă nổi lên nơi Bồ đề đạo tràng (Bodhimaṇḍa), (và) nhờ đó mà toàn bộ các nhóm phiền năo đă bị đoạn tận hoàn toàn không dư sót bất kỳ điều ǵ, đă không hiện hữu (na ’āhu), không tồn tại (na ca ahosi), trước sát na thánh đạo, chính v́ thế thánh đạo này, giống như những phiền năo đó, lại không hiện hữu, không nổi lên, vào những thời điểm trong tương lai, do không c̣n bất kỳ phiền năo nào cần đến được diệt trừ nữa, (trong khi đó) không được biết tới, không được khám phá ra, bây giờ vào sát na hiện tại nữa, về việc ta chẳng cần phải thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào v́ thánh đạo chẳng diễn ra hơn một lần vào sát na đó. Chính v́ lư do đó có lời nói rằng, “Họ chẳng cần thực hiện cuộc hành tŕnh đến bến bờ bên kia đến hai lần đâu” (Sn 714[57] ) Chính v́ thế, vừa khi quán lại những pháp bất thiện ta đă đoạn tận, không dư sót bất kỳ điều ǵ, nơi chính tương tục tính của ngài thông qua thánh đạo và các pháp vô số kể, vô tội mà ta đă đạt đến hoàn thiện bằng việc tu luyện, Đức Phật đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này thể hiện ở niềm vui sướng to lớn liên quan đến chính ngài, nhờ vào nửa đoạn kệ[58] mà cặp bốn vô sở úy[59] ta đă đề cập đến, thế nên cặp[60] (bốn vô sở úy) sau mới được thể hiện liên quan đến thực chất là việc ngài tự đạt đến giác ngộ toàn diện của ngài đă được thể hiện. Việc diễn giải Kinh Phật thứ ba kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Danh sách sau đây có thể được so sánh với danh sách trong chú giải Ud-a 138tt ở trên (trong đó xin đọc chú thích), cũng tương tự như danh sách ta đă t́m thấy trong Thanh Tịnh Đạo 210, những điểm xuất hiện trong tập chú giải Ud-a 138tt nhưng lại bỏ qua ở đây được ghi trong ngoặc kép ( [ ] )trong khi đó những chi tiết xuất hiện ở đây song lại bị bỏ qua (trong bản dịch được chấp nhận) trong Ud-a 138tt đặt trước một dấu hoa thị (* asterisk) ta cũng nên lưu ư rằng, nhiều điểm đa dạng thường không xuất hiện theo thứ tự trong cùng một vị trí, những khác biệt khác được thảo luận trong từng chú thích riêng rẽ khác của từng cá nhân các vị chú giải. [2]. Thīnamiddha; chú giải Ce Be Se lại bỏ qua. [3]. Bản văn Ce ghi thêm từ mūla; Se ghi mala, Be bỏ qua cả hai, cũng như trong Ud-a 139 ở trên. [4]. Mala; ngài Woodward đă thêm vào trong ngoặc kép, nhưng Ce Be Se lại bỏ qua. [5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vipallāsa c̣n bản văn ghi là vipalāsa; Ud-a 139 ghi là vipariyesa, tính ngang bướng. [6]. Be giải thích là ganthāgatigamana (Se gaṇṭhāgatigamana) c̣n bản văn ghi là gadhitachandāgatigamana, Ce chandāgatigamana. [7]. Chú giải Ce Be Se giải thích là cā pi c̣n bản văn ghi là vā pi. [8]. Ayam pi me kileso pahīno; đây cũng được coi như là “điều này cũng vậy, là chính phiền năo ta đă từ bỏ” hay “đây cũng là những phiền năo của ta đă diệt trừ từ lâu”. [9]. Chú giải Ce Be Se và Ud giải thích là ca c̣n bản văn ghi là pi. [10]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích như vậy, c̣n bản văn ghi là paribhāvitāya; từ này cũng được sử dụng đối với việc ấp trứng ngồi yên cho đến khi trứng nở ra như trong Trung Bộ Kinh (M) i 104; S iii 153 v.v… [11]. Những ǵ diễn ra tiếp theo sau có thể được so sánh với một danh sách được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn trong chú giải It-a i 6 tt. [12]. Chú giải Ce Se bỏ qua. [13]. Sanh ra từ trứng, sanh ra từ ḷng mẹ, thấp sanh, và hoá sanh – xin đọc chú thích trong Ud-a 93 ở trên. [14] Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là pañcaṅgiko c̣n bản văn ghi là pañcagatiko; để biết thêm chi tiết xin đọc Vibh 334, Pṭs i 48 và Thag-a về Thag 916 (trích trong EV i 252) [15]. Được giải thích như trong Vibh 334. [16]. Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là gāravā c̣n bản văn ghi là jāgarā. [17]. Xin đọc chú giải Ud-a 159 ở trên. [18]. Chú giải Ce Se It-a D iii 251 DA 1038 giải thích saññā c̣n bản văn Be ghi là paññā có một số sai lầm, nếu xảy ra như vậy, rất có thể khởi sanh do sai lầm đó xuất hiện trong chú giải Phật Tự Thuyết Kệ Ud-a 234 ở trên, c̣n về thành ngữ nibbedhabhāgiyā xin đọc trong phần giải thích về paññāya nibbedhikāya trong Ud 36, tuy nhiên cách giải thích này rơ ràng đă tách biệt khỏi những tưởng thấy xuất hiện trong Ud-a 221 [19]. Xin đọc chú giải Ud-a 161 ở trên. [20]. Xin đọc chú giải MQ ii 9 n 6. [21]. Mười điều như vậy đă được liệt kê trong D iii 291 và Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 215. [22]. Xin đọc chú giải S v 411 liên quan đến bốn nguyên nhân; Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 45. [23]. Chú giải Be giải thích là aṭṭhalokadhammātikkamā c̣n bản văn Ce Se ghi là aṭṭhalokadhammātikkamo; xin đọc chú giải D iii 260 về tám pháp thế gian. [24]. Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là ārambhavatthūni c̣n bản văn ghi là sārambhavatthūni. [25]. Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là aṭṭha akkhaṇadesanā c̣n bản văn th́ ghi là aṭṭhakkhaṇadesanā. [26]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anupubbavihārā c̣n bản văn It-a ghi là anupubbavihāradesanā. [27]. Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là dasasammattāni; bản văn lại bỏ qua. [28]. Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là cakkākārā c̣n bản văn ghi là paccayatā; h́nh như đây là cách tượng trưng với h́nh ảnh về y tương sinh có nghĩa là ngay phần bên ngoài bờ mép bánh xe. [29]. Guṇā; hay là những ân đức đặc bịêt, các giới đức v.v… về các hạnh đầu đà xin đọc Ud-a 161 ở trên. [30]. Chú giải Ce Be Se giải thích là soḷasa aparantapanīyā dhammā (It-a vl) c̣n bản văn ghi là soḷassa amatapariyāyadhammā. [31]. Xin đọc chú giải Ud-a 129 ở trên. [32]. Buddhadhammā; được nói tới, nhưng không được nghiên cứu kỹ càng, trong chú giải Miln 105, 216, 285, những pháp này thường được coi như có ư nghĩa tương đương với từ āveṇika buddhadharmas trong Ud-a 87 ở trên. [33]. Xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 69 xin lưu ư là Kinh Phật này mở ra cho Đức Phật quán xét lại về các phiền năo một cách tương tự như vậy mà ngài đă diệt trừ. [34]. Xin đọc chú giải Ud-a 240 ở trên. [35]. Paropaññāsa; h́nh như là một con số nằm giữa con số năm mươi và bảy mươi bảy, tuy nhiên phạm trù này vẫn không được làm rơ. [36]. Be It-a giải thích là osamāpattisañcārimahāvajirañāṇaṃ c̣n bản văn ghi là osamāpattipaññāmahāvajirañāṇāni, chú giải Ce Se giải thích là osamāpattimahāvajirañāṇāni. Trong chú giải It-a i 145 trí này được định nghĩa như sau: Ye Bhagavato devasikaṃ valañjanakavasena catuvīsatikoṭisatasahassasaṅkhā samāpattivihārā / yesaṃ pure carāṇābhāvena pavattaṃ samādhicariyañāṇacariyānugataṃ ñāṇam catuvīsatikoṭisatasahassasamāpattisañcārimahāvajira ñāṇan ti vuccati (trí xuất hiện tiếp theo sau việc thực hiện thiền định và tu luyện trí – trí đó diễn ra là do trong quá khứ không có bất kỳ việc luyện tập nào (pure caraṇābhāvena – ư nghĩa này không rơ ràng) nơi những ai trú nơi thiền chứng, lên đến hai mươi tư trăm ngàn kotis, hiện tại hàng ngày Đức Phật vẫn thường tận dụng, ta gọi đó là “đại trí kim cương” đă trải qua hai mươi tư trăm ngàn kotis thiền chứng”)việc tu luyện thiền định và tu luyện trí” được định nghĩa trong Pṭs ii 19 chính là bốn thiền jhanas và tứ thánh đế, xin cũng đọc chú giải Ud-a 405 dưới đây về việc tu luyện các thiền chứng này. [37]. Chú giải Be It-a giải thích là pavicaya c̣n bản văn Ce Se ghi là visaya; chú giải Ud-a 133 trong đó nói về việc trạch pháp và quán xét là hai việc mà Bồ tát đă thực hiện như là thành quả lời đại nguyện của ngài. Anantanayasamantapaṭṭhāna là tên gọi khác để gọi tập Paṭṭhāna, là cuốn thứ bảy trong Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhammapiṭaka) – xin đọc Ud-a 52 ở trên. [38]. Xin đọc Ud-a 207 ở trên. [39]. Theo chú giải Bv-a 117, là ba la mật; cũng xin đọc chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 121, nhưng h́nh như điều này MR&I 131 đă bỏ qua. [40]. Chú giải Ce Be Se giải thích là rucivasena c̣n bản văn ghi là rucitavasena. [41]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ime pi anavajjadhammā mayi saṃvijjanti, ime pi anavajjadhammā mayi saṃvijjanti c̣n bản văn ghi là ime hi pi anavajjadhamme saṃvijjanti. [42]. Chú giải Ce Be Se giải thích là te ca c̣n bản văn ghi tañ ca. [43]. Xin đọc chú giải Ud-a 285 ở trên. [44]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anantāparimeyyabhāvato c̣n bản văn ghi là taṃ anantaparimeyyabhāvato. [45]. Cũng được trích trong DA 288; không trích từ DA, theo như ngài Woodward đề nghị. Xin đọc Ud-a 415 dưới đây. [46]. Chú giải Sv-Pṭ i 415 chỉ ra cho thấy lời tuyên bố này chỉ mang tính giả thuyết, cho rằng không có bất kỳ ai đă thực hiện như vậy cả. [47]. Cũng được t́m thấy trong Asl 391 và Sv-Pṭ i 85, 522. [48]. Chú giải Be Asl giải thích là nāmam uddheyyaṃ api nāma sahassato (chú giải Sv-Pṭ giải thích là nāmam uddheyyaṃ api nāmasahassato) c̣n bản văn Ce Se ghi là nāmaṃ uddhareyya api nāmaṃ; xin đọc chú giải Asl 391, trong đó cùng một đoạn kệ đă tái xuất hiện và trong đó lại có tên một người để phù hợp với những dạng ân đức của ngài tạo thành một trong bốn nguyên nhân trong việc đặt tên cho một người. [49]. Chú giải Se giải thích là tā c̣n bản văn Ce Be ghi là tāni. [50]. Ce Be Se giải thích là pahānakaraṃ c̣n bản văn ghi là pahānākāraṃ. [51]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vata c̣n bản văn ghi là ‘va. [52]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anantāparimāṇabhede c̣n bản văn ghi là anantaparimāṇabhede. [53]. Chú giải Se giải thích là bhāvanāya pāripūriṃ gate (Be bhāvanāpāripūriṃ gate) c̣n bản văn ghi là bhāvanā pāripūriṃ kate, Ce bhāvanāya pāripūrīkate; xin đọc Ud. Đây chính là cách giải thích đúng h́nh như được áp dụng trong tập chú giải ở trên, trong đó chúng ta giải thích là paribhāvanāya maggabhāvanāya ca pāripūriṃ vuddhiṃ gate. [54]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ’ āyaṃ; c̣n bản văn lại bỏ qua. [55]. Ce Be Se giải thích là paraṃ c̣n bản văn ghi là pana. [56]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anavajjadhammo c̣n bản văn ghi là anavajjadhamme. [57]. Chú giải DA 744. MA i 230 và GD ii 285 đề cập đến đoạn kệ này; cũng như trong bản dịch Phật Bản Hạnh iii 388 n.1. [58]. Chú giải Be giải thích là kathāya, qua câu chuyện tiền kiếp, c̣n bản văn Ce Se ghi là gāthāya. [59]. Chú giải Ce Be Se giải thích là purimavesārajjadvayaṃ c̣n bản văn ghi là purimavesārajjañ ’ āyaṃ. Bốn vô sở úy có thể tóm tắt thành vô sở úy của Đức Phật vào chính việc (1) giác ngộ của ngài; (2) việc ngài là một chúng sanh mà trong ngài mọi phiền năo đă bị đoạn tận hết; (3) trong ngài chẳng c̣n điều ǵ chướng ngại; và (4) thực chất là giáo pháp ngài diễn giảng dẫn đến đoạn tận được đau khổ – chú giải Trung Bộ Kinh (M) i 71tt. [60]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pacchimadvayaṃ c̣n bản văn ghi là pacchimañ ’ āyaṃ |
|