|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
6. NHỮNG QUAN ĐIỂM (3) Trong Kinh Phật thứ sáu: tất cả đều tương tự như những ǵ đă được khẳng định ở trên. Tập Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): tuy nhiên, về vấn đề này, ta cần phân tích ư nghĩa là chính Đức Phật đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này để làm rơ tiến tŕnh vượt khỏi ṿng luân hồi, và sự thất bại khi ta bắt đầu vượt qua ṿng luân hồi đó, tương ứng với những người nào cho rằng các hành thực sự hiện hữu sau khi đă tránh xa khỏi vừa khi nhận ra sai phạm nơi tà kiến. Ái dục và ngă mạn, và về phía người nào không cho rằng các hành thực tế tồn tại lại gắn kết với điều sai trái liên quan đến mối nguy hiểm tiềm tàng trong đó không được ngài làm rơ. [346] Về điểm này: Sanh loại này, nhất quyết cho rằng, “Ta chính là tạo hóa”(ahaṅkārapasutāyaṃ pajā): sanh loại này, nhóm người này đă gắn kết với điều sai trái, đă nhất quyết, đă công bố, “Ta chính là tạo hóa” được cho là quan điểm (liên quan đến khái niệm) “ngă là tạo hóa” như đă đề cập đến như vậy, tức là. “Ngă và thế gian tự tạo thành”, (có nghĩa là, nhất quyết) với quan điểm được tiến hành theo cách đó. Gắn kết với quan điểm “tha nhân là tạo hoá” (paraṃkārūpasaṃhitā): họ“gắn kết với” quan điểm “tha nhân là tạo hoá” v́ họ hoàn toàn dựa trên quan niệm “tha nhân là tạo hoá” được tiến triển như thế đó, tức là “người nào khác, một số người nào đó như Isvara chẳng hạn, đă sáng tạo ra đủ mọi thứ.”, (ư muốn nói ở đây là) gắn chặt với[1] quan điểm đó. Một số quan điểm không hoàn toàn được công nhận (etad eke ’ ābbhaññiṃsu [2]”. cặp quan điểm này một số vị sa môn bà la môn, là những người đă nhận ra sai lầm đó lại không đồng ư. Bằng cách nào vậy? Đối với trường hợp chủ trương “ngă là tạo hoá” th́ tự động[3] chỉ dành cho chúng sanh tạo ra những ǵ họ ưa thích, c̣n những ǵ họ không ưa thích th́ họ chẳng hề muốn tạo ra, v́ chẳng ai lại muốn tạo ra đau khổ cho chính ḿnh cả. Ấy vậy luôn luôn xuất hiện những điều không được ưa thích chút nào, thế nên không hề có trường hợp lấy “ngă làm tạo hóa.” Hơn thế nữa, nếu giả dụ như “tha nhân làm tạo hoá[4]” có liên quan đến một Isvara[5] làm nhân duyên th́ cùng một Isvara đó lại có thể hành động v́ lợi ích cho chính ḿnh và v́ lợi ích của người khác, trong trường hợp người đó nhằm đem lại lợi ích cho chính ḿnh[6] th́ người đó chẳng dư sót bất kỳ nhiệm vụ nào, do thực tế là người đó có thể diệt trừ bất kỳ điều ǵ là tuyệt vời[7]; hay nói cách khác nếu v́ lợi ích của người khác th́ chỉ một ḿnh hạnh phúc và sung sướng có thể là kết quả cho hết mọi người hơn là thiểu hạnh phúc và đau khổ là kết quả đem lại. Chính v́ thế (khái niệm lấy) “tha nhân làm tạo hóa” dưới dạng một Isvara nào đó không[8] được chứng đắc[9], và nếu như chỉ có một nhân duyên[10] thường xuyên, và diệt trừ hết mọi nguyên nhân khác được coi như là một nhân vật Isvara, th́ điều này diễn ra sẽ chẳng có thể nổi lên bất kỳ một nghiệp chướng nào cả, v́ toàn bộ[11] đều có khuynh hướng diễn ra chung với nhau do đặc tính tương tục tính của nhân duyên mà ra.[12] Đang khi đó ta cũng cần có một số hỗ trợ tương tác với nhau, thế nên điều đó cũng chính là nguyên nhân[13] vậy; chính v́ thế điểm nào ta yêu cầu một nhân vật Isvarra là có khả năng kém hơn là nhân vật toàn hảo chăng? và chính v́ khái niệm “tha nhân làm tạo hóa” lại liên quan đến một Isvarra làm nhân duyên không được chứng đắc chính v́ thế cũng tương tự[14] như vậy điều này cũng không được chứng đắc liên quan đến Prajāpati, Puruṣa. Prakṛti. Brahmā hay Time v.v… làm nhân duyên[15], do thực chất là rất có thể họ sẽ bỏ qua những điều tột đỉnh nữa và do có liên quan đến thất bại không thể vượt qua những thiếu xót đă đề cập đến ở trên. Chính v́ lư do đó có lời nói rằng,“một nhân vật này đă không được công nhận hoàn toàn,” hơn thế nữa, những người nào, cho dù không đồng ư với những quan niệm nói trên là lấy “ngă làm tạo hóa” và lấy “tha nhân làm tạo hóa”, (tuy nhiên) lại công bố rằng ngă và thế gian khởi sanh một cách ngẫu nhiên, th́ cũng không nhận ra điều đó giống như một mũi tên – những người nào tự nhận theo học thuyết (ngă và thế gian) khởi sanh một cách t́nh cờ, đang khi không biết[16] rơ thực chất vạn vật liên quan đến việc thất bại đang khi vượt qua[17] những gắn kết với những sai lầm đó, cũng không cho là quan điểm được liên tới, là một mũi tên hiểu theo nghĩa xuyên qua[18] do nó khiến nơi này nơi khác khởi sanh đau khổ. Đối với những ai trước đó đă coi là mũi tên (etañ ca sallaṃ paṭigacca [19]passato): [347] ngược lại người nào[20] đă[21] bắt đầu thiền minh sát và nhận ra được ngũ thủ uẩn upādāna là vô thường, khổ và vô ngă, cũng đă nhập thiền trước đó rất sớm lại c̣n đem tuệ vào thiền minh sát, ba quan điểm[22] trên được viện tới và toàn bộ việc gắn kết với những ǵ là sai quấy cũng như ngũ thủ uẩn upādāna dưới dạng hỗ trợ cho những điểm này, trở thành mũi tên do có liên quan đến khó khăn trong việc rút lui; v́ người nào chủ trương “ta tác thành”, th́ ngay vào sát na thánh đạo, tuyệt đối không dành cho người đó, và chính v́ người đó đă trở thành tạo hóa cho chính ḿnh lại không hiện hữu chính ḿnh với ḿnh, chính v́ thế quan niệm “tha nhân tác thành” không dành cho người đó; hơn thế nữa toàn bộ vấn đề được coi như là vô thường, duy nhất chỉ người nào có bản chất y tương sinh. Như vậy ta không thấy xuất hiện trong từng trường hợp một tà kiến và ngă mạn về phía người nào làm rơ được thánh nghiệp, và theo cách này[23] ta thấy xuất hiện một cách vượt qua toàn hảo khỏi ṿng luân hồi khi ta vừa đạt đến bậc A-la-hán; tiếp theo sau đó ngài thốt ra đoạn kệ bắt đầu như sau “được thành tựu đầy đủ tính ngă mạn” để làm rơ thực chất là bất kỳ người nào gắn bó với tà kiến được đạt đến th́ không thể nào có thể ngước đầu ra khỏi ṿng luân hồi được. Về điểm này: Sanh loại này được thành tựu với kiêu mạn (’upetā ayaṃ pajā): được thành tựu, được đầy đủ, kiêu mạn, tự măn, mang tính chất[24] suy đoán liên quan đến những tư tầm được h́nh thành trước đó như “quan điểm của ta tuyệt vời nhất”; luận thuyết của ta tuyệt vời nhất”, chính sanh loại này, nhóm (bộ phận) chúng sanh này, được coi như là toàn bộ những người đạt đến tà kiến, gắn kết với ngă mạn, bị kiêu mạn trói buộc lại (mānaganthā mānavinibaddhā): chỉ có điều này, liên kết với ngă mạn đó diễn ra liên tục. (sanh loại này) bị trói buộc bằng ngă mạn, do thực chất là liên tục tính của họ luôn bị kết chặt[25] lại và trói buộc theo kiểu họ không thể từ bỏ quan điểm đó được. V́ do cuộc căi vă mang tính lư luận liên quan đến quan điểm, thế nên sanh loại này không thể vượt khỏi ṿng luân hồi. (diṭṭhīsu sārambhakathā saṃsāraṃ ’ ātivattati): do cuộc tṛ chuyện mang tính tranh luận, là câu chuyện mang tính gây cấn, trong đó có liên quan đến quan điểm của người khác do việc gắn chặt với chính quan điểm của ḿnh bằng cách tự tâng bốc ḿnh và làm mất uy tín người khác[26] (nhấn mạnh rằng) chỉ có điều này là đúng đắn nhất, toàn bộ những ǵ c̣n lại đều phù phiếm cả, do việc đoạn tận vô minh và ái dục dẫn đến ṿng luân hồi[27] đă bị triệt hạ thế nên không thể thoát ra khỏi ṿng luân hồi được. Ư muốn nói ở đây là sanh loại này sẽ không thể vượt khỏi ṿng luân hồi đó. Việc diễn giải Kinh Phật thứ sáu kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tāya c̣n bản văn lại ghi là tad. [2]. Bản văn đă ghi sai là ’ābhaññiṃsu. [3]. Kāmakārato; không thấy liệt kê trong PED ư nghĩa này, nhưng chú giải SED sv kāmakārataṣ. [4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là paraṃkāro c̣n bản văn ghi là paraṅkāre. [5]. Be Se giải thích là issarahetuko c̣n bản văn Ce ghi là issarahetukā; issarahetuka lại không thấy liệt kê trong PED hay CPD. [6]. Chú giải Be Se giải thích là attatthaṃ c̣n bản văn Ce ghi là attatthāya. [7]. Chú giải Be Se giải thích là asiddhassa sādhanato c̣n bản văn Ce ghi là aladdhassa sādhanato. [8]. Chú giải Ce Be Se giải thích là na; c̣n bản văn lại bỏ qua. [9]. Ư nghĩa sijjhati này không thấy liệt kê trong tự điển PED. [10]. Chú giải Be giải thích là niccam ekakāraṇaṃ c̣n bản văn Ce Se ghi là niccam eva kāraṇaṃ. [11]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ’ eva c̣n bản văn ghi là sabbe ’ eva. [12]. Kāraṇsannihitattā; Chú giải Ce Be giải thích là kāraṇassa sannihitattā. [13]. Chú giải Ce Be Se giải thích là hetu c̣n bản văn ghi là hotu. [14]. Chú giải Ce Be Se giải thích là eva; c̣n bản văn lại bỏ qua. [15]. Ce Be Se giải thích là ohetuto c̣n bản văn ghi là ohetuko. [16]. Chú giải Ce Be giải thích là ajānantānaṃ diṭṭhigataṃ c̣n bản văn Se ghi là ajānantānaṃ diṭṭhigataṃ, nhưng diṭṭhigataṃ ở đây hầu như chắc chắn là một lời chú thích về naṃ trong đoạn kệ này. [17]. Chú giải Be Se giải thích là anatikkamanato c̣n bản văn ghi là anatikkamantā, chú giải Ce giải thích là anatikkamanto. [18]. Vijjhana; hay là đánh đập, bắn, v.v…động tự này cũng được sử dụng trong văn cảnh bắn cung tên. [19]. Chú giải Ce Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn Be ghi là paṭikacca; xin đọc EV i 209 về Thag 547 (trong đó tham khảo về “phụ chú I, tr. 266” không nên nghi ngờ ǵ về giải thích “phụ chú I. tr. 226”) [20]. Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy; bản văn lại bỏ qua. [21]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yo c̣n bản văn lại ghi là so. [22]. Đây là quan điểm cho rằng hạnh phúc, đau khổ, bản ngă và thế gian (i) không tự tạo thành (ii) không phải tự tạo thành, mà (iii) khởi sanh ngẫu nhiên. [23]. Be Se giải thích là tena ca c̣n bản văn Ce ghi là ’ eva. [24]. Ce Be Se giải thích là sampaggahao c̣n bản văn ghi là sampaggāhao . [25]. Bản văn chèn thêm vinivaṭṭattā; chú giải Ce Be Se lại bỏ qua. [26]. Xin đọc chú giải Ud-a 286 ở trên trong đó phong cách diễn giải Phật Pháp của Đức Phật là đối nghịch lại. [27]. Chú giải Ce Be Se giải thích là saṃsāranāyikānaṃ c̣n bản văn ghi là saṃsārasannissitānaṃ. |
|